Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng đến hiệu suất xử lý 2,4-D, 4,5-T trong dung dịch sau rửa giải đất nhiễm da cam/dioxin bằng FE⁰ NANO

Nghiên cứu khoa học công nghệ  
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU SUẤT  
XỬ LÝ 2,4-D, 4,5-T TRONG DUNG DỊCH SAU RỬA GIẢI ĐẤT  
NHIỄM DA CAM/DIOXIN BẰNG Fe0 NANO  
Đinh Ngọc Tấn1, Nguyễn Văn Tài1*, Nguyễn Khánh Hưng1, Nguyễn Ngọc Tiến1,  
Chu Thanh Phong1, Nguyễn Thanh Hải2  
Tóm tắt: Phương pháp rửa giải đất nhiễm bằng dung dịch chất hoạt động bề  
mặt có hiệu quả cao để loại bỏ các hợp chất da cam/dioxin nhiễm trong đất, tuy  
nhiên, nhược điểm của phương pháp này là cần quá trình tái xử lý đối với bùn và  
dịch thải sau quá trình xử lý ban đầu. Bài báo này giới thiệu kết quả nghiên cứu xử  
lý trực tiếp dung dịch sau khi rửa giải đất nhiễm da cam/dioxin bằng tác nhân Fe0  
nano. Kết quả nghiên cứu cho thấy khả năng xử lý các thành phần ô nhiễm là tương  
đối tốt, hiệu quả phân hủy một số hợp chất đặc trưng trong dung dịch sau rửa giải  
đất nhiễm da cam/dioxin như 2,4-D đạt trên 68%; với 2,4,5-T đạt trên 57% sau 240  
phút phản ứng. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy pH thích hợp cho quá trình phân  
hủy dao động trong khoảng giá trị 2 đến 3.  
Từ khóa: 2,4-D; 2,4,5-T; Da cam/dioxin; Fe0 nano.  
1. MỞ ĐẦU  
Theo những báo cáo gần đây của Hội nạn nhân chất độc màu da cam Việt Nam,  
trong chiến tranh quân đội Mỹ đã phun rải ít nhất 80 triệu lít các chất diệt cỏ, trong  
đó có khoảng 45 triệu lít các chất da cam xuống hầu hết các tỉnh ở miền Nam Việt  
Nam. Theo ước tính của các nhà khoa học, với số lượng các chất diệt cỏ như vậy,  
lượng dioxin chiếm ít nhất khoảng 366 kg [2]. Ở Việt Nam hiện nay vẫn tồn tại các  
“điểm nóng” đất và trầm tích bị nhiễm một số loại chất độc hóa học từ nguồn ban  
đầu là 20 chất diệt cỏ khác nhau do Mỹ sử dụng trong chiến tranh. Kết quả điều tra  
của nhiều cơ quan khoa học của Việt Nam và nước ngoài cho thấy trong đất của  
sân bay Đà Nẵng và Biên Hòa độ tồn lưu của PCDDs, PCDDFs, 2,4-D và 2,4,5-T  
vẫn còn cao. Trong nhiều mẫu đất, tổng độ độc của 2,3,7,8-TCDD > 99% tất cả độ  
độc của PCDDs và PCDFs. Đặc biệt là hàm lượng 2,4,5-T và 2,4-D rất lớn, lên tới  
vài trăm nghìn đến vài triệu µg/kg đất [2]. Do đó, nhu cầu khôi phục, bảo vệ môi  
trường khỏi ô nhiễm da cam/dioxin đối với nước ta là rất bức thiết. Để thực hiện  
điều đó, việc tìm ra một giải pháp công nghệ phù hợp cả về kỹ thuật và kinh tế trong  
điều kiện nước ta đang là mục tiêu được đặt lên hàng đầu. Hiện nay, trên thế giới đã  
nghiên cứu phát triển một số phương pháp để xử lý đất nhiễm da cam/dioxin. Tuy  
nhiên, trong điều kiện của nước ta thì các giải pháp công nghệ này còn thể hiện một  
số nhược điểm như: chủ yếu hướng tới đối tượng nhiễm là đất, giá thành cao, quá  
trình xử lý phức tạp, xử lý không hoàn toàn.  
Thời gian gần đây, các nhà khoa học trong và ngoài nước đang tiến hành nghiên  
cứu tính khả thi của một số phương pháp không sử dụng nhiệt để xử lý đất nhiễm  
dacam/dioxin như: phương pháp sinh học, phương pháp hóa học, quang hóa, rửa  
giải... Trong các phương pháp trên, phương pháp rửa giải đã, đang được các nhà  
khoa học trong nước nghiên cứu và bước đầu cho thấy tính khả thi [3,4]. Tuy  
nhiên, nhược điểm của phương pháp này là cần quá trình tái xử lý đối với bùn và  
dịch thải sau quá trình xử lý ban đầu. Tùy vào mức độ ô nhiễm mà lượng bùn và  
157  
Tạp chí Nghiên cứu KH&CN quân sự, Số 47, 02 - 2017  
Hóa học & Kỹ thuật môi trường  
dịch thải có thể được xử lý bằng các phương pháp khác nhau như: phương pháp  
hấp thụ, hấp phụ, phương pháp sinh học, phương pháp hóa học... Trong đó,  
phương pháp hóa học dựa trên phản ứng oxy hóa khử của tác nhân Feo-nano, Feo-  
nano/UV là một giải pháp có tính khả thi cao nhờ sự kết hợp của phản ứng declo  
hóa khi chưa có tác nhân UV và phản ứng Fenton - UV khi thêm tác nhân UV,  
đồng thời phản ứng được thúc đẩy nhờ kích thước nano của sắt hóa trị 0 [5, 7, 10,  
11]. Bài viết này nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả xử lý 2,4-D;  
2,4,5-T trong dung dịch sau rửa giải đất nhiễm dacam/dioxin bằng Fe0 nano.  
2. PHẦN THỰC NGHIỆM  
2.1. Hoá chất, thiết bị  
2.1.1. Hóa chất thí nghiệm:  
- Fe0 nano: 90%  
- Chuẩn 2,4-D, 2,4,5-T(Merck): 98%  
- Chuẩn DCP, TCP(Merck): 98%  
- FeSO4.7H2O, loại có độ sạch phân tích (Merck).  
- Các hóa chất khác: Na2SO4, axit photphoric, diclometan, acetonitrile,  
dietyl ete,… là các hóa chất hãng Merck, độ tinh khiết phân tích (PA).  
2.1.2. Thiết bị thí nghiệm  
- Máy sắc ký lỏng hiệu năng cao HP 1100 sử dụng detector chuỗi (DAD).  
- Máy đo pH: OAKLON, serie 510 (Mỹ) có độ chính xác ±0,01.  
- Cân điện tử Toledo, độ chính xác 10-4gam (Thụy Sỹ)  
- Các thiết bị thí nghiệm thông dụng khác: máy sấy, máy cất quay, pipet  
bán tự động, bình định mức, ống nghiệm chịu nhiệt...  
2.2. Phương pháp tạo mẫu phản ứng  
Sau khi nghiên cứu lựa chọn được hệ dung dịch rửa giải đất nhiễm các chất  
dacam/dioxin, nhóm nghiên cứu tiến hành rửa giải khối lượng lớn mẫu đất Đ05  
(lấy tại sân bay Biên Hòa-Đồng Nai) để thu gom lượng dung dịch sau rửa giải phục  
vụ quá trình nghiên cứu tiếp theo. Hệ dung dịch rửa giải đất nhiễm dacam/dioxin  
trong nghiên cứu này có các thông số cụ thể như sau:  
- Dung dịch chất hoạt động bề mặt (HĐBM):  
+ Chất HĐBM: NP9; Nồng độ: 0,5CMC.  
+ Chất tăng cường: NaHCO3 ; Nồng độ: 0,5%  
+ Thể tích: 10 lít  
- Tốc độ khuấy: 150 vòng/phút; Chất keo tụ: A101, nồng độ: 1%  
- Khối lượng đất nhiễm: 1kg; Thời gian tiến hành rửa giải: khoảng 4 giờ.  
Sau quá trình rửa giải, chất ô nhiễm dacam/dioxin được phân tán trong dung  
dịch chất HĐBM, đồng thời tách được cát to, cát nhỏ và cát tinh sạch ra khỏi hỗn  
hợp đất ban đầu. Nhóm nghiên cứu tiến hành sử dụng mẫu dung dịch thải từ quá  
trình rửa giải đã tối ưu hóa. Dung dịch này được phân tích trên thiết bị HPLC tại  
phòng thí nghiệm Vilas 319 của Trung tâm Công nghệ xử lý môi trường có chứa  
các thành phần chất ô nhiễm như bảng 1:  
Đ. N. Tấn, N. V. Tài, …, “Nghiên cứu một số yếu tố… da cam/dioxin bằng Fe0 nano.”  
158  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
Bảng 1. Thành phần và nồng độ chất ô nhiễm trong mẫu dung dịch sau rửa giải.  
TT  
1
Tên chất ô nhiễm  
2,4-D  
Hàm lượng (mg/l)  
12,73  
Nồng độ (mM)  
0,0576  
2
2,4,5-T  
14,714  
0,0577  
3
2,4-DCP  
0,304  
0,0019  
4
2,4,5-TCP  
0,167  
0,0008  
Tiến hành phản ứng oxy hóa-khử ở quy mô phòng thí nghiệm:  
Sơ đồ thí nghiệm như sau:  
Hệ thiết bị này gồm bình thủy tinh (1) có dung tích 1 lít dùng để chứa dung dịch  
phản ứng, được để hở để bão hòa oxi không khí. Dung dịch phản ứng được khuấy  
liên tục trong quá trình thí nghiệm bằng máy khuấy từ 300 vòng/phút (2) và tuần  
hoàn nhờ máy bơm định lượng (3) tốc độ 750ml/phút. Bơm định lượng (3) được  
kết nối giữa bình chứa dung dịch và buồng phản ứng quang (4) để tuần hoàn dung  
dịch. Buồng phản ứng quang (4) gồm 1 đèn UV công suất 15W bước sóng 254 nm  
nằm giữa cột phản ứng phân cách bằng ống thạch anh bao quanh đèn, chiều dày  
lớp chất lỏng là 10cm.  
Trình tự cho các dung dịch như sau: cho dung dịch chất HĐBM sau rửa giải,  
cho tiếp tác nhân oxi hóa-khử và bật máy khuấy từ, sau đó, bật đèn UV (4) (chỉ bật  
đèn UV khi thực hiện phản ứng với sắt 0 nano kết hợp UV), bật máy bơm định  
lượng (3) để tuần hoàn hỗn hợp dung dịch.  
Sau từng khoảng thời gian nhất định sẽ lấy mẫu đưa đi phân tích bằng phương  
pháp HPLC để xác định hiệu suất phân hủy 2,4-D; 2,4,5-T.  
Tính toán hiệu suất xử lý chất 2,4-D; 2,4,5-T: Hxl (%) = (C0 - Cs).100/C0  
Trong đó: Hxl - Hiệu suất xử lý.  
C0- Nồng độ chất ô nhiễm trong dung dịch chất HĐBM trước xử lý.  
Cs- Nồng độ chất ô nhiễm trong dung dịch chất HĐBM sau xử lý.  
2.3. Phương pháp phân tích  
Để phân tích định tính, định lượng 2,4-D, 2,4,5-T trong dung dịch thử nghiệm sử  
dụng thiết bị sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC) Agilent 1100 (Mỹ) với detectơ  
chuỗi (DAD). Điều kiện đo: cột sắc ký Hypersil C18 (200x4mm), tỷ lệ pha động  
axetonitril/metanol = 90/10 (theo thể tích), tốc độ dòng: 1ml/phút, áp suất: 110bar,  
tín hiệu đo của 2,4-D, 2,4,5-T ở bước sóng: 210 nm. Hàm lượng 2,4-D, 2,4,5-T  
được xác định theo phương pháp ngoại chuẩn.  
159  
Tạp chí Nghiên cứu KH&CN quân sự, Số 47, 02 - 2017  
Hóa học & Kỹ thuật môi trường  
Nồng độ 2,4-D, 2,4,5-T được xác định theo phương trình:  
aV  
X d  
X
ACN  
o
d H O vH  
2
Trong đó:  
X là nồng độ 2,4-D, 2,4,5-T trong dung dịch được tính bằng ppm.  
Xo là nồng độ 2,4-D; 2,4,5-T được xác định bằng đường chuẩn, tính bằng ppm.  
V là thể tích mẫu dùng để phân tích, tính bằng ml (thường là 1 ml).  
a là hệ số pha loãng mẫu dùng để phân tích  
v là thể tích mẫu thử, tính bằng mililit (ml).  
dACN là khối lượng riêng của axetonitril được xác định bằng 789 mg/ml.  
là khối lượng riêng của nước được xác định bằng 1.000 mg/ml.  
d
H 2  
O
H là hiệu suất thu hồi bằng 0,8.  
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN  
3.1. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ Fe0 nano đến hiệu suất xử lý  
2,4-D; 2,4,5-T trong dung dịch sau rửa giải đất nhiễm dacam/dioxin  
Qua quá trình nghiên cứu tài liệu và tham khảo các công trình đã công bố trong  
nước và quốc tế, nhóm nghiên cứu tiến hành phản ứng ở điều kiện ban đầu: dung  
dịch rửa giải dacam/dioxin có nồng độ 2,4-D là 0,0576mM; 2,4,5-T là 0,0577mM;  
điều chỉnh pH = 3; thời gian khảo sát 240 phút; nồng độ Fe0 nano thay đổi là  
10mg/l; 30mg/l; 50mg/l và 80mg/l.  
Kết quả thí nghiệm được thể hiện trên bảng 2; 3 và hình 1; 2  
Bảng 2. Ảnh hưởng của nồng độ Fe0 nano đến hiệu suất phân hủy 2,4-D.  
Ảnh hưởng của Fe0 nano đến hiệu suất phân hủy 2,4-D (pH=3)  
Thời gian  
phản ứng  
(ph)  
Fe=10mg/l  
C(mM) H(%) C(mM) H(%) C(mM) H(%) C(mM) H(%)  
0,0576 0,00 0,0576 0,00 0,0576 0,00 0,0576 0,00  
Fe=30mg/l  
Fe=50mg/l  
Fe=80mg/l  
0
60  
0,0454 21,18 0,0405 29,69 0,0338 41,32 0,0359 37,67  
0,0406 29,51 0,0314 45,49 0,0274 52,43 0,0261 54,69  
0,0337 41,49 0,0246 57,29 0,0203 64,76 0,0194 66,32  
0,0314 45,49 0,0238 58,68 0,0181 68,58 0,0179 68,92  
120  
180  
240  
Hình 1. Hiệu suất phân hủy 2,4-D bằng tác nhân Fe0 nano  
ở các nồng độ khác nhau (pH=3).  
Đ. N. Tấn, N. V. Tài, …, “Nghiên cứu một số yếu tố… da cam/dioxin bằng Fe0 nano.”  
160  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
Bảng 3. Ảnh hưởng của nồng độ Fe0 nano đến hiệu suất phân hủy 2,4,5-T.  
Ảnh hưởng của Fe0 nano đến hiệu suất phân hủy 2,4,5-T (pH=3)  
Fe=10mg/l Fe=30mg/l Fe=50mg/l Fe=80mg/l  
C(mM) H(%) C(mM) H(%) C(mM) H(%) C(mM)  
Thời gian  
phản ứng  
(ph)  
H(%)  
0,0  
0
60  
120  
180  
240  
0,0577  
0,0521  
0,0446  
0,0357  
0,0332  
0,0  
9,7  
0,0577  
0,0  
0,0577  
0,0  
0,0577  
0,0486 15,8 0,0455 21,1 0,0452  
21,7  
39,5  
54,1  
57,7  
22,7 0,0394 31,7 0,0357 38,1 0,0349  
38,1 0,0315 45,4 0,0267 53,7 0,0265  
42,5 0,0284 50,8 0,0248 57,0 0,0244  
Hình 2. Hiệu suất phân hủy 2,4,5-T bằng tác nhân Fe nano ở các nồng độ Fe0  
nano khác nhau (pH=3).  
Qua kết quả thí nghiệm nhận thấy Fe0 nano có khả năng chuyển hóa đồng thời  
cả 2,4-D và 2,4,5-T trong dung dịch, khi tăng hàm lượng Fe0 nano lên thì hiệu suất  
phân hủy tăng lên, ở điều kiện nồng độ nano sắt là 10mg/l thì hiệu suất phân hủy  
2,4-D; 2,4,5-T sau 240 phút lần lượt đạt giá trị 45,5% và 42,4% sau 240 phút phản  
ứng. Khi tăng nồng độ Fe0 nano lên 30mg/l thì hiệu suất phân hủy 2,4-D; 2,4,5-T  
tăng lên 58,7% và 50,8%, đặc biệt, khi tăng nồng độ tác nhân Fe0 nano lên 50mg/l  
thì hiệu suất phân hủy tăng lên rõ rệt (68,6% đối với 2,4-D và 57% đối với 2,4,5-  
T), tuy nhiên, khi tăng tiếp nồng độ Fe0 nano lên 80mg/l thì hiệu suất phân hủy  
tăng lên không đáng kể.  
Cơ chế của quá trình này là cơ chế khử mạnh của Fe0 nano, Paul Tranyek và  
Matheson đã đưa ra 3 phương thức khử của Fe0 nano sau đây:  
- Khử trực tiếp trên bề mặt kim loại: đó là sự chuyển nhượng electron trưc tiếp  
của Fe0 nano cho các hydrocacbon halogen (RX) hấp phụ trên bề mặt của hệ kim  
loại-nước, kết quả là phản ứng khử clo và sản phẩm Fe(II) được tạo thành:  
Fe0 + RX + H+ → RH + X- + Fe2+  
- Khử bởi Fe(II) trên bề mặt: Fe(II) là sản phẩm của quá trình ăn mòn Fe0 cũng  
có thể là sản phẩm của quá trình khử clo trong RX, tạo thành Fe (III):  
161  
Tạp chí Nghiên cứu KH&CN quân sự, Số 47, 02 - 2017  
Hóa học & Kỹ thuật môi trường  
Fe2+ + RX + H+ → Fe3+ + RH + Cl-  
Fe2+ + H2O → Fe3+ + H2 + OH-  
- Khử bởi hidro: H2 là sản phẩm sinh ra trong quá trình ăn mòn kỵ khí có thể  
phản ứng với RX nếu có tác động của chất xúc tác:  
Fe0 + H2O → Fe2+ + OH- + H2  
Xét về khả năng tác dụng, ở cùng một nồng độ bề mặt của nano Fe0 tăng lên  
đáng kể nên tốc độ xử lý được tăng lên nhiều lần. Trong môi trường axit, Fe0 đóng  
vai trò chất khử cung cấp điện tử cho quá trình đề clo hóa:  
Fe0 → Fe2+ + 2e-  
RCl + H+ + 2e− → RH + Cl−  
Tổng hợp các phản ứng:  
RCl + Fe0 + H+ → RH + Fe2+ + Cl-  
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy hiệu suất phân hủy 2,4-D; 2,4,5-T bằng tác  
nhân Fe0 nano tăng đáng kể trong khoảng thời gian 180 phút phản ứng, sau khoảng  
thời gian này, hiệu suất phân hủy tăng lên không nhiều. Như vậy, nồng độ Fe0  
nano phù hợp ở khảo sát này là 50mg/l. Tuy nhiên, hiệu suất phân hủy chung đối  
với cơ chất đang xét ở đây vẫn còn thấp. Do vậy, nhóm tác giả tiếp tục nghiên cứu  
một số yếu tố ảnh hưởng đến hiệu suất phân hủy cơ chất bằng tác nhân Fe0 nano  
mà yếu tố rất quan trọng đó là pH của môi trường.  
3.2. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của pH đến hiệu suất xử lý 2,4-D; 2,4,5-T  
trong dung dịch sau rửa giải đất nhiễm dacam/dioxin  
Điều kiện khảo sát ban đầu: Fe0 nano 50mg/l; pH dung dịch thay đổi lần lượt  
là 2; 3; 5; thời gian khảo sát là 240 phút. Kết quả nghiên cứu thể hiện trên các  
bảng 4 và 5.  
Từ kết quả dẫn ra trên các bảng 4 và 5 cho thấy, khi giảm pH thì hiệu suất phân  
hủy 2,4-D và 2,4,5-T trong dung dịch sau rửa giải dacam/dioxin tăng lên. Như vậy,  
trong khoảng khảo sát hiệu suất phân hủy tỉ lệ nghịch với pH của môi trường. Ở  
pH=2 hiệu suất phân hủy 2,4-D sau 240 phút đạt giá trị cao nhất gần 70%, lớn hơn  
giá trị ở pH=3 là 68%; ở pH=5 hiệu suất phân hủy 2,4-D chỉ đạt giá trị là 46%. Đối  
với 2,4,5-T cũng tương tự, hiệu suất phân hủy đạt giá trị cao nhất là 59,62% ở pH=2  
sau 240 phút phản ứng.  
Bảng 4. Ảnh hưởng của pH đến hiệu suất phân hủy 2,4-D.  
Thời  
gian  
phản ứng  
(ph)  
0
Ảnh hưởng của pH đến hiệu suất phân hủy 2,4-D  
pH=2 pH=3 pH=5  
C(mM) H(%) C(mM)  
H(%)  
0,00  
C(mM)  
0,0576  
0,051  
H(%)  
0,00  
0,0576 0,00  
0,0439 23,78  
0,037 35,76  
0,0322 44,10  
0,0174 69,79  
0,0576  
0,0433  
0,0351  
0,0314  
0,0181  
60  
120  
180  
240  
24,83  
39,06  
45,49  
68,58  
11,46  
21,18  
25,00  
46,18  
0,0454  
0,0432  
0,031  
Đ. N. Tấn, N. V. Tài, …, “Nghiên cứu một số yếu tố… da cam/dioxin bằng Fe0 nano.”  
162  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
1-pH=2  
2-pH=3  
3-pH=5  
Hình 3. Hiệu suất phân hủy 2,4-D bằng tác nhân Fe0 nano ở pH khác nhau.  
Bảng 5. Ảnh hưởng của pH đến hiệu suất phân hủy 2,4,5-T.  
Ảnh hưởng của pH đến hiệu suất phân hủy 2,4,5-T  
pH=2 pH=3 pH=5  
C(mM) C(mM) C(mM)  
Thời gian  
phản ứng  
(ph)  
H(%)  
0,00  
H(%)  
0,00  
H(%)  
0,00  
0
60  
120  
180  
240  
0,0577  
0,0439  
0,037  
0,0577  
0,0433  
0,0351  
0,0314  
0,0248  
0,0577  
0,051  
0,0454  
0,0432  
0,042  
23,92  
35,88  
44,19  
59,62  
24,96  
39,17  
45,58  
57,02  
11,61  
21,32  
25,13  
27,21  
0,0322  
0,0233  
1-pH=2  
2-pH=3  
3-pH=5  
Hình 4. Hiệu suất phân hủy 2,4,5-T bằng tác nhân Fe nano ở pH khác nhau.  
Như vậy, hiệu suất phân hủy các chất 2,4-D và 2,4,5-T trong dung dịch sau rửa  
giải đất nhiễm dacam/dioxin có tăng khi giá trị pH của dung dịch giảm, giá trị tối  
ưu là pH=2-3, tuy nhiên, hiệu suất phân hủy các thành phần ô nhiễm này vẫn còn  
thấp. Để nâng cao hiệu suất phân hủy của các chất này, chúng tôi sẽ tiếp tục nghiên  
cứu và công bố sau.  
4. KẾT LUẬN  
Tác nhân Fe0 nano có khả năng phân hủy đồng thời 2,4-D; 2,4,5-T trong dung  
dịch chất hoạt động bề mặt thu được từ quá trình rửa giải đất nhiễm chất da  
163  
Tạp chí Nghiên cứu KH&CN quân sự, Số 47, 02 - 2017  
Hóa học & Kỹ thuật môi trường  
cam/dioxin. Hiệu suất phân hủy các chất 2,4-D; 2,4,5-T đạt giá trị cao nhất khi ở  
các điều kiện: nồng độ Fe0 nano là 50 mg/l và pH của dung dịch có giá trị từ 2 đến  
3. Điều này do tính khử mạnh của Fe0 nano, các chất ô nhiễm bị khử chuyển thành  
các chất khác.  
Quá trình phân hủy 2,4-D; 2,4,5-T bằng tác nhân Fe0 nano tuy chưa xảy ra hoàn  
toàn nhưng có thể sử dụng phương pháp này để làm giảm đáng kể nồng độ của  
chúng trong dung dịch thu được khi rửa giải đất nhiễm dacam/dioxin. Phương pháp  
này là một trong những công đoạn trong công nghệ tổng thể xử lý các  
dacam/dioxin trong đất nhiễm.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1]. Trần Mạnh Trí, Trần Mạnh Trung. “Các quá trình oxi hóa nâng cao trong xử  
lý nước và nước thải, cơ sở khoa học và ứng dụng”. NXB KH&KT, 2005.  
[2]. Văn phòng 33- Bộ tài nguyên và môi trường, “Báo cáo tổng thể về tình hình ô  
nhiễm dioxin tại 3 điểm nóng san bay Biên Hòa, Đà Nẵng và Phù Cát”, 2011.  
[3]. E. Kokkalis, Th. Kouimtzis, C. Samara, A. Anastopoulos, “Removal of pcbs  
from polluted and spiked soils and sediments using surfactants, International  
Conference on Environmental Science and Technology”, 2003.  
[4]. EPA, “Reference Guide to Non-combustion Technologies for Remediation of  
Persistent Organic Pollutants in Soil. Second Edition”, 2010.  
[5]. Guodong Fang, Youbin Si, Chao Tian, Gangya Zhang, Dongmei Zhou,  
“Degradation of 2,4-D in soils by Fe3O4 nanoparticles combined with  
stimulating indigenous microbes. Environmental Science and Pollution  
Research”, Vol. 19, Issue 3, pp. 784-793, 2012.  
[6].  
Birame Boye, Momar Marie`me Dieng, Enric Brillas, “Electrochemical  
degradation of 2,4,5-trichlorophenoxyacetic acid in aqueous medium by  
peroxi-coagulation, Effect of pH and UV light”, Electrochimica Acta,pp. 781-  
790, No 48, 2003.  
[7]. Gustavo Imoberdorf, Madjid Mohseni, “Kinetic study and modeling of the  
vacuum-UV photoinduced degradation of 2,4-D”, Chemical Engineering  
Journal, pp.114– 122, No 187, 2012.  
[8]. Johanna Walters, “Environmental Fate of 2,4-Dichlorophenoxyacetic Acid”,  
Environmental Monitoring and Pest Management, 2001.  
[9].  
“Acid (2,4,5-T) and 4-chloro-2-methylphenoxyacetic acid (MCPA): A pulse  
radiolysis and gamma-radiolysis study”, Radiation Physics and Chemistry, pp.  
152–159, No 81, 2012.  
[10]. T. Poursaberi, E. Konoz, A. H. Mohsen Sarrafi, M. Hassanisadi and F.  
Hajifathli, “Application of Nanoscale Zero-Valent Iron in the Remediation of  
DDT from Contamina ted Water”, Chem Sci Trans, 1( 3 ), 658 -668, 2012.  
[11]. Y.R. Wang, W. Chu, “Photo-assisted degradation of 2,4,5-  
trichlorophenoxyacetic acid by Fe(II)-catalyzed activation of Oxone process:  
The role of UV irradiation, reaction mechanism and mineralization”, Applied  
Catalysis B: Environmental, pp.151– 161, No 123– 124, 2012.  
Đ. N. Tấn, N. V. Tài, …, “Nghiên cứu một số yếu tố… da cam/dioxin bằng Fe0 nano.”  
164  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
[12]. Julie Peller, Olaf Wiest, Prashant V. Kamat, “Hydroxyl Radical’s Role in the  
Remediation of a Common Herbicide, 2,4-Dichlorophenoxyacetic Acid (2,4-  
D)”, J. Phys. Chem. A, pp.10925-10933, No.108, 2004.  
[13]. Phatkanok Homhoul, Sitthiphong Pengpanich, Mali Hunsom, “Treatment of  
Distillery Wastewater by the Nano-Scale Zero-Valent Iron and the Supported  
Nano-Scale Zero-Valent Iron”, Water Environment Research, Volume 83,  
Number 1, 2011.  
[14]. Ron McDowall, Carol Boyle, Bruce Graham, “Review of emerging, innovative  
technologies for the destruction and decontamination of POPs and the  
identification of promising technologies for use in developing countries”, The  
Scientific and Technical Advisory Panel of the GEF United Nations  
Environment Programme, 2005.  
[15]. Terratherm and Dpra, “In Situ Thermal Desorption (ISTD) and In-Pile  
Thermal Desorption (IPTD)”. TerraTherm’s Technologies for Treatment of  
Semi-Volatile Organic Compounds, 2009.  
[16]. Young AL, Giesy JP, Jones PD, Newton M, “Environmental Fate and  
Bioavailability of Agent Orange and Its Associated Dioxin During the  
Vietnam War”. Environ Sci Pollut Res Int, 11(6):359-70, 2004.  
ABSTRACT  
STUDY ON SOME FACTORS AFFECTING EFFICIENT HANDLING OF 2,4-  
D, 2,4,5-T IN LIQUID SOIL CONTAMINATION AFTER ELUTING  
ORANGE/DIOXIN BY Fe0 NANO  
The method of soil elution with a solution of surfactant is effective to  
remove the Agent Orange/dioxin contamination in the soil, however, the  
drawback of this approach requires re-treatment process for mud and waste  
services after initial processing. In this paper, the research results directly  
handled after eluting solution soil contaminated Orange/dioxin in nano Fe0  
agent are introduced. The study results showed that the ability to handle the  
contaminated ingredients is relatively good to efficiently decompose  
characterized compounds in the solution after eluting Orange/dioxin soil as  
2,4-D over 68%; with 2,4,5-T over 57% after 240 minutes of reaction. The  
study results also showed that the pH is suitable for the decomposition  
boring in about 2 to 3 values.  
Keywords: 2,4-D; 2,4,5-T; Orange/dioxin; Fe0 nano.  
Nhận bài ngày 24 tháng 05 năm 2016  
Hoàn thiện ngày 21 tháng 12 năm 2016  
Chấp nhận đăng ngày 20 tháng 02 năm 2017  
Địa chỉ: 1 Viện Hoá học - Môi trường quân sự / BTL Hoá học.  
2
Viện Hóa học Vật liệu / Viện KH&CNQS.  
* Email: [email protected].  
165  
Tạp chí Nghiên cứu KH&CN quân sự, Số 47, 02 - 2017  
pdf 9 trang Mãnh Khiết 13/01/2024 18140 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng đến hiệu suất xử lý 2,4-D, 4,5-T trong dung dịch sau rửa giải đất nhiễm da cam/dioxin bằng FE⁰ NANO", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_mot_so_yeu_to_anh_huong_den_hieu_suat_xu_ly_24_d.pdf