Giáo trình Thống kê trong kinh doanh (Phần 1)

MBA  
THỐNG KÊ TRONG  
KINH DOANH  
Ch−¬ng tr×nh §μo t¹o Th¹c sÜ  
Qu¶n trÞ Kinh doanh Quèc tÕ  
TÀI LIỆU THAM KHẢO - LƯU HÀNH NỘI BỘ  
8/2009  
Môc lôc  
Trang  
CHƯƠNG 1  
CHƯƠNG 2  
CHƯƠNG 3  
CHƯƠNG 4  
CHƯƠNG 5  
CHƯƠNG 6  
GIỚI THIỆU CHUNG VÀ THU THẬP DỮ LIỆU  
TRÌNH BÀY DỮ LIỆU BẰNG BẢNG VÀ ĐỒ THỊ  
MÔ TẢ DỮ LIỆU ĐỊNH LƯỢNG  
3
49  
70  
ƯỚC LƯỢNG  
KIỂM ĐỊNH  
106  
113  
146  
157  
KIỂM SOÁT QUÁ TRÌNH BẰNG THỐNG KÊ  
HỒI QUY VÀ TƯƠNG QUAN  
CHƯƠNG 7  
CHƯƠNG 8  
PHÂN TÍCH DÃY SỐ THỜI GIAN  
170  
CHƯƠNG 1  
GIỚI THIỆU CHUNG VÀ THU THẬP DỮ LIỆU  
1. Thống kê và hoạt động quản trị  
Để quản trị hoạt động của doanh nghiệp vấn đề đầu tiên và hết sức quan trọng là phải có  
đầy đủ thông tin về mọi mặt kể cả thông tin sơ cấp và thứ cấp. Để hoạt động của doanh  
nghiệp ngày càng tốt hơn cần quan tâm đến ba yếu tố có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, đó là:  
lý luận quản lý, phương pháp thống kê và các biện pháp hành động. Xuất phát từ những  
nhiệm vụ trong quản lý và đặc điểm tình hình cụ thể của doanh nghiệp cần xác định nhiệm  
vụ quản lý cụ thể là gì, nhằm vào mục tiêu nào.... Trên cơ sở đó xác định thông tin cần thu  
thập, các biện pháp thu thập dữ liệu, xử lý và phân tích các dữ liệu đó. Trên cơ sở các phân  
tích định lượng đó rút ra kết luận về sự tồn tại thực tế của hiện tượng, bản chất và tính quy  
luật đang tồn tại, từ đó đưa ra các biện pháp quản lý thích hợp với từng hiện tượng trong  
từng giai đoạn cụ thể...  
Trước hết hãy làm quen với một số khái niệm thường dùng trong thống kê:  
• Tổng thể thống kê (population): là hiện tượng kinh tế xã hội số lớn, bao gồm các  
đơn vị (hoặc phần tử, hiện tượng) cần được quan sát và phân tích. Xác định tổng thể  
nhằm đưa ra giới hạn về phạm vi nghiên cứu cho người nghiên cứu.  
Căn cứ vào sự nhận biết các đơn vị trong tổng thể có thể phân biệt hai loại: tổng thể  
bộc lộ và tiềm ẩn. Tổng thể bộc lộ là tổng thể có ranh giới rõ ràng, có thể nhận biết  
hết các đơn vị trong tổng thể (chẳng hạn khi nghiên cứu tình hình sản xuất công  
nghiệp trên địa bàn Hà Nội ta có tổng thể các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp trên  
địa bàn Hà Nội và đó là tổng thể bộc lộ). Tổng thể tiềm ẩn là tổng thể có ranh giới  
không rõ ràng, hay không thể nhận biết hết các đơn vị trong tổng thể (chẳng hạn tổng  
thể những người ưa dùng một loại sản phẩm nào đó, hoặc tổng thể những người sẽ sử  
dụng dịch vụ của Hãng hàng không quốc gia Việt Nam trong năm tới).  
Căn cứ vào mục đích nghiên cứu người ta phân biệt hai loại: tổng thể đồng chất và  
không đồng chất. Tổng thể đồng chất bao gồm các đơn vị giống nhau (hoặc gần  
giống nhau) về một số đặc điểm chủ yếu có liên quan đến mục đích nghiên cứu. Tổng  
thể không đồng chất bao gồm các đơn vị có những đặc điểm chủ yếu khác nhau.  
Căn cứ vào phạm vi nghiên cứu có thể phân biệt hai loại: Tổng thể chung (bao gồm  
tất cả các đơn vị thuộc đối tượng nghiên cứu) và tổng thể bộ phận (là một phần của  
tổng thể chung).  
•
Đơn vị tổng thể: là các đơn vị (hoặc phần tử) cấu thành nên tổng thể. đơn vị tổng thể  
là xuất phất điểm của việc nghiên cứu, bởi vì mặt lượng của đơn vị tổng thể là các dữ  
liệu mà người nghiên cứu cần thu thập.  
3
THỐNG KÊ TRONG KINH DOANH  
Chương 1 – Giới thiệu chung và thu thập dữ liệu  
• Tổng thể mẫu (Sample): là tổng thể bao gồm một số đơn vị nhất định được chọn ra  
từ tổng thể chung để tiến hành điều tra thực tế. Các đơn vị này được chọn theo một  
phương pháp lấy mẫu nào đó.  
• Quan sát (Observation): là cơ sở để thu thập dữ liệu nghiên cứu. Thí dụ trong điều  
tra chọn mẫu, mỗi đơn vị thuộc mẫu được tiến hành thu thập thông tin được gọi là  
một quan sát  
• Tiêu thức thống kê: là đặc điểm của từng đơn vị tổng thể được chọn ra để nghiên  
cứu tuỳ theo mục đích nghiên cứu khác nhau. Có thể phân biệt các loại tiêu thức sau :  
Tiêu thức thực thể : Là loại tiêu thức phản ánh đặc điểm về nội dung của đơn vị tổng  
thể. Tùy theo cách biểu hiện mà có 3 loại:  
- Tiêu thức thuộc tính là tiêu thức phản ánh các thuộc tính của đơn vị tổng thể và  
không có các biểu hiện trực tiếp bằng con số. Thí dụ: tiêu thức giới tính, nghề nghiệp,  
dân tộc, thành phần kinh tế....  
- Tiêu thức số lượng là tiêu thức phản ánh các đặc điểm về lượng của đơn vị tổng thể  
và có các biểu hiện trực tiếp bằng con số, các biểu hiện con số của tiêu thức số lượng  
được gọi là các lượng biến. Thí dụ: Số nhân khẩu trong gia đình, tiền lương tháng của  
mỗi người lao động, Năng suất lao động... Các lượng biến là cơ sở để thực hiện các  
phép tính thống kê, như: cộng, trừ, nhân, chia, trung bình, tỷ lệ...  
- Tiêu thức chỉ có hai biểu hiện không trùng nhau trên một đơn vị tổng thể được gọi  
là tiêu thức thay phiên. Thí dụ: tiêu thức giới tính chỉ có hai biểu hiện không trùng  
nhau là nam và nữ được gọi là tiêu thức thay phiên. Loại tiêu thức này có đặc điểm  
quan trọng là nếu một đơn vị tổng thể nào đó đã nhận biểu hiện này thì không nhận  
biểu hiện kia. Đây là loại tiêu thức có nhiều ứng dụng trong thực tế.  
• Chỉ tiêu thống kê: phản ánh đặc điểm của toàn bộ tổng thể trong điều kiện thời gian  
và địa điểm cụ thể. Chỉ tiêu thống kê là tổng hợp biểu hiện mặt lượng của nhiều đơn  
vị, hiện tượng cá biệt. Do đó, chỉ tiêu phản ánh những mối quan hệ chung, đặc điểm  
của số lớn các đơn vị hoặc của tất cả các đơn vị tổng thể. Chỉ tiêu thống kê bao gồm  
2 mặt : khái niệm và mức độ của chỉ tiêu. Mặt khái niệm của chỉ tiêu bao gồm các  
định nghĩa và giới hạn về thực thể, thời gian và không gian; Mức độ của chỉ tiêu là  
các trị số với các đơn vị tính phù hợp.  
Có hai loại chỉ tiêu thống kê: chỉ tiêu khối lượng : biểu hiện quy mô, khối lượng của  
hiện tượng nghiên cứu và chỉ tiêu chất lượng : biểu hiện trình độ phổ biến và mối  
quan hệ trong tổng thể.  
2. Phương pháp thống kê.  
Các phương pháp thống kê gồm: Thống kê mô tả và thống kê suy luận (phân tích thống  
kê).  
4
THỐNG KÊ TRONG KINH DOANH  
Chương 1 – Giới thiệu chung và thu thập dữ liệu  
• Thống kê mô tả: Bao gồm thu thập và mô tả dữ liệu. Cụ thể:  
i. Thu thập dữ liệu qua điều tra.  
ii. Biểu diễn dữ liệu bằng bảng và đồ thị thống kê.  
iii. Tính toán các đặc trưng của dữ liệu như trung bình, trung vị... Đặc trưng của  
tổng thể chung gọi là tham số; đặc trưng của tổng thể mẫu gọi là thống kê.  
• Thống kê suy luận: bao gồm các phương pháp ước lượng, kiểm định giả thiết thống  
kê ... Tiêu thức số lượng có từ đó đưa ra các quyết định về tổng thể chung trên cơ sở  
kết quả từ mẫu điều tra.  
3. Các loại dữ liệu và nguồn dữ liệu.  
• Có hai loại dữ liệu:  
- Dữ liệu định tính: Là dữ liệu về các tiêu thức thuộc tính (có thể có biểu hiện trực  
tiếp hoặc gián tiếp).  
- Dữ liệu định lượng: Là dữ liệu về các tiêu thức số lượng. Trong đó các lượng biến  
có thể là rời rạc (biểu hiện bằng các số nguyên) hoặc liên tục (biểu hiện bằng số thập  
phân).  
• Nguồn dữ liệu: Có hai nguồn dữ liệu chính  
- Nguồn thứ cấp: là những tài liệu đã được thu thập từ trước. Nguồn này bao gồm  
các tài liệu đã xuất bản (tạp chí, sách báo, kỷ yếu hội thảo, thông tin từ Internet...  
Nguồn số liệu thứ cấp có thể có do các cơ quan của chính phủ thu thập (Tổng cục  
thống kê, các bộ..) hoặc từ các nguồn do các tổ chức tư nhân, các tổ chức phi chính  
phủ... thu thập. Một nguồn số liệu thứ cấp nữa chưa phổ biến ở Việt nam là nguồn  
thông tin do các công ty chuyên nghiên cứu thị trường thu thập và bán.  
- Nguồn sơ cấp: là nguồn dữ liệu được thu thập lần đầu tiên phục vụ cho mục đích  
nghiên cứu. Nguồn này bao gồm các tài liệu được thu thập từ các cuộc điều tra, các  
quan sát, các nghiên cứu hiện trường (thực nghiệm).  
4. Các phương pháp chọn mẫu.  
Thông thường có hai loại phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu xác xuất (các đơn vị được  
chọn theo xác suất đã biết) và chọn mẫu phi xác xuất (chọn mẫu có chủ đích, chọn mẫu định  
mức, chọn mẫu đoạn). Trên thực tế thường sử dụng phương pháp chọn mẫu xác suất với các  
phương pháp chọn cụ thể như sau:  
-
Mẫu ngẫu nhiên đơn giản: mỗi đơn vị có cơ hội được chọn vào mẫu như nhau (như  
gieo con xúc sắc, bắt thăm, quay số). Có thể chọn hoàn lại hoặc không hoàn lại. Chọn  
hoàn lại là một đơn vị được chọn rồi sau khi nghiên cứu lại trả về tổng thể chung và  
có cơ hội được chọn lại; chọn không hoàn lại là một đơn vị được chọn rồi sau khi  
nghiên cứu không được trả về tổng thể chung và không có khả năng được chọn lại.  
NgoàI ra còn có thể sử dụng bảng số ngẫu nhiên để chọn mẫu.  
5
THỐNG KÊ TRONG KINH DOANH  
Chương 1 – Giới thiệu chung và thu thập dữ liệu  
-
Mẫu hệ thống: Trước hết cần sắp xếp các đơn vị của tổng thể chung theo một thứ tự  
nào đó, như sắp xếp theo thứ tự vần A,B,C ... của tên gọi , theo thứ tự địa dư , theo  
quy mô từ nhỏ đến lớn v.v... Các đơn vị được lựa chọn từ tổng thể chung theo  
khoảng cách bằng nhau (k). Khoảng cách k này được tính bằng cách chia số đơn vị  
của tổng thể chung cho số đơn vị của tổng thể mẫu, (hay nói cách khác tổng thể  
chung được chia thành k nhóm). Chọn một cách ngẫu nhiên một đơn vị từ nhóm thứ  
nhất, sau đó cứ mỗi khoảng cách k lại chọn một đơn vị. Thí dụ: Tổng thể chung N=  
80 đơn vị, chọn mẫu n=8 đơn vị, vậy k = 80/8 = 10. Nếu trong nhóm đầu tiên ta chọn  
đơn vị thứ 3 thì các đơn vị được chọn tiếp theo sẽ là đơn vị thứ 13, 23, 33, 43, 53 ...  
-
Mẫu phân loại: Tổng thể chung được phân chia thành hai hoặc nhiều nhóm trên cơ  
sở một số đặc đIểm chung (các tổ có độ thuần nhất cao). Sau đó chọn các đơn vị đại  
diện cho từng tổ theo cách chọn ngẫu nhiên đơn giản hoặc máy móc. Số đơn vị được  
chọn từ mỗi tổ có thể tương ứng với tỷ trọng của tổ đó trong tổng thể chung - gọi là  
chọn phân loại theo tỷ lệ - hoặc có thể không tương ứng với tỷ trọng đó - gọi là chọn  
phân loại không theo tỷ lệ. Nếu chọn mẫu phân loại theo tỷ lệ ta được mẫu có kết cấu  
gần giống với kết cấu của tổng thể chung nên tính đại biểu cao, muốn tính đại biểu  
của mẫu cao hơn nữa có thể lấy mẫu tối ưu tức là số đơn vị chọn ra ở mỗi tổ không  
chỉ tỷ lệ với tỷ trọng của tổ đó chiếm trong tổng thể mà còn tương ứng với độ biến  
thiên ở mỗi tổ theo tiêu thức nghiên cứu.  
- Mẫu chùm (cluster): Tổng thể chung được chia thành các chùm, mỗi chùm đều đại  
diện cho tổng thể chung. Sau đó ở mỗi chùm có thể chọn ra một số đơn vị theo cách  
chọn ngẫu nhiên đơn giản để hợp thành một mẫu. Hoặc có thể tiến hành chọn cả một  
hoặc một vài chùm nào đó một cách ngẫu ngẫu nhiên nếu số chùm lớn.  
5. Phương pháp điều tra.  
5.1. Thang đo  
5.1.1. Các loại thang đo  
• Thang đo định danh:  
- Là đánh số các biểu hiện cùng loại của tiêu thức.  
- Thường dùng với các tiêu thức thuộc tính mà các biểu hiện của nó là một hệ thống  
các loại khác nhau không theo một trật tự xác định nào như: Giới tính, khu vực địa lý, nghề  
nghiệp, tôn giáo...  
Thí dụ: Với tiêu thức giới tính chỉ có hai loại nam và nữ và không có trật tự nào giữa  
hai loại này; vì vậy có thể đánh số các biểu hiện Nam là 1 và nữ là 2 hoặc ngược lại.  
- Đặc điểm: Các con số không có quan hệ hơn kém, và không được thực hiện tất cả  
các phép tính, chỉ dùng để mã hóa và đếm tần số.  
• Thang đo thứ bậc:  
6
THỐNG KÊ TRONG KINH DOANH  
Chương 1 – Giới thiệu chung và thu thập dữ liệu  
- Là thang đo định danh nhưng giữa các biểu hiện của tiêu thức có quan hệ hơn  
Thí dụ với tiêu thức tầng lớp xã hội, thang đo thứ bậc đơn giản nhất có 3 nấc:  
kém.  
"thượng lưu", "trung lưu", "hạ lưu", những loại này lần lượt được đánh số từ 1 đến 3; những  
số này thể hiện trật tự của các tầng lớp xã hội nhưng nó không phản ánh được khoảng cách  
giữa các con số. Nhưng cũng có thể dùng thang đo 9 nấc phức tạp hơn để đo bằng cách chia  
nhỏ mỗi loại trên thành 3 loại: "Thượng lưu bậc cao - Thượng lưu - Thượng lưu bậc thấp" ...  
Tóm lại, một tiêu thức có bao nhiêu biểu hiện phụ thuộc vào mức độ thay đổi mà chúng ta hy  
vọng có thể tìm ra trong quá trình điều tra và mức độ chi tiết theo yêu cầu nghiên cứu.  
Chú ý: trong một số trường hợp thang đo thứ bậc có thể kết hợp với thang đo định  
danh để hiểu rõ được khái niệm hơn. Chẳng hạn, để đánh số các biểu hiện của tiêu thức tôn  
giáo có thể dùng thang đo định danh (1- phật giáo, 2 - thiên chúa giáo, 3 - hồi giáo, 4 - Đạo  
hin đu, 5 - Đạo cao đài...). Nhưng để biểu hiện hành vi tôn giáo thì có thể dùng thang đo thứ  
bậc. Chẳng hạn, bạn có dự hoạt động tôn giáo không: 1- hàng ngày, 2- hàng tuần, 3- một vài  
tuần trong một tháng, 4- hàng tháng, 5- một vài lần trong năm, 6- hàng năm, 7- không bao  
giờ.  
- Thường dùng để đo các tiêu thức thuộc tính mà các biểu hiện có quan hệ thứ tự  
như đo thái độ đối với một hành vi nào đó (hoàn toàn đồng ý, đồng ý, chưa quyết định, hoàn  
toàn không đồng ý) hoặc thứ tự chất lượng sản phẩm, huân chương, bậc thợ...  
- Đặc điểm: sự chênh lệch giữa các biểu hiện của tiêu thức không nhất thiết phải  
bằng nhau.  
- Hạn chế: Chưa biết được khoảng cách giữa các số thự tự đó gần hay xa bao nhiêu  
vì vậy không thực hiện được các phép tính cộng trừ nhân chia mà chỉ nói lên đặc trưng  
chung của tổng thể một cách tương đối căn cứ trên sự giải thích "lớn hơn" hay "nhỏ hơn" mà  
thôi.  
• Thang đo khoảng:  
- Là thang đo thứ bậc có các khoảng cách đều nhau nhưng không có điểm gốc là 0.  
Thí dụ: Sau khi hỏi ý kiến của Ban giám khảo về việc xếp loại các đội trong cuộc  
thi..., có thể tiếp tục hỏi thêm đội này hơn đội kia bao nhiêu điểm. Như vậy khoảng cách  
giữa các thứ tự đã được lượng hoá và có thể giải thích được.  
- Đặc điểm: Thang đo này có thể thực hiện các phép tính cộng, trừ, tính được các  
tham số đặc trưng như trung bình, phương sai, tỷ lệ.  
- Hạn chế: Là thang đo có khoảng cách hơn kém nhưng chưa có điểm gốc là số 0,  
nên không so sánh được tỷ lệ giữa các trị số đo.  
• Thang đo tỉ lệ :  
7
THỐNG KÊ TRONG KINH DOANH  
Chương 1 – Giới thiệu chung và thu thập dữ liệu  
- Là thang đo khoảng với một điểm 0 tuyệt đối (điểm gốc) để có thể so sánh được tỷ  
lệ giữa các trị số đo. Thí dụ; các đơn vị đo lường vật lý thông thường (kg, mét..), thu nhập,  
tuổi, số con ...  
- Đặc điểm: Thang đo này cho phép thực hiện được tất cả các phép tính với trị số đo.  
Theo tuần tự, thang đo sau có chất lượng đo lường cao hơn thang đo trước, đồng thời  
việc xây dựng thang đo cũng phức tạp hơn. Song không phải lúc nào cũng có thể sử dụng  
được thang đo hoàn hảo mà phải tuỳ thuộc vào đặc điểm của hiện tượng và tiêu thức nghiên  
cứu mà sử dụng thang đo cho thích hợp.  
5.1.2. Một số cách đặt thang điểm cơ bản  
5.1.2.1. Thang điểm điều mục:  
Đây là loại thang điểm đơn giản và phù hợp với nhiều hoàn cảnh khác nhau. Loại này  
đòi hỏi người được phỏng vấn cho biết thái độ của họ và điều mục đánh giá mà họ lựa chọn.  
Các mục được sắp xếp theo một thứ tự nào đó. Loại thang đo này còn được gọi là thang đo  
Likert.  
Ví dụ: Với câu hỏi “Bạn có thoả mãn với công việc mà bạn đang làm hiện nay  
không” có thể đặt các thang điểm sau:  
-
-
-
-
-
Rất thoả mãn.  
Tương đối thoả mãn.  
Không quan tâm.  
Không được thoả mãn lắm.  
Rất khó chịu.  
Tuy thang điểm này đơn giản nhưng cần phải quan tâm đến một số vấn đề sau:  
+ Số lượng điều mục: Cần có sự quyết định số mục lựa chọn tượng trưng cho thái độ  
của người được phỏng vấn. Chẳng hạn, thang mục chỉ có 2 mục đối nhau (đồng ý hay không  
đồng ý) mang tính chất của thang đo định danh rất khó cho công việc phân tích nhưng có thể  
thích hợp khi bảng câu hỏi dài hoặc khi trình độ văn hoá của người được hỏi có giới hạn.  
Mặt khác có thể sử dụng nhiều điều mục để giúp cho người được hỏi có nhiều sự lựa chọn  
rộng rãi và cho phép đo độ nhạy bén hơn.(một số nhà nghiên cứu cho rằng câu hỏi có 5 hoặc  
6 mục trả lời là phù hợp hơn cả)  
+ Số điều mục trả lời không nên lẻ để tránh dẫn đến việc người trả lời có thái độ  
trung dung với cách chọn câu trả lời ở giữa, và dễ đưa đến câu trả lời không đúng sự thật. Số  
điều mục chẵn thì người được hỏi bắt buộc phải biểu lộ thái độ của mình.  
+ Không nên đặt câu trả lời lệch về một phía này hay phía kia làm cho người trả lời  
khó chọn. Ví dụ: với câu hỏi “đề nghị bạn cho biết tốc độ mau lẹ trong cung cách phục vụ  
khách hàng” mà sử dụng các điều mục : tuyệt, rất tốt, tốt, trên trung bình, trung bình thì sẽ  
rất không thích hợp cho người không thích cung cách phục vụ ấy.  
8
THỐNG KÊ TRONG KINH DOANH  
Chương 1 – Giới thiệu chung và thu thập dữ liệu  
5.1.2.2. Thang điểm đánh giá qua hình vẽ:  
Thang điểm này sử dụng các hình vẽ để thể hiện thái độ của người được phỏng vấn  
về một vấn đề nào đó.  
Người ta thường sử dụng các loại thang điểm như: thang "hình nhiệt kế" hoặc là các  
“vẻ mặt” khác nhau nói lên thái độ đồng tình hay không đồng tình về một vấn đề nào đó.  
Với loại thang điểm này có thể phân chia nhiều mức khác nhau tuỳ thuộc nội dung và  
quy mô hiện tượng nghiên cứu.  
5.1.2.3. Thang điểm xếp hạng theo thứ tự :  
Loại thang điểm này cho phép so sánh các điều mục trả lời trong khi 2 thang điểm  
trước không thể so sánh được vì ở hai loại thang điểm trên người được hỏi xét đoán không  
dựa vào căn cứ cụ thể nào cả.  
Đối với loại thang điểm xếp hạng theo thứ tự, người được hỏi sắp xếp hạng các mục  
trả lời theo thứ tự mà họ đánh giá. Ví dụ: Để nâng cao chất lượng học tập của sinh viên, nhà  
trường đã sử dụng các biện pháp sau đây:  
-
Điểm danh thường xuyên ở lớp.  
- Kiểm tra bài thường xuyên.  
- Quy chế thi nghiêm túc.  
- Học bổng có nhiều mức theo theo kết quả thi từng học kỳ.  
- Cho nhiều chuyên đề nghiên cứu và bài tập lớn.  
- Nộp chi phí cao khi phải thi lại.  
Hãy xếp thứ tự các biện pháp trên từ phương pháp hiệu quả nhất theo thứ tự từ 1 đến 6.  
Loại thang điểm này tuy đơn giản, dễ trả lời song cũng có những nhược điểm là:  
-
-
Khó liệt kê được đầy đủ các trường hợp nên dữ liệu thu thập thiếu chính xác.  
Vì nhấn mạnh vào việc xếp thứ tự nên có thể ảnh hưởng đến câu trả lời, đặc biệt là  
mục thứ nhất và mục chót thường được quan tâm nhiều hơn.  
-
-
Khi hỏi để xếp hạng những mục hoàn toàn nằm ngoài ý thích của người được hỏi thì  
những câu trả lời sẽ không có ý nghĩa  
Thang điểm này không giúp ta xác định được khoảng cách xa gần giữa các mục là  
bao nhiêu theo sự nhận định của người được hỏi, hoặc là tại sao các mục lại được sắp  
xếp như vậy.  
5.1.2.4. Thang điểm có tổng không đổi:  
Thang điểm có tổng không đổi cung cấp một sự nhận thức tổng quát tốt hơn về  
khoảng cách giữa các điểm trên giải thang điểm.  
Đối với thang điểm này, người được hỏi cần chia hoặc xác định một số điểm có tổng  
không đổi (thường là 100) để biểu thị sự quan trọng tương đối của những đặc điểm được  
9
THỐNG KÊ TRONG KINH DOANH  
Chương 1 – Giới thiệu chung và thu thập dữ liệu  
nghiên cứu. Số điểm được chia cho mỗi điều mục chỉ rõ hạng bậc của nó và đồng thời cũng  
chỉ rõ số khác biệt giữa các điều mục với nhau. Ví dụ: Cũng vẫn với ví dụ trên, chia 100  
điểm cho các biện pháp theo tầm quan trọng của mỗi biện pháp.  
Thang điểm này còn một số tồn tại sau:  
- Không thể chắc chắn là liệu những kết quả có biểu thị đúng với khoảng cách và tỷ lệ  
hay không.  
- Nếu có quá nhiều đặc điểm thì việc chia điểm cũng gặp khó khăn  
5.1.2.5. Thang điểm có ý nghĩa đối nghịch nhau:  
Thang điểm này yêu cầu người được hỏi cho biết cảm nghĩ về vấn đề cần được  
nghiên cứu bằng cách ghi ý kiến trả lời trên một chuỗi tính từ tạo thành từng cặp đối nghịch  
nhau về ý nghĩa.  
Ví dụ: Để hỏi ý kiến đánh giá về một loại bia ta dùng thang điểm 7 vị trí có ý nghĩa  
đối nghịch nhau như sau:  
Cực X  
(nặng)  
Cực Y  
(nhẹ)  
1
2
3
4
5
6
7
Rất  
Khá  
Hơi  
T/Bình  
Hơi  
Khá  
Rất  
Có nhiều ý kiến khác nhau về số hạng mục đánh giá nên để chẵn hay lẻ. Nếu để lẻ dễ  
dẫn đếnviệc chọn vị trí giữa vì "vô thưởng vô phạt". Có thể để thang điểm có số hạng mục  
chẵn.  
Cực X  
(tốt)  
Cực Y  
1
2
3
ít  
4
ít  
5
6
(kém)  
Rất  
Khá  
Khá  
Rất  
Ngoài các thang điểm cơ bản trên còn có nhiều cách đặt thang điểm nữa, tuỳ theo kỹ  
thuật của các nhà nghiên cứu. Tuy vậy mỗi thang điểm đều có ưu nhược điểm riêng. Vì vậy,  
người nghiên cứu phải biết lựa chọn loại thang điểm nào thích hợp nhất, có khả năng đáp  
ứng tốt nhất những nhu cầu thông tin với chi phí thấp nhất, phương pháp truyền đạt dễ dàng,  
dễ hiểu, dễ trả lời.  
5.2. Các phương pháp điều tra  
5.2.1. Phương pháp phỏng vấn  
Là phương pháp được sử dụng nhiều nhất trong thu thập thông tin. Căn cứ vào nội  
dung điều kiện thực tế, người nghiên cứu quyết định dùng phương pháp nào để tiếp xúc với  
người được phỏng vấn. Có các phương pháp phỏng vấn như sau:  
5.2.1.1. Phương pháp Anket:  
Phương pháp anket là phương pháp phỏng vấn viết (người hỏi vắng mặt), trong đó sự  
tiếp xúc thông qua bảng hỏi, người trả lời tự điền câu trả lời vào bảng hỏi. Vì vậy những vấn  
đề tâm lý trong khi đặt câu hỏi và nguyên tắc tâm lý trong sắp xếp bảng hỏi là để hướng vào  
10  
THỐNG KÊ TRONG KINH DOANH  
Chương 1 – Giới thiệu chung và thu thập dữ liệu  
người trả lời. Để thực hiện phương pháp này cần lưu ý đến 2 vấn đề quan trọng nhất là: Thiết  
kế bảng hỏi và cách phân phát bảng hỏi. Hai vấn đề đó sẽ ảnh hưởng đến chất lượng thông  
tin, tỷ lệ trả lời và gửi lại bảng hỏi, những yêu cầu quan trọng trong phương pháp anket.  
5.2.1.2. Phỏng vấn trực diện  
Phương pháp phỏng vấn trực diện thông thường được hiểu là phỏng vấn miệng, còn  
gọi là "cuộc nói chuyện riêng" hay "trò chuyện có chủ định". Nói chuyện thông thường là cơ  
sở của phỏng vấn, nó khác với cuộc nói chuyện thông thường ở hai điểm sau đây:  
- Mục đích cuộc nói chuyện do chương trình nghiên cứu quy định từ trước.  
- Vai trò của người nói chuyện được quy định, thậm chí được "chuẩn hoá"  
Cũng vì vậy mà người ta gọi nó là "cuộc tiếp xúc giả tạo" do nguyên nhân từ bên  
ngoài. Kết quả của phỏng vấn, chất lượng thông tin thu được phần lớn phụ thuộc vào tính  
chất của việc tiếp xúc, sự giao tiếp chặt chẽ và hiểu biết lẫn nhau giữa người phỏng vấn và  
người trả lời hay nói cách khác nó mang dấu vết của cuộc tiếp xúc đó.  
*) Ưu điểm của phỏng vấn trực diện.  
+ Việc tiếp xúc trực tiếp tạo ra những điều kiện đặc biệt để hiểu đối tượng sâu sắc  
hơn. Đây là ưu điểm mà phương pháp anket không thể có được.  
+ Do tiếp xúc trực tiếp nên đã đồng thời kết hợp việc phỏng vấn với việc quan sát (từ  
dáng vẻ bề ngoài, đến những cử chỉ biểu lộ tình cảm, thái độ...).  
+ Có thể phát hiện những sai sót và uốn nắn kịp thời ngay.  
*) Nhược điểm:  
+ Tốn kém hơn so với phương pháp anket: tốn hơn về thời gian, chi phí, số cán bộ  
điều tra.  
+ Tổ chức khó khăn hơn: đòi hỏi phải có sự chuẩn bị kỹ càng về điều tra viên, địa  
điểm, nghi thức gặp gỡ...  
+ Không cẩn thận câu trả lời sẽ bị ảnh hưởng bởi thiên kiến của điều tra viên.  
*)Tính chất của cuộc phỏng vấn trực diện:  
+ Tính một chiều: Đó là quá trình giao tiếp một chiều do người phỏng vấn điều khiển.  
Người phỏng vấn phải làm chủ cả quá trình phỏng vấn từ khi mở đầu đến lúc kết thúc. Do  
tính một chiều và làm chủ đó đòi hỏi người phỏng vấn phải tạo được không khí cởi mở, dễ  
dàng thổ lộ cho người trả lời.  
+ Tính quy định: Nội dung và các khả năng xử sự trong cuộc nói chuyện được quy  
định sẵn trong bảng câu hỏi và kế hoạch phỏng vấn.  
+ Tính giả định: Nhiều đề tài đặt ra các yêu cầu và tình huống giả định để thu lại  
những phản ứng khác nhau của người được phỏng vấn.  
11  
THỐNG KÊ TRONG KINH DOANH  
Chương 1 – Giới thiệu chung và thu thập dữ liệu  
+ Tính phi hậu quả: Cuộc phỏng vấn phải đảm bảo không gây hậu quả cho người  
được phỏng vấn. Mức phi hậu quả bắt nguồn từ hai lý do:  
Thứ nhất là tính giả định của cuộc phỏng vấn. Khi tình huống khác đi, việc nói lại là  
không nên hoặc không có nghĩa.  
Thứ hai là nguyên tắc nặc danh. Yêu cầu giữ bí mật cho người được phỏng vấn, tránh  
những phiền toái, truy cứu những người trả lới ý này hay ý nọ.  
*) Các loại phỏng vấn trực diện:  
Tuỳ theo mức độ nghiêm ngặt của cách thức tiến hành, có thể chia thành hai loại:  
Theo nội dung trình tự tiến hành:  
+ Phỏng vấn tiêu chuẩn hoá: là cuộc phỏng vấn diễn ra theo trình tự với nội dung  
được vạch sẵn cho mọi người dựa vào một bảng hỏi. Người phỏng vấn không được thay đổi  
trình tự các câu hỏi, không có quyền đưa thêm câu hỏi bổ sung hoặc gợi ý thêm các phương  
án trả lời đã có sẵn trong bảng hỏi. Có thể nói phỏng vấn tiêu chuẩn hoá là phương pháp  
phỏng vấn theo anket. Hình thức này có ưu điểm là số liệu có thể so sánh trực tiếp được với  
nhau, phục vụ việc tổng hợp dễ dàng, phù hợp với việc kiểm định giả thuyết.  
+ Phỏng vấn bán tiêu chuẩn: là hình thức trung gian giữa phỏng vấn tiêu chuẩn hoá  
và phỏng vấn tự do. Cụ thể là ở đây các câu hỏi quyết định được tiêu chuẩn hoá, còn các câu  
hỏi khác thì có thể phát biểu tuỳ tình hình thực tế. Như vậy sẽ tận dụng được ưu điểm và hạn  
chế được nhược điểm của mỗi loại.  
+ Phỏng vấn tự do: là cuộc phỏng vấn không có những câu hỏi đã định trước và  
cũng không theo kế hoạch đã định trước, chỉ đưa ra đề tài, người phỏng vấn hoàn toàn tự do  
tiến hành như một cuộc nói chuyện tự do. Ưu điểm của phương pháp này là người trả lời  
được tự do tư tưởng, thoải mái trình bày ý kiến quan điểm của mình sâu rộng tuỳ ý, người  
phỏng vấn chủ động thực hiện mục đích của mình, không bị gò bó. Khó khăn là người phỏng  
vấn phải có trình độ cao, biết duy trì, dẫn dắt câu chuyện đến đích.  
+ Phỏng vấn sâu (indepth-interview): Khác với phỏng vấn tự do ở chỗ là ngoài  
những đề tài nói chuyện chung người ta còn đặt ra trước một số câu hỏi hoặc vấn đề nhất  
định mà cần phải được trả lời. Đặc điểm của phỏng vấn sâu là không cần nhiều đối tượng  
điều tra, thậm chí có khi chỉ cần một số ít người để hỏi về những vấn đề sâu kín, tiềm ẩn mà  
không phải ai trong họ cũng có thể cảm nhận hoặc nói ra. Khó khăn ở đây cũng là đòi hỏi  
người phỏng vấn có trình độ cao, có phương pháp tâm lý và biết cách phân tích tâm lý.  
+ Phỏng vấn định hướng: là cuộc phỏng vấn dặt mục đích nghiên cứu rõ ràng, những  
ý kiến về tình hình đã được nêu ra một cách cụ thể; nói cách khác là phỏng vấn tập trung vào  
một mục tiêu (focused interview).  
Theo đối tượng tiếp xúc:  
+ Phỏng vấn cá nhân: có thể là tất cả các loại phỏng vấn tiêu chuẩn, bán tiêu chuẩn,  
tự do, phỏng vấn sâu, phỏng vấn định hướng.  
12  
THỐNG KÊ TRONG KINH DOANH  
Chương 1 – Giới thiệu chung và thu thập dữ liệu  
+ Phỏng vấn nhóm: chỉ thường áp dụng phỏng vấn nhóm tiêu chuẩn (cơ cấu tiêu  
chuẩn, đồng nhất) và phỏng vấn nhóm tự do (không đồng nhất) trong khi vẫn tuân thủ nội  
dung phỏng vấn tiêu chuẩn hoặc tự do đã nói trên.  
Trên đây là các loại phỏng vấn trực diện khác nhau, việc lựa chọn loại hình nào là tuỳ  
thuộc mục đích điều tra, số lượng người cần điều tra, số lượng và chất lượng người phỏng  
vấn, khả năng tài chính cho phép ...  
5.2.1.3. Phỏng vấn qua điện thoại  
Phỏng vấn qua điện thoại chỉ là phỏng vấn miệng với cá nhân, nhưng người phỏng  
vấn và người được phỏng vấn không gặp mặt trực tiếp mà thông qua điện thoại.  
*) Ưu điểm của phỏng vấn qua điện thoại: ngày nay người ta áp dụng phổ biến với  
những chủ đề rộng rãi hơn và cũng thường là kết hợp với các phương pháp khác.  
+ Tiết kiệm chi phí hơn: Phỏng vấn qua điện thoại rẻ hơn nhiều so với các cuộc  
phỏng vấn trực diện (Trong một nghiên cứu so sánh kỹ càng của Trung tâm điều tra khảo sát  
thuộc trường đại học tổng hợp Michigan cho thấy: một cuộc điều tra 1500 cá nhân, theo cách  
phỏng vấn trực diện tốn khoảng 84000 USD, theo cách phỏng vấn qua điện thoại tốn 38000  
USD. Điều này có nghĩa là mỗi cuộc phỏng vấn trực diện tốn khoảng 55 USD trong khi  
phỏng vấn qua điện thoại là 23 USD). Đào tạo, tập huấn chuẩn bị cho nhân viên điều tra  
trong điều tra trực diện đắt gấp 2 lần so với điều tra qua điện thoại. Giá cho việc đi lại của  
nhân viên điều tra chiếm gần 20% trong nghiên cứu trực diện trong khi đó không mất phí  
tổn này trong điều tra qua điện thoại.  
+ Tiết kiệm thời gian: Ngồi trong văn phòng gọi điện thoại cho người được phỏng  
vấn tiết kiệm thời gian và công sức hơn phải ra ngoài phỏng vấn trực diện.  
+ Điều tra qua điện thoại khách quan hơn: Vì người phỏng vấn không thể thấy người  
trả lời nên người trả lời có thể sẵn lòng tiết lộ các thông tin riêng tư hơn là phỏng vấn trực  
diện.  
*) Nhược điểm của phỏng vấn qua điện thoại: có 3 điều bất lợi đối với phỏng vấn  
qua điện thoại.  
+ Mất nhiều công sức chọn số điện thoại: trong số những số điện thoại được chọn  
ngẫu nhiên chỉ có một số là thành công trong việc vì nhiều lý do khác nhau ( không đúng đối  
tượng, không gặp, không trả lời...)  
+ Giảm hứng thú khi phỏng vấn qua điện thoại: Khi phỏng vấn qua điện thoại, người  
trả lời dễ dàng trả lời cuộc phỏng vấn hơn so với khi người phỏng vấn đang đứng hay ngồi  
cạnh họ. Nhưng vì không nhìn thấy nhau nên người phỏng vấn khó định lượng mức độ quan  
tâm của người trả lời hơn. Do vậy người phỏng vấn cần phải cố giữ cuộc nói chuyện qua  
điện thoại trôi chảy sao cho người trả lời không có thời gian cân nhắc xem liệu họ có bận  
quá hay chán quá. Điều này có nghĩa là thu được những thông tin sâu từ câu hỏi mở trong  
một điều tra qua điện thoại là rất khó.  
13  
THỐNG KÊ TRONG KINH DOANH  
Chương 1 – Giới thiệu chung và thu thập dữ liệu  
+ Việc đưa ra các gợi ý hay hỗ trợ thêm bằng quan sát là khó có thể thực hiện được.  
Chẳng hạn, không thể gợi ý bằng cách đưa ra một danh sách để lựa chọn hay khi cần những  
phản ứng đối với hình ảnh...  
5.2.1.4. Phỏng vấn qua thư (kể cả thư điện tử)  
Đây là 1 trường hợp đặc biệt của phương pháp anket, trong đó bảng hỏi không được  
phân phát tận nơi người trả lời mà gửi qua bưu điện hoặc theo dạng thư ngỏ trên mang  
internet. Phương pháp này đỡ tốn kém hơn nhưng tỷ lệ trả lời rất thấp.  
Nếu dùng hình thức gửi thư qua bưu điện, Cơ quan bưu điện có thể giao được bảng  
câu hỏi đến mọi chỗ có địa chỉ rõ ràng - khả năng nhận được của người trả lời cao. Người trả  
lời có thể trả lời thoải mái, có suy nghĩ với những câu hỏi dứt khoát hoặc họ cũng trả lời tốt  
với những câu hỏi cần xem thêm những lưu trữ (của họ) cho thêm chính xác. Việc nặc danh,  
làm cho người trả lời có thể thổ lộ những vấn đề riêng tư không bao giờ nói với người phỏng  
vấn. Phí tổn chỉ phải chi trả cho việc ghi địa chỉ, in ấn, cước phí và điều hành. Nhưng  
phương pháp này cũng có những hạn chế đáng kể, nhất là những bảng trả lời được gửi về  
nhỏ giọt và nhiều địa chỉ không còn đúng nữa….  
5.2.2. Phương pháp quan sát  
Là phương pháp thu thập thông tin được chuẩn bị một cách khoa học theo những mục  
đích đã vạch ra dựa trên việc quan sát đối tượng điều tra. Các phương pháp quan sát :  
• Quan sát lộ diện: người điều tra trực tiếp tham gia vào quá trình hoạt động của đối  
tượng được quan sát. Người quan sát có thể đóng vai trò là trung lập, đứng ngoài  
cuộc để quan sát hoặc có thể chủ động tham gia tích cực cùng với người được quan  
sát.  
• Quan sát giấu mặt: thông qua camera, máy ghi âm  
• Quan sát có kết cấu: việc quan sát được tiến hành dựa trên các tiêu thức được chuẩn  
bị từ trước.  
• Quan sát không có kết cấu: là quan sát một cách tự do và người quan sát ghi chép lại  
tất cả những điều quan sát được.  
5.2.3. Phương pháp thực nghiệm  
• Được sử dụng nhằm kiểm tra một số nhận định sơ bộ nào đó. Là phương pháp thu  
thập thông tin được chuẩn bị một cách khoa học theo những mục đích đã vạch ra, có  
cách quan sát riêng về từng đối tượng và có sự chọn lọc thông tin.  
• Nội dung: người điều tra tạo ra một tình huống gần giống với tình huống thực tế rồi  
quan sát cách ứng xử của những người được điều tra  
• Ưu điểm : cho phép ta xác định được hành động của người được quan sát.  
14  
THỐNG KÊ TRONG KINH DOANH  
Chương 1 – Giới thiệu chung và thu thập dữ liệu  
• Nhược điểm: Chỉ thấy biểu hiện của hành động mà khó xác định được mục đích,  
nguyên nhân dẫn đến hành động đó là gì, có nghĩa là khó đi sâu vào bản chất của nó  
nếu không sử dụng các phương pháp khác.  
5.2.4. Phương pháp phân tích thông tin sẵn có  
- Là phương pháp thu thập thông tin gián tiếp qua việc phân tích các tài liệu đã có sẵn  
(các tài liệu của các cơ quan lưu trữ, từ các cuộc nghiên cứu trước, từ các phương tiện thông  
tin đại chúng...). Thực chất của phương pháp này chỉ đơn thuần là một phương tiện để có  
một phân tích mới về các dữ liệu được thu thập cho các mục đích khác.  
- Ưu điểm : Tiết kiệm về chi phí và nhân công  
- Nhược điểm: Các tài liệu này thường ít được phân chia theo các tiêu thức cần  
nghiên cứu, vì vậy khó có thể tìm được nguyên nhân và các mối liên hệ qua lại giữa các tiêu  
thức. Hơn nữa các cơ quan thống kê thường chỉ lưu trữ số liệu về các hiện tượng kinh tế, còn  
các số liệu về các hiện tượng và quá trình xã hội ít được lưu trữ hơn.  
5.3. Các loại câu hỏi  
*) Theo công dụng của câu hỏi chia thành hai nhóm: theo nội dung và theo chức năng kỹ  
thuật.  
-
Theo nội dung, chia thành các loại :  
+ Câu hỏi sự kiện.  
+ Câu hỏi về tri thức  
+ Câu hỏi về quan điểm, thái độ, động cơ.  
-
Theo chức năng kỹ, chia thành các loại:  
+ Câu hỏi tâm lý  
+ Câu hỏi lọc  
+ Câu hỏi kiểm tra  
*) Theo biểu hiện của câu hỏi và câu trả lời  
-
Theo biểu hiện của câu trả lời:  
+ Câu hỏi đóng  
+ Câu hỏi mở  
+ Câu hỏi nửa đóng  
-
Theo biểu hiện của câu hỏi  
+ Câu hỏi trực tiếp  
+ Câu hỏi gián tiếp  
6. Thiết kế phương án điều tra.  
15  
THỐNG KÊ TRONG KINH DOANH  
Chương 1 – Giới thiệu chung và thu thập dữ liệu  
Để tổ chức tốt một cuộc điều tra, đòi hỏi phải xây dựng được phương án điều tra thật  
chi tiết, tỷ mỉ, cụ thể và toàn diện. Đây chính là tài liệu hướng dẫn thực hiện cuộc điều tra,  
trong đó xác định rõ những bước tiến hành, những vấn đề cần phải giải quyết, cần được hiểu  
thống nhất trong suốt quá trình thực hiện. Đối với các cuộc điều tra lớn, có liên quan đến  
nhiều cấp, nhiều ngành, như Tổng điều tra dân số, việc xây dựng phương án điều tra cần có  
sự phối hợp, bàn bạc thống nhất giữa cơ quan thống kê và các ngành có liên quan và phải  
được cấp trên có thẩm quyền phê duyệt. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, phương án  
điều tra thường được được xây dựng dưới dạng “đề xuất kỹ thuật” và “đề xuất tài chính” cho  
cuộc nghiên cứu. Đây chính là căn cứ để cơ quan có thẩm quyền phê duyệt hoặc là căn cứ để  
cơ quan chủ quản tiến hành xét chọn thầu theo quy định chung của nhà nước.  
Phương án của mỗi cuộc điều tra có thể khác nhau, tùy thuộc điều kiện cụ thể của nó.  
Nhưng nhìn chung, mỗi phương án điều tra thường gồm những nội dung chủ yếu sau:  
- Xác định mục đích điều tra.  
- Xác định phạm vi, đối tượng và đơn vị điều tra.  
- Xác định nội dung điều tra và thiết lập phiếu điều tra.  
- Chọn thời điểm, thời kỳ và thời hạn điều tra.  
- Lựa chọn phương pháp điều tra, tổng hợp số liệu và phương pháp tính các chỉ tiêu điều  
tra.  
- Xây dựng phương án tài chính cho cuộc điều tra.  
- Lập kế hoạch tổ chức và tiến hành điều tra.  
6.1. Xác định mục đích điều tra  
Bất kỳ một hiện tượng kinh tế xã hội nào cũng đều có thể được quan sát, xem xét,  
nghiên cứu trên nhiều mặt, nhiều khía cạnh, nhiều góc độ khác nhau. Nghiên cứu trên mỗi  
mặt, mỗi khía cạnh khác nhau sẽ cho ta đưa những kết luận khác nhau về hiện tượng và phục  
vụ những yêu cầu nghiên cứu cũng khác nhau. Vì vậy, trước khi tiến hành điều tra, cần xác  
định rõ xem cuộc điều tra này nhằm tìm hiểu vấn đề gì, phục vụ cho yêu cầu nghiên cứu nào.  
Đó chính mục đích của cuộc điều tra.  
Mục đích điều tra còn là một trong những căn cứ quan trọng để xác định đối tượng, đơn  
vị điều tra, xây dựng kế hoạch và nội dung điều tra. Vì vậy, việc xác định đúng, rõ ràng mục  
đích điều tra sẽ là cơ sở quan trọng cho việc thu thập số liệu ban đầu đầy đủ, hợp lý, đáp ứng  
yêu cầu nghiên cứu đặt ra.  
Căn cứ để xác định mục đích điều tra thường là những nhu cầu thực tế cuộc sống,  
hoặc những nhu cầu hoàn chỉnh lý luận... Những nhu cầu này được biểu hiện trực tiếp bằng  
các yêu cầu, đề nghị, mong muốn của cơ quan chủ quản (người sử dụng thông tin).  
6.2. Xác định phạm vi, đối tượng và đơn vị điều tra  
16  
THỐNG KÊ TRONG KINH DOANH  
Chương 1 – Giới thiệu chung và thu thập dữ liệu  
Xác định đối tượng điều tra là xác định xem những đơn vị tổng thể nào thuộc phạm vi  
điều tra, cần được thu thập thông tin. Như vậy, khi các đối tượng điều tra được chỉ rõ, cũng  
có nghĩa là phạm vi nghiên cứu đã được xác định, ranh giới giữa hiện tượng nghiên cứu với  
các tổng thể khác, hiện tượng khác cũng được phân biệt rõ ràng, tránh được tình trạng trùng  
lặp hay bỏ xót khi tiến hành điều tra.  
Muốn xác định chính xác đối tượng điều tra, một mặt phải dựa vào sự phân tích lý luận,  
nêu lên những tiêu chuẩn cơ bản phân biệt hiện tượng nghiên cứu với các hiện tượng liên  
quan, phân biệt đơn vị tổng thể này với các đơn vị tổng thể khác, đồng thời cũng còn phải  
căn cứ vào vào mục đích nghiên cứu. Trong cuộc Tổng điều tra dân số ngày 1/4/1999 ở nước  
ta, đối tượng điều tra được xác định là “nhân khẩu thường trú”. Điều này, vừa giúp thực hiện  
tốt các mục đích điều tra đã được nêu rõ trong mục trên, vừa giúp cho quá trình điều tra  
không bị trùng hay bỏ xót bất kỳ một nhân khẩu nào của nước ta. Tuy nhiên, trong phương  
án điều tra cũng cần phải có những quy định cụ thể về tiêu chuẩn xác định xác định “nhân  
khẩu thường trú” để tránh nhầm lẫn.  
Đơn vị điều tra là đơn vị thuộc đối tượng điều tra và được điều tra thực tế. Đơn vị điều  
tra chính là nơi phát sinh các tài liệu ban đầu, điều tra viên cần đến đó để thu thập trong mỗi  
cuộc điều tra. Như vậy, nếu việc xác định đối tượng điều tra là trả lời câu hỏi “điều tra ai?”,  
thì việc xác định đơn vị điều tra là trả lời câu hỏi “điều tra ở đâu?”. Trong một số trường  
hợp, đơn vị điều tra và đối tượng điều tra có thể trùng nhau. Ví dụ trong cuộc điều tra nghiên  
cứu tình hình phát triển của các doanh nghiệp công nghiệp nhà nước thành phố Hà Nội, thì  
cả đối tượng và đơn vị điều tra đều là các doanh nghiệp công nghiệp nhà nước của thành  
phố. Nhưng cũng có nhiều trường hợp, chúng lại khác nhau. Ví dụ trong Tổng điều tra dân  
số ở nước ta ngày 1/4/1999, đối tượng điều tra là “nhân khẩu thường trú”, còn đơn vị điều tra  
lại được xác định là các “hộ gia đình” và các “hộ tập thể”. Trong các cuộc điều tra chọn  
mẫu, đơn vị điều tra chỉ bao gồm những đối tượng được chọn vào mẫu.  
Cần phân biệt đơn vị điều tra và đơn vị tổng thể. Đơn vị tổng thể là các phần tử, các đơn  
vị cấu thành hiện tượng, mà qua đó ta có thể xác định được quy mô tổng thể. Việc xác định  
số đơn vị tổng thể liên quan đến việc lập phương án điều tra, chọn phương pháp điều tra, ước  
lượng kinh phí điều tra... còn việc xác định số đơn vị điều tra lại liên quan đến việc tổ chức  
ghi chép, đăng ký tài liệu, phân bổ cán bộ...  
6.3. Xác định nội dung điều tra và thiết lập phiếu điều tra  
Xác định nội dung điều tra là việc trả lời câu hỏi “điều tra cái gì?”. Nội dung điều tra  
là toàn bộ các đặc điểm cơ bản của từng đối tượng, từng đơn vị điều tra, mà ta cần thu được  
thông tin. Trong thực tế, các đơn vị của hiện tượng nghiên cứu thường có rất nhiều đặc điểm  
khác nhau. Tuy nhiên, không thể và cũng không cần thiết phải thu thập toàn bộ các tiêu thức  
đó, mà chỉ cần những tiêu thức có liên quan đến mục đích nghiên cứu, phục vụ được cho  
việc nghiên cứu . Vì vậy, bất kỳ cuộc điều tra nào cũng cần phải xác định rõ, cụ thể nội dung  
điều tra.  
Việc xác định nội dung điều tra, cần căn cứ vào các yếu tố sau:  
17  
THỐNG KÊ TRONG KINH DOANH  
Chương 1 – Giới thiệu chung và thu thập dữ liệu  
- Mục đích điều tra: Mục đích điều tra chỉ rõ cần thu thập những thông tin nào để đáp  
ứng yêu cầu của nó. Mục đích điều tra khác nhau, nhu cầu thông tin cũng khác nhau.  
Mục đích càng nhiều, nội dung điều tra càng phải rộng, càng phải phong phú.  
- Đặc điểm của hiện tượng nghiên cứu: Tất cả những hiện tượng mà thống kê nghiên  
cứu đều tồn tại trong những điều kiện cụ thể về thời gian và không gian. Khi điều kiện  
này thay đổi, đặc điểm của hiện tượng cũng thay đổi. Khi đó, các biểu hiện của chúng  
cũng khác nhau. Vì vậy, việc lựa chọn tiêu thức nghiên cứu cũng phải khác nhau.  
- Năng lực, trình độ thực tế của đơn vị, của người tổ chức điều tra. Điều này biểu hiện ở  
khả năng về tài chính, về thời gian, về kinh nghiệm và trình độ tổ chức điều tra. Nếu  
tất cả các yếu tố này được đảm bảo tốt, có thể mở rộng nội dung điều tra, nhưng vẫn  
đảm bảo chất lượng của các thông tin thu được. Trường hợp ngược lại, cần kiên quyết  
loại bỏ những nội dung chưa thực sự cần thiết  
Ngoài ra, nội dung điều tra cũng chỉ nên bao gồm những tiêu thức có liên hệ chặt chẽ  
với nhau, để có thể kiểm tra tính chính xác của những thông tin thu được.  
Để có thể thu được những thông tin một cách chính xác và đầy đủ, nội dung của mỗi  
cuộc điều tra phải được diễn đạt thành những câu hỏi ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu và mọi  
người đều hiểu theo một nghĩa thống nhất. Về mặt hình thức, các câu hỏi này có thể được  
diễn đạt theo hai cách: câu hỏi đóng là các câu hỏi đã có sẵn các phương án trả lời (thang  
điểm) có thể, người trả lời chỉ cần chọn 1 trong những cách trả lời đã được đưa ra; Câu hỏi  
mở không có trước những phương án trả lời, người được hỏi tự diễn đạt câu trả lời. Các cuộc  
điều tra thống kê ít sử dụng loại câu hỏi thứ hai này.  
Phiếu điều tra (hay còn gọi là biểu điều tra hay bảng hỏi) là tập hợp các câu hỏi của  
nội dung điều tra, được sắp xếp theo một trật tự logic nhất định. Tùy theo yêu cầu, nội dung  
và đối tượng, mỗi cuộc điều tra có thể phải xây dựng nhiều loại phiếu khác nhau. Phiếu điều  
tra là công cụ để thực hiện cuộc điều tra, nên nó phải phản ánh đầy đủ nội dung điều tra.  
Việc thiết kế phiếu phải đảm bảo các yêu cầu về mỹ thuật, tiết kiệm và tiện dụng. Về mặt mỹ  
thuật, phiếu phải được thiết kế đẹp, dễ đọc, có khả năng lôi kéo, duy trì sự quan tâm của  
người trả lời. Việc sắp xếp các hàng, các cột, bố trí khổ giấy... sao cho phải đảm bảo yêu  
cầu tiết kiệm, nhưng lại thuận lợi cho việc ghi chép, mã hóa, nhập số liệu và kiểm tra lại sau  
này.  
Thông thường, trong các tài liệu của cuộc điều tra, người ta còn soạn thảo bản giải  
thích cách ghi phiếu điều tra. Bản giải thích này thường đi kèm theo phiếu điều tra nhằm  
giúp cho điều tra viên và người trả lời nhận thức thống nhất các câu hỏi được đặt ra, cách thu  
thập và ghi chép số liệu. Đối với những câu hỏi phức tạp, khó trả lời người ta còn đặt ra  
những ví dụ cụ thể và những quy định về các trường hợp ngoại lệ...  
6.4. Chọn thời điểm, thời kỳ và quyết định thời hạn điều tra.  
18  
THỐNG KÊ TRONG KINH DOANH  
Chương 1 – Giới thiệu chung và thu thập dữ liệu  
Các hiện tượng nghiên cứu luôn thay đổi theo thời gian và không gian. Muốn thu  
thập được chính xác các thông tin về chúng, cần có quy định thống nhất về thời điểm, thời  
kỳ và thời hạn điều tra.  
Thời điểm điều tra là mốc thời gian được quy định thống nhất mà cuộc điều tra phải  
thu thập thông tin về hiện tượng tồn tại đúng thời điểm đó. Nếu cuộc điều tra được tiến hành  
vào thời điểm sau đó, thì người trả lời phải hồi tưởng lại để “miêu tả trạng thái của hiện  
tượng” vào đúng thời điểm điều tra.  
Thời kỳ điều tra là khoảng thời gian (tuần, tháng, năm...) được quy định để thu thập số  
liệu về lượng của hiện tượng được tích lũy trong cả thời ký đó.  
Thời hạn điều tra là khoảng thời gian dành cho việc thực hiện nhiệm vụ thu thập số  
liệu. Thời hạn dài hay ngắn phụ thuộc vào quy mô, tính phức tạp của hiện tượng nghiên cứu  
và nội dung điều tra, vào khả năng, kinh nghiệm của điều tra viên. Nhìn chung, thời hạn điều  
tra không nên quá dài, cách quá xa thời điểm điều tra vì có thể làm mất thông tin do người  
trả lời không nhớ đầy đủ các sự kiện đã xảy ra.  
6.5. Lập kế hoạch tổ chức và tiến hành điều tra.  
Lập kế hoạch tổ chức và tiến hành điều tra là một vấn đề trọng yếu của điều tra thống  
kê. Kế hoạch này quy định cụ thể từng bước công việc phải tiến hành trong quá trình từ khâu  
tổ chức đến triển khai điều tra thực tế. Vì vậy, nó được xây dựng càng chi tiết, tỷ mỉ, rõ ràng,  
cụ thể thì càng dễ thực thi, chất lượng của cuộc điều tra càng được nâng cao. Tuy nhiên, đây  
là một công việc phức tạp, đòi hỏi người lập kế hoạch phải có kinh nghiệm và am hiểu tình  
hình thực tế. Một kế hoạch tổ chức và tiến hành điều tra gồm rất nhiều khâu công việc.  
Thông thường, nó có thể gồm một số khâu chủ yếu là:  
- Thành lập Ban chỉ đạo điều tra và quy định nhiệm vụ cụ thể cho cơ quan điều tra các  
cấp.  
- Chuẩn bị lực lượng cán bộ điều tra, phân công trách nhiệm, địa bàn cho từng cán bộ  
và tiến hành tập huấn nghiệp vụ cho họ.  
- Lựa chọn phương pháp điều tra thích hợp.  
- Định các bước tiến hành điều tra.  
- Phân chia khu vực và địa bàn điều tra.  
- Tổ chức các cuộc hội nghị chuẩn bị.  
- Tiến hành điều tra thử để rút kinh nghiệm, nâng cao trình độ nghiệp vụ cho cán bộ  
điều tra và hoàn thiện phương án điều tra, phiếu điều tra.  
- Xây dựng phương án tài chính và chuẩn bị các phương tiện vật chất khác.  
- Tuyên truyền mục đích, ý nghĩa của cuộc điều tra.  
....  
19  
THỐNG KÊ TRONG KINH DOANH  
Chương 1 – Giới thiệu chung và thu thập dữ liệu  
7. Các loại sai số trong điều tra.  
Các cuộc điều tra thống kê, dù có cố gắng làm thật tốt vẫn thường gặp những trường  
hợp mà số liệu điều tra không trùng khớp với số liệu thực tế của hiện tượng nghiên cứu.  
Người ta gọi là sai số. Sai số trong điều tra thống kê là chênh lệch giữa trị số thực của hiện  
tượng nghiên cứu so với trị số của nó mà điều tra thống kê thu được. Sai số này làm giảm  
chất lượng của các cuộc điều tra, ảnh hưởng đến kết quả của tổng hợp và phân tích. Do đó,  
ảnh hưởng đến chất lượng của toàn bộ quá trình nghiên cứu thống kê. Trong các cuộc điều  
tra thống kê, người ta phải cố gắng áp dụng nhiều biện pháp để hạn chế sai số này.  
Tuỳ theo các nguyên nhân dẫn đến sai số mà chia thành các loại sai số sau:  
- Sai số do đăng ký xảy ra đối với mọi cuộc điều tra thống kê. Nó phát sinh do việc  
đăng ký số liệu ban đầu không chính xác. Nguyên nhân gây ra loại sai số này rất đa dạng, có  
thể do cân đong, đo, đếm sai, tính toán sai, ghi chép sai, do dụng cụ đo lường không chuẩn  
xác ... Nếu phân chia chi tiết hơn, ta có thể chia loại sai số này thành sai số ngẫu nhiên và sai  
số có hệ thống, do cố ý, có chủ định của người điều tra và người trả lời. Sai số ngẫu nhiên là  
những sai số phát sinh một cách tình cờ, không có chủ định, không có bất kỳ một sự sắp đặt  
trước nào của người điều tra. Nó xảy ra hoàn toàn ngẫu nhiên. Loại sai số này chịu sự chi  
phối của quy luật số lớn, tức là nếu ta điều tra càng nhiều đơn vị, các sai lệch ngẫu nhiên sẽ  
có khả năng bù trừ, triệt tiêu nhau làm cho sai số chung càng nhỏ. Sai số có hệ thống, có chủ  
định thường xảy ra do chủ định của người điều tra, người trả lời hoặc sai số một cách có hệ  
thống do lỗi của hệ thống đo lường, hệ thống thang đo được thiết kế không chuẩn xác… Loại  
sai số này không chịu sự chi phối của quy luật số lớn, nên điều tra càng nhiều, khả năng xảy  
ra sai số sẽ càng lớn.  
-
Sai số do tính chất đại biểu của số đơn vị được chọn trong điều tra chọn mẫu. Các  
đơn vị được chọn không đảm bảo đại diện cho toàn bộ tổng thể sẽ phát sinh sai số khi suy  
luận kết quả của mẫu cho tổng thể chung. Nguyên nhân dẫn đến sai số này là do: cỡ mẫu  
không đủ lớn, cố tình vi phạm nguyên tắc chọn mẫu, và do bản thân nguyên tắc chọn mẫu  
ngẫu nhiên gây nên.  
-
Sai số do đo lường là sai số do sử dụng thước đo không tốt mà nguyên nhân trực  
tiếp là do câu hỏi tồi (sử dụng thang đo, triển khai thang điểm không phù hợp…)  
Để đảm bảo các kết quả điều tra đạt độ chính xác cao, cần áp dụng một số biện pháp để  
hạn chế sai số :  
- Làm tốt công tác chuẩn bị điều tra: thông thường, trong các cuộc điều tra thống kê,  
công tác chuẩn bị chiếm vị trí rất quan trọng, nó đòi hỏi một sự đầu tư chất xám khá lớn.  
Công tác chuẩn bị càng chu đáo, tỷ mỉ, thận trọng và chi tiết, đặc biệt là trong việc thiết lập  
phương án điều tra, xây dựng phiếu điều tra, lựa chọn và tập huấn cán bộ điều tra càng làm  
tốt, sai số điều tra càng giảm.  
- Tiến hành kiểm tra có hệ thống toàn bộ cuộc điều tra: kiểm tra là biện pháp có hiệu  
quả để sửa chữa, uốn nắn kịp thời các sai lầm có thể mắc phải trong quá trình điều tra. Việc  
20  
THỐNG KÊ TRONG KINH DOANH  
Chương 1 – Giới thiệu chung và thu thập dữ liệu  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 112 trang myanh 21980 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Thống kê trong kinh doanh (Phần 1)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_thong_ke_trong_kinh_doanh_phan_1.pdf