Giáo trình Sinh thái học các khái niệm và ứng dụng (Quyển 1)

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỶ LỢI  
BỘ MÔN QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN  
SINH THÁI HỌC  
CÁC KHÁI NIỆM VÀ ỨNG DỤNG  
(Quyển 1)  
(Dùng cho sinh viên ngành Thủy lợi)  
(L u hµnh n i b )  
HÀ NỘI - 2009  
1
Những người tham gia biên dịch:  
PGS.TS. LÊ THỊ NGUYÊN (Chủ biên)  
ThS. NGUYỄN THÁI HÒA  
ThS. NGUYỄN THỊ HẰNG NGA  
TS. NGUYỄN THỊ LAN HƯƠNG  
2
GIỚI THIỆU TÁC GIẢ  
Dr. Manuel Malles là giáo sư sinh học của trường Đại học New Mexico. Ông là giáo viên  
trong khoa và là người quản lý Bảo tàng Sinh học miền Tây Nam từ năm 1975. Ông tốt nghiệp đại  
học năm 1971 tại trường Đại học thuộc bang Humboldt và năm 1976 tốt nghiệp tiến sĩ thuộc khoa  
Sinh thái học và Tiến hoá Sinh học tại trường Đại học Arizona. Qua việc giảng dạy và nghiên cứu  
môn Sinh thái học ở châu Mỹ Latinh, Caribbean và châu Âu, tác giả đã mở rộng môn địa lý học.  
Tác giả đã được nhận học bổng nghiên cứu của Fulbright để hướng dẫn nghiên cứu sinh thái học  
dòng sông ở Bồ Đào Nha và đã được bổ nhiệm làm giáo sư thịnh giảng khoa động vật học tại  
trường Đại học Coimbra, Bồ Đào Nha và tại phòng thí nghiệm thuỷ văn ở trường Đại học bách  
khoa của Madrrid, Tây Ban Nha và tại trường Đại học của Trạm sinh học hồ Flathead Montana.  
Nền tảng (backgraund) đào tạo của tác giả là nhà sinh thái học biển và nhà sinh học cá ở  
trường Đại học New Mexico nên tác giả nghiên cứu chủ yếu về sinh thái học dòng sông và ven  
sông. Nghiên cứu của tác giả liên quan đến nhiều kiến thức về các mức độ sinh thái học, bao gồm  
sinh thái học hành vi, sinh học quần thể, sinh thái học quần xã, sinh thái học hệ sinh thái, địa lý  
sinh học của các loài côn trùng dòng sông và ảnh hưởng của chế độ khí hậu vĩ mô (Elninô) đến  
động thái của các hệ sinh thái dòng sông và ven sông ở miền Tây Nam. Nghiên cứu hiện nay của  
tác giả liên quan đến tác động của ngập lụt và thực vật ngoại lai đến cấu trúc và động thái của hệ  
sinh thái ven sông Ro Grande.  
Toàn bộ nội dung kiến thức phụ trách, tác giả đã cố gắng kết hợp áp dụng vào nghiên cứu,  
giảng dạy đại học và sau đại học và phục vụ sản xuất. Ở trường đại học New Mexico, tác giả  
giảng dạy cho nhiều bộ môn và sau đại học, bao gồm các môn như: Nguyên lý sinh học, Tiến hoá  
và Sinh thái học, Sinh thái dòng sông, Hồ học và Hải dương học, Sinh học biển và Quần xã và  
Sinh thái học hệ sinh thái. Đồng thời, tác giả giảng dạy những môn như Sinh thái học dòng sông  
và sự thay đổi toàn cầu ở trường Đại học Coimbra, Bồ Đào Nha và môn Nước ngầm và Sinh thái  
học ven sông ở Trạm Sinh học hồ Flathead. Năm 1995 - 1996, Dr. Manuel được gọi là Teacher of  
the Year và Potter Chair về Sinh thái thực vật năm 2000 của trường Đại học New Mexico.  
3
 
LỜI NÓI ĐẦU  
Khoảng 2.500 năm trước, triết gia Hy Lạp Zeno nêu ra một nghịch lý đến nỗi làm cho các trợ  
giáo và sinh viên của họ phải đối mặt với thách thức. Trong truyền thuyết về Asin và con rùa,  
Zeno chỉ rõ rằng một người chạy nhanh như huyền thoại Asin, cho rùa xuất phát trước trong cuộc  
đua, anh ta không bao giờ đuổi kịp nó. Zeno cho rằng từ khoảng cách với vô số điểm không xác  
định giữa Asin và con rùa, khoảng cách vô cùng ấy làm cho anh ta không bao giờ bắt kịp. Toán  
học hiện đại đã giải được bài toán nghịch đó và chúng ta có thể yên chí rằng ngay cả trong lý  
thuyết vạn vật của Zeno, những vận động viên chạy Olimpic có thể đuổi kịp những con rùa. Bởi  
vậy đây là điều rút ra từ dẫn luận của Zeno cho phạm vi các ngành học với các môn khoa học  
năng động như Sinh thái học.  
Thách thức cho các trợ giảng và sinh viên Sinh thái học lớn hơn nhiều so với Asin. Lớn hơn  
nhiều bởi vì họ có cuộc đấu với những đối thủ mạnh với sự xuất phát trước từ rất lâu. Giống như  
họ cố gắng bao trùm khoảng không giữa sự bắt đầu và kết thúc chủ đề này, những bước đi nhanh  
của khám phá sự chuyển động của giới hạn những môn học đi trước không phải với tốc độ của rùa  
mà là tốc độ của thỏ rừng. Zeno có thể rất hạnh phúc trong thế giới này bởi trong đó các trợ giáo  
và sinh viên của họ không bao giờ đuổi kịp. Tuy vậy với sự tổ chức chu đáo và phương tiện hiện  
đại như Mạng lưới toàn cầu (Wold - Wide - Web) họ có thể tiến tới gần hơn.  
Năm 1991 tại hội nghị về Xã hội hóa Sinh thái học ở San Antonio, Texas America, Paul  
Risser nhà sinh thái học lỗi lạc đã cảnh báo giáo sinh của môn sinh thái học phải chú ý tới các  
khái niệm chính trong lĩnh vực đó. Nếu chúng ta chia chủ đề lớn và chủ đề động thái về sinh thái  
học ra quá nhỏ, chúng ta sẽ không bao trùm được trong một hoặc hai học kỳ đào tạo. Risser cho  
rằng, khi tập trung vào các khái niệm lớn, chúng ta sẽ cung cấp cho sinh viên một khung tổng quát  
về môn học từ đó sinh viên có thể phát triển ra.  
Giáo trình này cố gắng giải quyết thách thức của Risser. Mỗi chương cấu trúc gồm 2 đến 4  
các khái niệm lớn để trình bày cho sinh viên có thể hiểu và nhớ được một cách tổng hợp các vấn  
đề. Tác giả cho thấy, khi bắt đầu học môn sinh thái học, sinh viên có thể tiếp thu được một số khái  
niệm cơ bản, họ có thể bỏ qua những vấn đề chi tiết. Mỗi khái niệm được củng cố bằng các  
trường hợp lịch sử qua việc cung cấp các bằng chứng đối với các khái niệm đó và giới thiệu cho  
sinh viên các phương pháp nghiên cứu đã sử dụng trong lĩnh vực sinh thái học khác nhau, những  
kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học trên thế giới, cung cấp những kiến thức cơ bản và những  
vấn đề cần thiết của môn học cho sinh viên và giúp sinh viên nhớ lại các thông tin được học.  
Để học môn sinh thái học, sinh viên cần phải có những kiến thức cơ bản về toán, hoá học,  
sinh học đại cương như kiến thức về sinh lý, đa dạng sinh học và tiến hoá sinh vật.  
Cấu trúc môn học  
Phần đầu giáo trình giới thiệu tổng quát về tự nhiên và lịch sử môn sinh thái học. Phần I gồm  
2 chương. Về lịch sử tự nhiên là sự sống trên cạn và sự sống dưới nước. Từ phần II đến phần VI  
gồm những kiến thức: Sinh thái học cá thể; Sinh thái học quần thể; Các quan hệ tương tác sinh  
thái học; Quần xã và hệ sinh thái và cuối cùng là Sinh thái vĩ mô gồm các chương về sinh thái  
cảnh quan, sinh thái địa lý và sinh thái toàn cầu.  
4
   
Các đặc trưng mới của lần xuất bản này  
Có 3 chương mới trong lần xuất bản này, đó là các chương 7, 8 và 12. Những kiến thức của  
các chương này là bổ sung thêm về tiến hóa và hành vi ứng xử sinh thái học. Chương 7 “các quan  
hệ xã hội của sinh vật” nằm trong phần II của giáo trình này giới thiệu về sinh thái học hành vi  
ứng xử. Chương này cũng đề cập đến sinh thái cá thể bao gồm các quan hệ tương tác giữa các cá  
thể trong môi trường xã hội. Chương 7 tập trung vào sự lựa chọn giao phối, tuyển chọn giới tính  
và tiến hóa trong xã hội. Các nội dung chứng minh sự giao phối của sinh vật thể hiện trong nghiên  
cứu về cá nước ngọt, loài bướm và củ cải dại. Tính hợp quần của sinh vật được sử dụng để nghiên  
cứu về sự hợp tác giữa chim đầu rìu ăn gỗ và sư tử Châu Phi. Phần ứng dụng và công cụ tiếp tục  
thảo luận về tính hợp quần của sinh vật chỉ giới thiệu phương pháp so sánh các loài trong xã hội.  
Phần III đã bổ sung chương 8 là chương có tên là “quần thể gen và chọn lọc tự nhiên”. Chương  
này giới thiệu những khái niệm cơ bản về sinh thái tiến hóa thông qua các nội dung liên quan đến di  
truyền và đa dạng kiểu gen trong các quần thể, nguyên lý Hardy - Weinberg, sự thay đổi về cấu trúc  
gen trong các quần thể do quá trình ngẫu nhiên và chọn lọc tự nhiên. Tất cả các nội dung trong  
giáo trình cố gắng nghiên cứu rất đa dạng về thực vật, động vật, kể cả động vật có xương sống và  
không có xương sống.  
Chương mới thứ 3 là chương 12 có tên “lịch sử sự sống của sinh vật”. Chương này bao gồm  
phần sinh học quần thể và bổ sung thêm vấn đề về tiến hóa. Các nội dung trong chương này bắt  
đầu thảo luận với sự thỏa hiệp giữa kích thước con và số lượng con, còn “nguyên tắc phân bố”  
giới thiệu ở chương 6, với các nội dung liên quan đến mối quan hệ giữa sự sống sót ở tuổi trưởng  
thành và tuổi bắt đầu sinh sản. Nội dung của chương 12 là sự phân loại lịch sử sự sống, bắt đầu  
với sự lựa chọn r và K và kết thúc bằng sự phân loại lịch sử sự sống xuất hiện cơ hội chủ nghĩa  
(r), trạng thái cân bằng (K) và lịch sử sự sống theo chu kỳ khi các hướng tiến hóa có sự lựa chọn.  
Chương này cũng đề cập đến thực vật và động vật ở khắp nơi. Phần ứng dụng và công cụ cung  
cấp những kiến thức về lịch sử sự sống của thực vật hiện nay đang được sử dụng để khôi phục  
rừng ven sông ở phía tây Bắc Mỹ.  
Các trợ giúp học tập  
Trừ chương 1, tất cả các chương đều có kết cấu như sau:  
Giới thiệu: Đưa ra những chủ đề có trong thực tế nhằm làm tăng thêm hứng thú học tập của  
sinh viên và những thông tin cơ bản quan trọng. Một số vấn đề được giới thiệu là những sự kiện  
lịch sử liên quan đến chủ đề môn học và đưa vào làm ví dụ cho quá trình sinh thái học. Mọi cố  
gắng là để thu hút và lôi cuốn sinh viên vào thảo luận những vấn đề của mỗi chương.  
Các khái niệm (nội dung): Mục tiêu của giáo trình là đưa ra các kiến thức cơ bản để sinh  
viên có sự hiểu biết về sinh thái học xung quanh các khái niệm chủ chốt. Các khái niệm được liệt  
kê sau phần giới thiệu của mỗi chương để đưa ra cho sinh viên biết về các nội dung chính trong  
chương sẽ trình bày và cung cấp những vấn đề để sinh viên có thể tìm thấy trong những mục lục  
về các nội dung quan trọng của mỗi chương.  
CÁC KHÁI NIỆM  
Nhiệt độ không đồng đều trên bề mặt hình cầu của trái đất là do mặt trời và độ nghiêng của  
trái đất trên trục của nó kết hợp lại đã cho các dự báo về sự thay đổi khí hậu theo vĩ độ.  
Sự phân bố quần xã sinh vật trên cạn theo vùng địa lý thay đổi theo khí hậu, đặc biệt là  
nhiệt độ và lượng mưa.  
5
     
Các nội dung: Các nội dung được trình bày dưới dạng chuyện kể qua đó nhấn mạnh các  
khái niệm, củng cố thêm các bằng chứng và giới thiệu cho sinh viên các phương pháp các tác  
giả đã nghiên cứu môn học sinh thái học. Những kiến thức trong giáo trình này cung cấp cho  
sinh viên gần giống với các trường hợp nghiên cứu tiếp cận của sinh viên tốt nghiệp trường luật  
và trường y khoa.  
Ứng dụng và công cụ: Nhiều sinh viên muốn biết làm thế nào để tóm tắt được các ý tưởng và  
các mối tương tác chung được áp dụng trong các vấn đề sinh thái. Các vấn đề đó liên quan đến  
thực hành về sinh thái học và muốn biết rõ hơn về các công cụ khoa học áp dụng. Do đó ở mỗi  
chương tác giả đã đưa phần ứng dụng và công cụ vào. Rõ ràng, các nhà sinh thái chuyên nghiệp  
thường nhằm vào các khía cạnh thực hành sinh thái để hỗ trợ sinh viên biết cách tóm tắt và các  
khía cạnh lý thuyết của lĩnh vực đó.  
Tóm tắt: Mỗi chương đều có phần tóm tắt những điểm chính về nội dung của chương. Các  
nội dung chính được viết lại để nhấn mạnh lại một lần nữa.  
Các câu hỏi ôn tập: Các câu hỏi được thiết kế để sinh viên suy nghĩ sâu hơn về mỗi nội dung  
và suy nghĩ nên trả lới như thế nào. Các câu hỏi cũng để lại những ô trống để sinh viên tự ghi vào  
những thông tin cần hỏi.  
Yêu cầu đọc thêm tài liệu tham khảo: Cuối mỗi chương đều có danh sách tài liệu tham khảo  
yêu cầu đọc thêm. Các tài liệu này là nằm ngoài giáo trình. Sinh viên chọn các tài liệu yêu cầu này  
phục vụ cho nhiều mục đích khác nhau. Một số sách cung cấp các kiến thức tổng quan, một số khác  
là các bài báo viết về các vấn đề cụ thể hoặc một vấn đề tranh luận trong sinh thái học.  
Trên internet: Mạng lưới internet toàn cầu là một trong những công cụ mạnh nhất giúp giữ  
lại những sự thay đổi trong sinh thái học. Chỉ cần click Online Learning Center cùng với loại sách  
xuất bản này. Khảo vấn thực tiễn, các bài báo viết về các vấn đề sinh thái và môi trường hiện tại  
và sự đa dạng về hỗ trợ học tập cũng có sẵn trên website: http://www.mhhe.com/ecology để kết  
nối với các chủ đề sau:  
Biomes and Environmental Habitats  
Land use: Forests and Rangelands  
Tropical Rain Forests and Land use Issues  
Atmosphere, Climate and Weather, v.v.  
6
TÓM TẮT CÁC NỘI DUNG CỦA CHƯƠNG  
Chương 1. Giới thiệu: Sinh thái học là gì?  
Chương 2. Cuộc sống trên cạn  
Nhiệt độ không đồng đều trên bề mặt hình cầu của trái đất do mặt trời và độ nghiêng của  
trái đất trên trục của nó kết hợp lại để cho các dự báo về sự thay đổi khí hậu theo vĩ độ.  
Sự phân bố địa lý của các quần xã sinh vật trên cạn phụ thuộc vào sự thay đổi khí hậu đặc  
biệt là nhiệt độ và lượng mưa.  
Chương 3. Cuộc sống trong nước  
Chu kỳ thủy văn làm biến đổi nước trong các hồ chứa nước.  
Sinh vật học trong các môi trường nước phù hợp một cách đa dạng với những sự thay đổi  
của các yếu tố tự nhiên như ánh sáng, nhiệt độ, sự chuyển động của nước, các yếu tố hóa  
học như độ mặn và khí ôxy.  
Chương 4. Quan hệ giữa nhiệt độ và sinh vật  
Đại khí hậu tương tác trong một vùng thiên nhiên sẽ hình thành các tiểu khí hậu.  
Hầu hết các loài đều hoạt động hiệu quả nhất nằm trong một phạm vi khá hẹp về nhiệt độ.  
Rất nhiều các loài sinh vật đã tiến hóa theo nhiều cách để thích nghi với những thay đổi  
của nhiệt độ môi trường qua việc điều chỉnh thân nhiệt của chúng.  
Nhiều loài sinh vật sống sót trong điều kiện nhiệt độ khắc nghiệt bằng cách đi vào giai  
đoạn tạm ngừng nghỉ.  
Chương 5. Quan hệ giữa nước và sinh vật  
Sự chuyển động của nước theo gradient nồng độ giảm trong môi trường cạn và nước quyết  
định khả năng nước sẵn có của sinh vật.  
Động vật và thực vật trên cạn điều tiết nước trong cơ thể bằng sự cân bằng nước giữa  
lượng nước hút vào và mất đi.  
Các sinh vật biển và nước ngọt sử dụng cơ chế phụ để điều tiết nước và muối.  
Chương 6. Năng lượng và quan hệ dinh dưỡng của sinh vật  
Sinh vật sử dụng 1 trong 3 nguồn năng lượng chính: ánh sáng, phân tử hữu cơ hoặc phân  
tử vô cơ.  
Cường độ sinh vật hấp thu năng lượng bị giới hạn.  
Mô hình tối ưu hoá dinh dưỡng của sinh vật.  
Chương 7. Quan hệ xã hội của sinh vật  
Lựa chọn giao phối diễn ra bởi một cá thể hoặc bởi cạnh tranh của nhiều cá thể cùng giới,  
đó có thể là kết quả của sự lựa chọn những đặc tính riêng của các cá thể.  
Sự phát triển của xã hội thường đi cùng với hợp tác dinh dưỡng, bảo vệ các thành viên  
trong đàn và cơ hội sinh sản bị giới hạn.  
Chương 8. Quần thể gen và chọn lọc tự nhiên  
Quần thể bao gồm đa dạng kiểu hình và kiểu gen giữa các cá thể làm nên cấu trúc đặc  
trưng của quần thể  
7
 
Nguyên lý cân bằng Hardy - Weinberg dùng để xác định nguồn gốc tiến hóa đã làm thay  
đổi kiểu gen trong quần thể.  
Biến đổi ngẫu nhiên như biến đổi các gen bất thường thành những gen cơ bản trong quần  
thể, đặc biệt trong quần thể nhỏ.  
Chọn lọc tự nhiên có thể thay đổi kiểu gen và kiểu hình trong quần thể, làm cho các cá thể  
thích nghi hơn với điều kiện môi trường sống.  
Chương 9. Sự phân bố và độ phong phú của quần thể sinh vật  
Môi trường tự nhiên làm giới hạn địa lý phân bố của các loài sinh vật.  
Trong phạm vi không gian hẹp, các cá thể trong quần thể sinh vật có thể được phân bố  
theo các kiểu như phân bố ngẫu nhiên, phân bố đều và phân bố theo nhóm hay điểm. Ở  
phạm vi không gian rộng, các cá thể trong quần thể chỉ phân bố theo nhóm.  
Mật độ quần thể sinh vật giảm khi kích thước cơ thể tăng lên.  
Loài sinh vật hiếm chịu ảnh hưởng bởi phạm vi địa lý, sức chịu đựng của môi trường sống và  
kích thước của quần thể sinh vật; các loài sinh vật hiếm dễ bị tấn công dẫn đến tuyệt chủng.  
Chương 10. Động thái quần thể sinh vật  
Đồ thị tình trạng sống sót tóm tắt kiểu sống sót trong một quần thể sinh vật.  
Sự phân bố tuổi của một quần thể sinh vật phản ánh lịch sử sống sót, khả năng sinh sản và  
khả năng tăng trưởng trong tương lai.  
Bảng sinh tồn kết hợp với bản liệt kê khả năng sinh sản có thể sử dụng để ước tính tốc độ  
sinh sản thực (R0), tốc độ tăng trưởng hình học (), thời gian thế hệ (T) và tốc độ tăng  
trưởng trên mỗi đầu sinh vật (r).  
Sự phân tán có thể làm tăng hoặc giảm mật độ quần thể địa phương.  
Chương 11. Tăng trưởng quần thể sinh vật  
Khi nguồn sống phát triển dồi dào, các quần thể sinh vật có thể sinh trưởng theo hình học  
hoặc hàm mũ.  
Khi nguồn sống giảm xuống, tốc độ tăng tưởng quần thể chậm lại và có thể ngừng tăng  
trưởng; Kiểu tăng trưởng này gọi là tăng trưởng quần thể theo hàm logistic.  
Môi trường giới hạn tăng trưởng quần thể qua sự thay đổi tỉ lệ sinh và tử vong.  
Nói chung, các sinh vật nhỏ có tỉ lệ tăng trưởng trên đầu sinh vật r cao và có các quần thể  
thay đổi nhiều hơn, còn các sinh vật lớn có tỉ lệ tăng trưởng trên đầu sinh vật r thấp và có  
các quần thể thay đổi ít hơn.  
Chương 12. Lịch sử sự sống của sinh vật  
Do tất cả các sinh vật tiếp cận với nguồn năng lượng và các nguồn sống khác hạn chế, nên  
có sự thoả hiệp giữa số lượng và kích thước con; sinh vật sinh ra nhiều con thì kích thước  
con nhỏ và sinh vật sinh ra ít con thì kích thước con lớn.  
Ở đâu sinh vật trưởng thành sống sót thấp, thì sinh vật sẽ sinh sản ở tuổi sớm hơn và đầu  
tư một tỉ lệ lớn dự trữ năng lượng cho sinh sản; Ở đâu sinh vật trưởng thành sống sót cao,  
thì sinh vật sẽ sinh sản ở tuổi muộn hơn và phân phối tỉ lệ nhỏ hơn về nguồn sống cho  
sinh sản.  
Sự đa dạng về lịch sử cuộc sống lớn có thể được phân loại dựa vào một số các đặc trưng  
quần thể như khả năng sinh sản hoặc số lượng con mx, sống sót lx và tuổi trưởng thành  
sinh sản .  
8
Chương 13. Sự cạnh tranh của sinh vật  
Nghiên cứu sự cạnh tranh trong nội bộ loài cung cấp bằng chứng về sự giới hạn nguồn  
sống.  
Ổ sinh thái phản ánh nhu cầu của loài về môi trường  
Các mô hình toán và thí nghiệm cung cấp cơ sở lý thuyết để nghiên cứu các quan hệ cạnh  
tranh trong tự nhiên.  
Sự cạnh tranh có ảnh hưởng của sinh thái và tiến hoá đáng kể đến các ổ sinh thái của loài.  
Chương 14. Sự khai thác: Sự ăn thịt, ăn cỏ, ký sinh và nguồn bệnh  
Sự khai thác kết hợp các quần thể lại với nhau tạo thành một mạng lưới trong các mối  
tương tác mà không có quy luật chung.  
Động vật ăn thịt, vật ký sinh và nguồn bệnh ảnh hưởng đến sự phân bố, sự phong phú và  
cấu trúc của con mồi và các quần thể vật chủ.  
Động thái của các mối tương quan giữa động vật ăn thịt - con mồi, vật chủ - vật ký sinh và  
vật chủ - nguồn bệnh.  
Để tồn tại trước sự khai thác, vật chủ và con mồi cần phải có nơi ẩn náu.  
Chương 15. Quan hệ tương hỗ giữa các sinh vật  
Lợi ích của thực vật từ quan hệ cộng tác hỗ sinh với một đa dạng lớn vi khuẩn, nấm và  
động vật.  
San hô cấu trúc từ đá ngầm phụ thuộc vào mối tương quan hỗ sinh với tảo và động vật  
Dự báo lý thuyết về quan hệ tương hỗ sẽ làm tiến hoá mà ở đó lợi ích của quan hệ tương  
hỗ lớn hơn chi phí.  
Chương 16. Độ phong phú và đa dạng loài  
Hầu hết các loài có độ phong phú trung bình; một số loài rất phong phú nhưng một số loài  
lại cực ít.  
Sự kết hợp giữa số lượng loài và độ phong phú tương đối của loài gọi là sự đa dạng loài.  
Sự đa dạng loài cao hơn ở môi trường phức tạp.  
Sự xáo trộn môi trường ở mức độ trung bình thúc đẩy sự đa dạng loài cao hơn.  
Chương 17. Mạng lưới thức ăn  
Một mạng lưới thức ăn tổng hợp các mối quan hệ dinh dưỡng trong quần xã.  
Các hoạt động kiếm ăn của một số loài chủ chốt có thể điều khiển cấu trúc quần xã.  
Động vật ăn thịt ngoại lai có thể bẻ gãy hoàn toàn và đơn giản hoá cấu trúc của các mạng  
lưới thức ăn.  
Chương 18. Dòng năng lượng và sản lượng sơ cấp  
Sản lượng sơ cấp của hệ sinh thái trên cạn thường bị giới hạn bởi nhiệt độ và độ ẩm.  
Sản lượng sơ cấp của hệ sinh thái dưới nước thường bị giới hạn bởi sự sẵn có của chất  
dinh dưỡng.  
Sinh vật tiêu thụ có thể ảnh hưởng đến tốc độ sản lượng sơ cấp trong hệ sinh thái trên cạn  
và hệ sinh thái dưới nước.  
Sự mất năng lượng làm giới hạn số lượng bậc dinh dưỡng trong các hệ sinh thái.  
9
Chương 19. Chu trình dinh dưỡng và sự giữ chất dinh dưỡng  
Tốc độ phân hủy xác hữu cơ bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ, độ ẩm và thành phần hóa học của  
xác hữu cơ và môi trường.  
Động vật và thực vật có thể làm thay đổi sự phân bố và các chu trình dinh dưỡng trong  
các hệ sinh thái.  
Sự xáo trộn môi trường làm tăng sự mất chất dinh dưỡng trong các hệ sinh thái.  
Chương 20. Diễn thế sinh thái và trạng thái ổn định  
Sự thay đổi quần xã trong diễn thế làm cho sự đa dạng loài tăng lên và thành phần loài  
thay đổi.  
Sự thay đổi hệ sinh thái trong diễn thế là sự tăng lên về sinh khối, sản lượng sơ cấp, hô  
hấp và sự giữ chất dinh dưỡng ở môi trường.  
Cơ chế của diễn thế sinh thái bao gồm tạo điều kiện thuận lợi, chống chịu, kiềm chế  
Sự ổn định của quần xã do không có sự xáo trộn hoặc sự chống chịu của quần xã hay khả  
năng phục hồi nhanh với sự xáo trộn của môi trường.  
Chương 21. Sinh thái cảnh quan  
Cấu trúc cảnh quan bao gồm kích thước, hình dạng, thành phần, số lượng và vị trí các hệ  
sinh thái khác nhau.  
Cấu trúc cảnh quan ảnh hưởng đến quá trình hình thành cảnh quan như dòng năng lượng,  
vật chất và các loài giữa các hệ sinh thái trong một cảnh quan.  
Các cảnh quan được cấu trúc và thay đổi phù hợp với quá trình hình thành địa chất, khí  
hậu, các hoạt động của sinh vật và lửa.  
Chương 22. Sinh thái học địa lý  
Trên quần đảo và các mảnh môi trường sống trên lục địa, độ giàu loài tăng lên theo diện  
tích và giảm xuống khi chúng sống độc lập.  
Độ giàu loài trên quần đảo có thể mô hình hóa khi có sự cân bằng động giữa nhập cư và  
tuyệt chủng.  
Độ giàu loài thường tăng lên từ vĩ độ trung bình và cao đến xích đạo.  
Quá trình lịch sử và vùng sống lâu dài ảnh hưởng đáng kể đến cấu trúc khu sinh vật và các  
hệ sinh thái.  
Chương 23. Sinh thái toàn cầu  
Sự dao động của El Nino ở phía Nam là khí quyển quy mô lớn và hiện tượng của đại  
dương ảnh hưởng đến các hệ sinh thái trên phạm vi toàn cầu.  
Hoạt động của con người đã làm tăng số lượng chu trình cố định nitơ (N) trong sinh  
quyển.  
Sự thay đổi nhanh về các kiểu sử dụng đất trên toàn cầu làm đe dọa đa dạng sinh học.  
Hoạt động của con người đang làm tăng nồng độ CO2, có thể làm tăng nhiệt độ trái đất.  
Tài liệu tham khảo  
10  
MỤC LỤC  
11  
12  
6.2.1. Sử dụng ánh sáng và CO2 .............................................................................................. 208  
13  
14  
15  
16  
 
Chương 1. Giới thiệu  
Chương 1  
GIỚI THIỆU  
1.1. SINH THÁI HỌC LÀ GÌ?  
Sinh thái học là nghiên cứu về mối quan hệ giữa các sinh vật và môi trường. Con người cũng  
là một thực thể trong hệ sinh thái từ rất xa xưa khi chúng ta tồn tại như một loài sinh vật trên trái  
đất. Chúng ta tồn tại được chính là nhờ vào khả năng nhận biết, thích nghi với sự biến đổi của môi  
trường và dự đoán được những phản ứng của các sinh vật đối với những thay đổi của môi trường.  
Ngay từ thời tiền sử, với cuộc sống bầy đàn chủ yếu dựa vào săn bắn, hái lượm con người đã hiểu  
rõ được thói quen của những loài động vật săn mồi. Họ cũng đã biết tìm thức ăn ở đâu, cho đến  
khi biết làm chín thức ăn. Sau đó, những người nông dân làm ruộng và chăn nuôi gia súc cũng dần  
ý thức được sự thay đổi của thời tiết và đất đai, cũng như những ảnh hưởng của chúng đến mùa  
màng và việc chăn nuôi gia súc.  
Ngày nay, hầu hết dân số trên trái đất đang sống trong các thành phố, đô thị và đa số chúng ta  
tiếp xúc trực tiếp rất ít với thiên nhiên. Hơn lúc nào hết, chúng ta biết được tương lai của những  
loài sinh vật sống xung quanh ta phụ thuộc vào việc hiểu biết được mối quan hệ giữa các sinh vật  
và môi trường. Chúng ta cần phải nghiên cứu về những mối quan hệ này bởi vì các loài sinh vật  
ngày càng làm thay đổi nhanh chóng môi trường trên trái đất, nhưng chúng ta lại không hiểu hết  
được những hậu quả từ những sự thay đổi này. Ví dụ, hoạt động của con người đã làm tăng số  
lượng vòng tuần hoàn nitơ một cách nhanh chóng trong bầu sinh quyển, sự thay đổi việc sử dụng  
đất đai trên phạm vi toàn cầu và làm tăng hàm lượng khí CO2 trong không khí. Những thay đổi  
này đã đe dọa sự đa dạng sinh học trên trái đất và có thể làm nguy hại đến hệ thống cung cấp, nuôi  
dưỡng sự sống. Vào buổi bình minh của thế kỷ 21, một điều cực kỳ cấp bách rằng chúng ta một  
lần nữa lại trở thành một yếu tố quan trọng trong sinh thái học.  
Ngoài định nghĩa đơn giản về sinh thái học dựa trên một môn khoa học sinh thái rộng lớn thì  
phần lớn đều không theo một định nghĩa nào. Các nhà sinh thái học có thể nghiên cứu đơn lẻ về  
các sinh vật, mảng rừng hoặc hồ nước, hoặc nghiên cứu về toàn bộ trái đất. Những chuẩn mực  
được đưa ra của các nhà sinh thái học tính đến cả các sinh vật đơn lẻ, tỷ lệ tái sinh, tốc độ và các  
quá trình như quang hợp và sự phân hủy. Các nhà sinh thái học thường dành nhiều thời gian để  
nghiên cứu về những yếu tố phi sinh vật của môi trường, ví dụ nhiệt độ, thành phần hóa học của  
đất cũng như nghiên cứu về các sinh vật. Trong khi đó, “môi trường” của các sinh vật trong một  
số nghiên cứu sinh thái có thể lại là những loài sinh vật. Các nhà sinh thái học không chỉ đơn  
thuần nghiên cứu ngoài thực địa mà còn xây dựng các mô hình lý thuyết của hệ sinh thái hoặc  
nghiên cứu sinh thái học trong phòng thí nghiệm. Rõ ràng, định nghĩa đơn giản về sinh thái học  
không tạo nên sự liên kết lớn về các môn học hay sự đa dạng về đội ngũ nghiên cứu thực địa. Để  
có một ý tưởng rõ ràng hơn về sinh thái học, hãy cùng xem một cách ngắn gọn những nghiên cứu  
tiếp cận của một số nhà sinh thái học.  
17  
 
Chương 1. Giới thiệu  
Các nội dung.  
Sinh thái học của các loài chim trong rừng: Sử dụng nghiên cứu thực địa để kiểm tra lý  
thuyết.  
Sinh thái học của các loài ong: Góp phần vào nghiên cứu thực địa và phòng thí nghiệm.  
Nguồn dinh dưỡng của rừng: Sự kiểm kê và thử nghiệm trên quy mô lớn.  
Sự thay đổi của thực vật: Thông tin từ hồ sơ phấn hoa và nghệ thuật làm mẫu vật  
Bản chất tự nhiên và mục đích của sinh thái học  
1.2. SINH THÁI HỌC CÁC LOÀI CHIM TRONG RỪNG: SỬ DỤNG CÁC NGHIÊN CỨU  
THỰC ĐỊA ĐỂ KIỂM TRA LÝ THUYẾT  
Robert MacArthur tập trung nghiên cứu nhờ vào các ống nhòm của ông. Tác giả đã theo dõi  
các loài chim nhỏ gọi là chim chích (một trong các loài chim biết hót), tìm các loài côn trùng trên  
đỉnh của cây gỗ vân sam. Một sự quan sát tình cờ ngẫu nhiên, MacArthur dường như là một người  
ngắm chim cuối tuần. Vâng! Ông đã thực sự thích thú với các chú chim mà ông đang nghiên cứu,  
nhưng ông chỉ thích thú việc kiểm tra lý thuyết về sinh thái học.  
Năm 1995, MacArthur nghiên cứu sinh thái học về 5 loài chim chích mà chúng sống cùng  
nhau trong khu rừng vân sam miền Đông Bắc của Bắc Mỹ. Trong 5 loài chim này, Cape May  
(Dendroica tigrina), loài lông đuôi vàng (D. coronata), chim xanh cổ đen (D. virens), loài chim  
đen xám (D. fusca), và loài chim ngực hồng (D. castanea), đều có kích thước, hình dạng giống  
nhau và ăn cùng loại côn trùng. Lý thuyết đã giả thiết rằng hai loài với những đòi hỏi về sinh thái  
giống nhau có thể so sánh với nhau và như một hệ quả, chúng có thể sống trong cùng một môi  
trường. MacArthur đã nghiên cứu để tìm hiểu làm thế nào mà một số loài xuất hiện trong cùng  
một điều kiện đòi hỏi về sinh thái học giống nhau lại có thể sống cùng nhau trong một khu rừng.  
Các loài chim này chủ yếu ăn mót những loại côn trùng từ vỏ cây hoặc tán lá cây. MacArthur  
đã dự báo rằng những loài chim này có thể cùng tồn tại và không cạnh tranh với nhau nếu chúng  
ăn các loại côn trùng sống ở những khu vực khác nhau trên cùng một cây. Để khoanh vùng thức  
ăn của các loài chim này, ông đã chia nhỏ các cây theo chiều ngang và chiều dọc, sau đó cẩn thận  
ghi lại khoảng thời gian mà các loài chim này sử dụng trên từng khu vực được chia.  
Sự dự đoán của MacArthur đã được chứng minh là đúng. Những theo dõi về số lượng đã thể  
hiện rằng 5 loài chim được ông chọn nghiên cứu, tìm kiếm thức ăn trong các vùng khác nhau trên  
cây vân sam. Hình 1.1 cho thấy, loài chim Cape May chủ yếu ăn côn trùng ở khu chùm lá và chồi  
non trên đỉnh của cây vân sam. Khu vực ăn mồi của loài chim đen xám bao trùm lên cả khu ăn  
mồi của loài Cape May nhưng mở rộng về phía dưới của cây. Loài chim xanh cổ đen lại kiếm ăn  
ngay phía giữa của thân cây. Loài chim xanh ngực hồng tập trung kiếm ăn ở giữa thân cây và tán  
cây phía bên trong. Cuối cùng, loài lông đuôi vàng chủ yếu kiếm ăn ở mặt đất và dưới thân cây.  
Những theo dõi của MacArthur đã chỉ ra rằng, cuộc sống của các loài chim này trong cùng một  
khu rừng, chúng tìm kiếm thức ăn từ những vùng, khu vực khác nhau. Ông đã kết luận rằng, kiếm  
ăn ở các vùng khác nhau có thể làm giảm sự cạnh tranh giữa các loài chim chích này trong các  
khu rừng vân sam.  
18  
 
Chương 1. Giới thiệu  
Hình 1.1. Vùng kiếm mồi của các loài chim chích  
Nghiên cứu của MacArthur (1958) về thức ăn cho các loài chim chích là một sự thật kinh  
điển trong lịch sử của sinh thái học. Tuy nhiên, giống như các nghiên cứu khác, nó đã nảy ra rất  
nhiều các câu hỏi và trả lời. Một nghiên cứu khoa học rất quan trọng trong cả hai mặt đó là về  
những gì chúng ta trực tiếp học được và làm thế nào mà nó khơi dậy những môn khoa học khác để  
chứng minh sự hiểu biết của chúng ta về nó. Công việc của MacArthur đã liên quan và khơi dậy  
nhiều nghiên cứu về sự cạnh tranh giữa các nhóm sinh vật, bao gồm cả các loài chim chích. Một  
trong số các nghiên cứu này đã mang lại các kết quả tích cực, thuận lợi cho công việc của ông  
cũng như đưa lại các kết quả khác nhau của các nghiên cứu. Tất cả những điều đó giúp chúng ta  
hiểu biết về sự canh tranh giữa các loài và sinh thái học các loài chim.  
Một nhà sinh thái học khác đã có những nghiên cứu mở rộng những hiểu biết về sinh thái học  
các loài chim một cách công phu, đó là Douglass Morse (1980, 1989). Những nghiên cứu của ông  
đề cấp đến một loạt các câu hỏi được đặt ra bởi nghiên cứu của MacArthur, kể cả câu hỏi rằng  
liệu các loài chim chích có kiếm ăn trên cùng một khu vực khi vắng mặt một hoặc nhiều loài  
khác. Morse đã nghiên cứu khả năng này và so sánh khu vực ăn mồi của các loài chim chích khi  
có hoặc vắng mặt những loài chim chích khác.  
Morse đã so sánh khu vực ăn mồi của các loài chim chích từ trong rừng vân sam trên khu  
vực đất liền của vùng Maine đến khu vực ăn mồi trên những hòn đảo nhỏ. Những hòn đảo này  
nằm cách đất liền từ 0,2 đến 1,5 km và là nơi trú ngụ của 1 đến 3 loài chim chích. Hai loài chim  
chích sống trên các hòn đảo này là loài chim xanh cổ đen, chim lông đuôi vàng đồng thời cũng  
trú ngụ tại vùng nghiên cứu của MacArthur. Morse cũng đã tìm thấy loài chim xanh cổ đen  
cũng kiếm mồi ở cùng với khoảng khu vực ăn mồi kể cả khi chúng sống trong đất liền với rất  
nhiều loài chim chích khác hoặc trên các đảo với hai loài chim khác. Ngược lại, loài chim lông  
đuôi vàng lại chuyển đến kiếm mồi ở khu vực ăn mồi phía trên ở ngoài các đảo, nơi không có  
loài chim đen cổ xanh. Sự thay đổi khu vực ăn mồi của các quần thể chim lông đuôi vàng được  
biểu thị trong hình 1.2.  
19  
Chương 1. Giới thiệu  
Hình 1.2. Vùng kiếm mồi của loài chim chích thay đổi lên cao  
Tại sao khu vực kiếm mồi trên cây vân sam của loài chim lông đuôi vàng lại cao hơn khi có  
loài chim xanh cổ đen xuất hiện tại đó? Morse đã phát hiện ra rằng khu vực kiếm mồi của các loài  
chim chích sống trong các khu rừng vân sam là được duy trì ít nhất một phần bởi sự tương tác  
quần tụ giữa các loài. Ông cũng khám phá ra một điều là loài chim xanh cổ đen có ưu thế sống  
thành đàn vượt trội hơn hẳn so với loài chim chích lông đuôi vàng. Do đó, việc quần tụ của loài  
chim xanh cổ đen có thể loại trừ được loài chim lông đuôi vàng trong vùng kiếm ăn tiềm năng.  
Morse cũng đã đưa ra nhận xét: sự tương tác quần tụ giữa các loài chim chích giúp cho việc duy  
trì những khu vực kiếm ăn khác nhau, điều mà MacArthur đã từng miêu tả.  
Những nghiên cứu của MacArthur và Morse chỉ ra rằng làm thế nào để các hoạt động nghiên  
cứu tại thực địa có thể được sử dụng nhằm vào những câu hỏi quan trọng về sinh thái học. Các  
nghiên cứu thực địa cũng có thể kết hợp với các nghiên cứu trong phòng thí nghiệm nhằm mang  
lại những thông tin chi tiết về hệ sinh thái. Chúng ta sẽ theo dõi thí nghiệm dưới đây, cách tiếp  
cận này thể hiện một nghiên cứu công phu về sinh thái học loài ong.  
1.3. SINH THÁI HỌC CỦA CÁC LOÀI ONG: GÓP PHẦN VÀO NGHIÊN CỨU THỰC  
ĐỊA VÀ PHÒNG THÍ NGHIỆM  
Những vấn đề phức tạp về sinh thái học đòi hỏi sự kết hợp giữa những nghiên cứu thực địa và  
các nghiên cứu trong phòng thí nghiệm. Những nghiên cứu ngoài thực địa mang lại thông tin  
trong bối cảnh thiên nhiên. Những nghiên cứu trong phòng thí nghiệm có thể cung cấp cho chúng  
ta những số liệu trong điều kiện môi trường được kiểm soát. Hai cách tiếp cận này mang lại những  
thông tin bổ trợ lẫn nhau.  
Bernd Heindrich đã giải quyết rất nhiều vấn đề phức tạp về hệ sinh thái thông qua việc sử  
dụng, kết hợp giữa các nghiên cứu trong phòng thí nghiệm và các nghiên cứu thực địa. Một trong  
những dự án nghiên cứu của ông đã chỉ ra rằng loài ong sống chủ yếu ở các vùng có khí hậu mát  
trên trái đất. Chúng sinh sống tại tất cả các vùng khí hậu, trên các vùng núi cao nhiệt đới ẩm và  
phía trên vùng Bắc Cực. Hai loài sống xa hơn về phương Bắc, nơi không có sự hiện diện của con  
người. Trong tất cả các vùng này, các loài ong thường được giữ ấm vùng ngực của chúng, phần cơ  
thể chứa các vùng cơ để bay, cũng là nơi chứa cánh và các chân, khi chúng vận động. Duy trì  
nhiệt độ ấm của cơ thể trong một môi trường lạnh giá đòi hỏi cần phải tiêu hao năng lượng.  
Heinrich nhận thấy để hiểu được sinh thái học của loài ong, ông sẽ phải xác định được năng lượng  
tiêu hao và năng lượng phục hồi của chúng.  
20  
 
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 413 trang Mãnh Khiết 13/01/2024 10720 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Sinh thái học các khái niệm và ứng dụng (Quyển 1)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_sinh_thai_hoc_cac_khai_niem_va_ung_dung_quyen_1.pdf