Giáo trình môn Hệ thống truyền động điện - Chương 6: Các nguyên tắc điều khiển tự động truyền động điện

CH¦¥NG 6  
C¸C NGUY£N T¾C §IÒU KHIÓN  
Tù §éNG TRUYÒN §éNG §IÖN (3 tiết)  
6.1 Khái niệm chung  
Theo yêu cầu công nghệ của máy, cơ cấu sản xuất, các hệ thống truyền động điện tự  
động đều được thiết kế tính toán để làm việc ở những trạng thái (hay chế độ) xác định. Những  
trạng thái sự cố hay hư hỏng khác thông thường đã được dự đoán khi thiết kế tính toán chúng  
để áp dụng những thiết bị và biện pháp bảo vệ cần thiết.  
Những trạng thái làm việc của hệ thống truyền động điện tự động có thể được đặc trưng  
bằng các thông số như: tốc độ làm việc của các động cơ truyền động hay của cơ cấu chấp  
hành máy sản xuất, dòng điện phần ứng của động cơ hay dòng kích thích của động cơ điện  
một chiều, mômen phụ tải trên trục của động cơ truyền động... Tuỳ theo quá trình công nghệ  
yêu cầu mà các thông số trên có thể lấy các giá trị khác nhau. Việc chuyển từ giá trị này đến  
giá trị khác được thực hiện tự động nhờ hệ thống điều khiển.  
Kết quả hoạt động của phần điều khiển sẽ đưa hệ thống động lực của truyền động điện  
đến một trạng thái làm việc mới, trong đó có ít nhất một thông số đặc trưng cho mạch động  
lực lấy giá trị mới.  
Như vậy về thực chất điều khiển hệ thống là đưa vào hoặc đưa ra khỏi hệ thống những  
phần tử, thiết bị nào đó (chẳng hạn điện trở, điện kháng, điện dung, khâu hiệu chỉnh...) để  
thay đổi một hoặc nhiều thông số đặc trưng hoặc để giữ một thông số nào đó (chẳng hạn tốc  
độ quay) không thay đổi khi có sự thay đổi ngẫu nhiên của thông số khác. Để tự động điều  
khiển hoạt động của truyền động điện, hệ thống điều khiển phải có những cơ cấu, thiết bị thụ  
cảm được giá trị các thông số đặc trưng cho chế độ công tác của truyền động điện (có thể là  
môđun, cũng có thể là cả về dấu của thông số).  
Trong hệ thống điều khiển gián đoạn các phần tử thụ cảm này phải làm việc theo các  
ngưỡng chỉnh định được. Nghĩa là khi thông số được thụ cảm đến trị số ngưỡng đã đặt, phần  
tử thụ cảm theo thông số này sẽ bắt đầu làm việc phát ra một tín hiệu đưa đến phần tử chấp  
hành. Kết quả là sẽ đưa vào hoặc đưa ra khỏi mạch động lực những phần tử cần thiết.  
Nếu hệ thống điều khiển có tín hiệu phát ra từ phần tử thụ cảm được dòng điện, ta nói  
rằng hệ điều khiển theo nguyên tắc dòng điện. Nếu phần tử thục cảm được tốc độ, ta nói rằng  
hệ điều khiển theo nguyên tắc tốc độ, nếu có phần tử thụ cảm được thời gian của quá trình (từ  
một mốc thời gian nào đó) ta nói rằng hệ điều khiển theo nguyên tắc thời gian. Tương tự có  
hệ điều khiển theo nguyên tắc nhiệt độ, theo mômen, theo chiều công suất...  
6.2 Điều khiển tự động theo nguyên tắc thời gian.  
a) Nội dung nguyên tắc điều khiển theo thời gian:  
Điều khiển theo nguyên tắc thời gian dựa trên cơ sở là thông số làm việc của mạch động  
lực biến đổi theo thời gian. Những tín hiệu điều khiển phát ra theo một quy luật thời gian cần  
thiết để làm thay đổi trạng thái của hệ thống.  
Bộ môn TĐ-ĐL, Khoa Điện  
79  
Những phần tử thụ cảm được thời gian để phát tín hiệu cần được chỉnh định dựa theo  
ngưỡng chuyển đổi của đối tượng. Ví dụ như tốc độ, dòng điện, mômen của mỗi động cơ  
được tính toán chọn ngưỡng cho thích hợp với từng hệ thống truyền động điện cụ thể.  
Những phần tử thụ cảm được thời gian có thể gọi chung là rơle thời gian. Nó tạo nên  
được một thời gian trễ (duy trì) kể từ lúc có tín hiệu đưa vào (mốc 0) đầu vào của nó đến khi  
nó phát được tín hiệu ra đưa vào phần tử chấp hành.  
Cơ cấu duy trì thời gian có thể là: cơ cấu con lắc, cơ cấu điện từ, khí nén, cơ cấu điện  
tử, tương ứng là rơle thời gian kiểu con lắc, rơle thời gian điện từ, rơle thời gian khí nén và  
rơle thời gian điện tử...  
b) Mạch điều khiển truyền động điện điển hình theo nguyên tắc thời gian:  
Xét mạch điều khiển khởi động động cơ điện một chiều kích từ độc lập có hai cấp điện  
trở phụ trong mạch phần ứng để hạn chế dòng điện khởi động ở trên theo nguyên tắc thời  
gian. Sơ đồ mạch điều khiển như hình 6.1.  
_
+
1
M
§g  
1RTh  
1G  
D
5
3
§g  
§g  
7
_
+
1G  
2G  
§g  
r1 r2  
1RTh  
2§g  
11  
9
¦
2G  
2RTh  
CK  
2RTh  
13  
_
+
Hình 6.1 - Điều khiển khởi động động cơ ĐMđl theo nguyên tắc thời gian.  
Trạng thái ban đầu sau khi cấp nguồn động lực và điều khiển thì rơle thời gian 1RTh  
được cấp điện mở ngay tiếp điểm thường kín đóng chậm RTh(9-11). Để khởi động ta phải ấn  
nút mở máy M(3-5), côngtắctơ Đg hút sẽ đóng các tiếp điểm ở mạch động lực, phần ứng động  
cơ điện được đấu vào lưới điện qua các điện trở phụ khởi động r1, r2. Dòng điện qua các điện  
trở có trị số lớn gây ra sụt áp trên điện trở r1. Điện áp đó vượt quá ngưỡng điện áp hút của rơle  
thời gian 2RTh làm cho nó hoạt động sẽ mở ngay tiếp điểm thường kín đóng chậm 2RTh(11-  
13), trên mạch 2G cùng với sự hoạt động của rơle 1RTh chúng đảm bảo không cho các  
côngtắctơ 1G và 2G có điện trong giai đoạn đầu của quá trình khởi động.  
Tiếp điểm phụ Đg(3-5) đóng để tự duy trì dòng điện cho cuộn dây côngtắctơ Đg khi ta  
thôi không ấn nút M nữa. Tiếp điểm Đg(1-7) mở ra cắt điện rơle thời gian 1RTh đưa rơle thời  
gian này vào hoạt động để chuẩn bị phát tín hiệu chuyển trạng thái của truyền động điện. Mốc  
không của thời gian t có thể được xem là thời điểm Đg(1-7) mở cắt điện 1RTh.  
Bộ môn TĐ-ĐL, Khoa Điện  
80  
ω
ω
I 1  
ω0  
A
I 2  
ω2  
ω1  
ω2  
IC  
ω1  
M
t
0
0
MC M 2  
M1  
t1  
t2  
Hình 6.2 - Đặc tính khởi động động cơ ĐMđl theo nguyên tắc thời gian.  
Thời gian chỉnh định ở mỗi cấp điện trở được tính theo công thức:  
M1 −MC  
M2 − MC  
ti = Tci.ln  
trong đó Tci - hằng số thời gian điện cơ của động cơ ở đặc tính có điện trở phụ ở cấp thứ i.  
J∆ωi  
M1 − M2  
Tci =  
Với ∆ωi là khoảng biến thiên tốc độ trên đường đặc tính cơ có cấp điện trở thứ i ở  
những mômen chuyển đổi M1, M2 tương ứng.  
J là mômen quán tính cơ của hệ thống truyền động và động cơ, tính quy đổi về trục  
động cơ.  
Sau khi rơle thời gian 1RTh nhả, cơ cấu duy trì thời gian sẽ tính thời gian từ gốc không  
cho đến đạt trị số chỉnh định thì đóng tiếp điểm thường kín đóng chậm RTh(9-11). Lúc này  
cuộn dây côngtắctơ gia tốc 1G được cấp điện và hoạt động đóng tiếp điểm chính của nó ở  
mạch động lực và cấp điện trở phụ thứ nhất r1 bị nối ngắn mạch. Động cơ sẽ chuyển sang  
khởi động trên đường đặc tính cơ thứ 2. Việc ngắn mạch điện trở r1 làm cho rơle thời gian  
2RTh mất điện và cơ cấu duy trì thời gian của nó cũng sẽ tính thời gian tương tự như đối với  
rơle 1RTh, khi đạt đến trị số chỉnh định nó sẽ đóng tiếp điểm thường đóng đóng chậm  
2RTh(11-13). Côngtắctơ gia tốc 2G có điện hút tiếp điểm chính 2G, ngắn mạch cấp điện trở  
thứ hai r2, động cơ sẽ chuyển sang tiếp tục khởi động trên đường đặc tính cơ tự nhiên cho đến  
điểm làm việc ổn định A.  
c) Nhận xét về điều khiển truyền động điện theo nguyên tắc thời gian:  
Ưu điểm của nguyên tắc điều khiển theo thời gian là có thể chỉnh được thời gian theo  
tính toán và độc lập với thông số của hệ thống động lực. Trong thực tế ảnh hưởng của mômen  
cản MC của điện áp lưới và của điện trở cuộn dây hầu như không đáng kể đến sưk làm việc  
của hệ thống và đến quá trình gia tốc của truyền động điện, vì các trị số thực tế sai khác với trị  
số thiết kế không nhiều.  
Thiết bị của sơ đồ đơn giản, làm việc tin cậy cao ngay cả khi phụ tải thay đổi, rơle thời  
gian dùng đồng loạt cho bất kỳ công suất và động cơ nào, có tính kinh tế cao.  
Bộ môn TĐ-ĐL, Khoa Điện  
81  
Nguyên tắc thời gian được dùng rất rộng rãi trong truyền động điện một chiều cũng như  
xoay chiều.  
6.3 Điều khiển tự động theo nguyên tắc tốc độ.  
a) Nội dung nguyên tắc:  
Tốc độ quay trên trục động cơ hay của cơ cấu chấp hành là một thông số đặc trưng quan  
trọng xác định trạng thái của hệ thống truyền động điện. Do vậy, người ta dựa vào thông số  
này để điều khiển sự làm việc của hệ thống. Lúc này mạch điều khiển phải có phần tử thụ cảm  
được chính xác tốc độ làm việc của động cơ - gọi là rơle tốc độ. Khi tốc độ đạt được đến  
những trị số ngưỡng đã đặt thì rơle tốc độ sẽ phát tín hiệu đến phần tử chấp hành để chuyển  
trạng thái làm việc của hệ thống truyền động điện đến trạng thái mới yêu cầu.  
Rơle tốc độ có thể cấu tạo theo nguyên tắc ly tâm, nguyên tắc cảm ứng, cũng có thể  
dùng máy phát tốc độ. Đối với động cơ điện một chiều có thể gián tiếp kiểm tra tốc độ thông  
qua sức điện động của động cơ. Đối với động cơ điện xoay chiều có thể thông qua sức điện  
động và tần số của mạch rôto để xác định tốc độ.  
Hình 6.3 trình bày sơ lược cấu tạo của rơle tốc độ kiểu cảm ứng. Rôto (1) của nó là một  
nam châm vĩnh cửu được nối trục với động cơ hay cơ cấu chấp hành. Còn stato (2) cấu tạo  
như một lồng sóc và có thể quay được trên bộ đỡ của nó. Trên cần (3) gắn vào stato bố trí má  
động (11) của 2 tiếp điểm có các má tĩnh là (7) và (15).  
11  
7
15  
5
4
Hình 6.3 - Cấu tạo rơle  
tốc độ kiểu cảm ứng.  
3
2
1
ω
Khi rôto không quay các tiếp điểm (7),(11) và (15),(11) mở, vì các lò xo giữ cần (3) ở  
chính giữa. Khi rôto quay tạo nên từ trường quay quét stato, trong lồng sóc có dòng cảm ứng  
chạy qua. Tác dụng tương hỗ giữa dòng này và từ trường quay tạo nên mômen quay làm cho  
stato quay đi một góc nào đó. Lúc đó các lò xo cân bằng (4) bị nén hay kéo tạo ra một mômen  
chống lại, cân bằng với mômen quay điện từ.  
Tuỳ theo chiều quay của rôto mà má động (11) có thể đến tiếp xúc với má tĩnh (7) hay  
(15).  
Trị số ngưỡng của tốc độ được điều chỉnh bởi bộ phận (5) thay đổi trị số kéo nén của lò  
xo cân bằng.  
Bộ môn TĐ-ĐL, Khoa Điện  
82  
Khi tốc độ quay của rôto bé hơn trị số ngưỡng đã đặt, mômen điện từ còn bé không  
thắng được mômen cản của các lò xo cân bằng nên tiếp điểm không đóng được. Từ lúc tốc độ  
quay của rôto đạt giá trị lớn hơn hoặc bằng ngưỡng đã đặt thì mômen điện từ mới thắng được  
mômen cản của các lò xo làm cho phần tĩnh quay, đóng tiếp điểm tương ứng theo chiều quay  
của rôto.  
b) Mạch điều khiển truyền động điện điển hình theo nguyên tắc tốc độ :  
Ta cũng lấy trường hợp điều khiển mở máy động cơ để xét những ví dụ cụ thể.  
Như đã thấy ở ví dụ trước, việc ngắn mạch các điện trở khởi động trong mạch phần ứng  
động cơ có thể thực hiện được ở tốc độ ω1, ω2 và ω3. Để làm các phần tử kiểm tra tốc độ, ở  
đây ta dùng các côngtăctơ gia tốc 1G, 2G và 3G có cuộn dây mắc trực tiếp vào 2 đầu phần  
ứng động cơ, nó tiếp thụ được điện áp tỷ lệ với tốc độ động cơ với sai lệch nhỏ.  
CK  
_
_
+
+
3G 2G 1G  
§g  
¦
3G  
§g  
M
D
+
5
_
3
2G  
1G  
§g  
ω
U
U
3G  
ω0  
U
2G  
4
ω3  
ω2  
3
U
1G  
2
1
U
u
ω1  
e
M
t
0
0
(I2 )  
(I )  
M2  
M1  
t1  
t2 t3  
1
Hình 6.4 - Điều khiển khởi động động cơ ĐMđl theo nguyên  
tắc tốc độ.  
Trên hình 6.4 các tiếp điểm chuyển đổi trạng thái cần xảy ra ở tốc độ (ω1,I2), (ω2,I2) và  
(ω3,I2). Ở các điểm này, điện áp trên 2 đầu phần ứng sẽ là:  
U1 = Kφω1 + I2.r−  
U2 = Kφω2 + I2.r−  
U3 = Kφω3 + I2.r−  
Giả sử ta cắt điện trở theo thứ tự r1, r2, r3 thì phải chọn côngtăctơ có điện áp hút lần lượt  
là:  
Uhút1G = U1  
Uhút2G = U2  
Uhút3G = U3  
Bộ môn TĐ-ĐL, Khoa Điện  
83  
Hoạt động của sơ đồ: Sau khi ấn nút mở máy M, côngtăctơ Đg có điện đóng mạch phần  
ứng động cơ vào nguồn qua 3 điện trở phụ r1, r2 và r3. Động cơ gia tốc trên đường đặc tính cơ  
(1). Khi tốc độ động cơ đạt đến trị số ω1 điện áp trên 2 đầu côngtăctơ 1G đạt trị số hút U1, do  
đó 1G hút, loại trừ điện trở r1, động cơ sẽ chuyển sang gia tốc trên đường đặc tính cơ (2). Khi  
tốc độ động cơ đạt đến trị số ω2(ω2 > ω1) điện áp trên 2 đầu côngtăctơ 2G đạt trị số hút U2, do  
đó 2G hút, loại trừ tiếp điện trở r2, động cơ sẽ chuyển sang gia tốc trên đường đặc tính cơ (3).  
Khi tốc độ động cơ đạt đến trị số ω3(ω3 > ω2) điện áp trên 2 đầu côngtăctơ 3G đạt trị số hút  
U3, do đó 3G hút, điện trở r3 bị ngắn mạch, động cơ sẽ chuyển sang gia tốc trên đường đặc  
tính cơ tự nhiên, cho đến điểm làm việc ổn định.  
c) Nhận xét về điều khiển truyền động điện theo nguyên tắc tốc độ:  
Ưu điểm là đơn giản và rẻ tiền, thiết bị có thể là côngtăctơ mắc trực tiếp vào phần ứng  
động cơ không cần thông qua rơle. Nhược điểm là thời gian mở máy và hãm máy phụ thuộc  
nhiều vào mômen cản MC, quán tính J, điện áp lưới U và điện trở cuộn dây côngtăctơ. Các  
côngtăctơ gia tốc có thể không làm việc vì điện áp lưới giảm thấp, vì quá tải hoặc vì cuộn dây  
quá phát nóng, sẽ dẫn đến quá phát nóng điện trở khởi động, có thể làm cháy các điện trở đó.  
Khi điện áp lưới tăng cao có khả năng tác động đồng thời các côngtăctơ gia tốc làm tăng dòng  
điện quá trị số cho phép.  
Trong thực tế ít dùng nguyên tắc này để khởi động các động cơ, thường chỉ dùng  
nguyên tắc này để điều khiển quá trình hãm động cơ.  
6.4 Điều khiển tự động theo nguyên tắc dòng điện.  
a) Nội dung nguyên tắc:  
Dòng điện trong mạch phần ứng động cơ cũng là một thông số làm việc rất quan trọng  
xác định trạng thái của hệ truyền động điện. Nó phản ánh trạng thái mang tải bình thường của  
hệ thống, trạng thái mang tải, trạng thái quá tải cũng như phản ánh trạng thái đang khởi động  
hay đang hãm của động cơ truyền động. Trong quá trình khởi động, hãm, dòng điện cần phải  
đảm bảo nhỏ hơn một trị số giới hạn cho phép. Trong quá trình làm việc cũng vậy, dòng điện  
có thể phải giữ không đổi ở một trị số nào đó theo yêu cầu của quá trình công nghệ.  
Ta có thể dùng các côngtăctơ có cuộn dây dòng điện hoặc rơle dòng điện kiểu điện từ  
hoặc các khóa điện tử hoạt động theo tín hiệu vào là trị số dòng điện để điều khiển hệ thống  
theo các yêu cầu trên.  
Dòng điện mạch phần ứng động cơ dùng làm tín hiệu vào trực tiếp hoặc gián tiếp cho  
các phần tử thụ cảm dòng điện nói trên. Khi trị số tín hiệu vào đạt đến giá trị ngưỡng xác định  
có thể điều chỉnh được của nó thì nó sẽ phát tín hiệu điều khiển hệ thống chuyển đến những  
trạng thái làm việc yêu cầu.  
b) Mạch điều khiển truyền động điện điển hình theo nguyên tắc dòng điện:  
Xét mạch điều khiển hãm ngược động cơ xoay chiều 3 pha rôto dây quấn khi đảo chiều.  
Vì những lí do tương tự như đã phân tích trong chương 2, khi đảo chiều quay động cơ  
xoay chiều 3 pha rôto dây quấn cần phải đưa thêm vào mạch rôto một điện trở phụ lớn hơn trị  
số điện trở phụ cần thiết đưa vào khi khởi động.  
Bộ môn TĐ-ĐL, Khoa Điện  
84  
Ta có thể dùng mạch điều khiển theo nguyên tắc dòng điện sau đây để điều khiển việc  
đưa vào và loại ra phần điện trở phụ đó mỗi lần đảo chiều quay động cơ.  
~
RH  
~
1
H
5
3
1G  
N
T
H
9
7
2G  
1G  
11  
13  
ω
2G  
1G  
r
p2  
Ι
Ι2  
r
Ι1  
0
p1  
H
r
h
RH  
Hình 6.5 - Điều khiển hãm ngược động cơ xoay chiều 3 pha rôto dây  
quấn khi đảo chiều theo nguyên tắc dòng điện.  
Yêu cầu đối với rơle hãm RH thụ cảm dòng điện rôto: khi dòng điện rôto lớn hơn trị số  
khởi động thì nó phải tác động, khi dòng điện rôto đã giảm nhỏ về gần trị số khởi động (I1) thì  
nó phải nhả để chuẩn bị cho quá trình khởi động tiếp theo.  
Vậy phải chỉnh định trị số Inhả của RH lớn hơn I1 một ít, tất nhiên trị số Ihút của nó sẽ lớn  
hơn I1 và xác định theo hệ số trở về của nó.  
Trong mạch hình 6.5 không vẽ phần điều khiển các côngtăctơ thuận (T) và ngược (N).  
Giả sử động cơ đang làm việc theo chiều quay thuận, nghĩa là bộ khống chế chỉ huy  
đang ở vị trí 2 phía phải. Muốn đảo chiều quay động cơ, ta quay bộ khống chế KC về phía  
ngược. Khi bộ khống chế lướt qua vị trí 0, các côngtăctơ H, 1G, 2G mất điện nên các tiếp  
điểm của chúng nhả ra đưa cả 3 điện trở vào mạch rôto. Khi lướt đến vị trí 2 phía trái, dòng  
điện rôto xuất hiện lúc này lớn hơn trị số chỉnh định hút của rơle RH, nên RH tác động mở  
tiếp điểm RH(1-3), bảo đảm cho cả 3 điện trở tham gia vào việc hạn chế dòng điện, quá trình  
hãm ngược động cơ được tiến hành.  
Khi tốc độ động cơ giảm gần đến 0 thì dòng điện rôto cũng giảm đến trị số nhả của rơle  
RH, rơle RH nhả đóng tiếp điểm RH(1-3), công tăctơ H có điện, điện trở hãm ngược rh được  
loại ra ngoài, động cơ bắt đầu quá trình khởi động theo chiều ngược với hai cấp điện trở hạn  
chế rp1 và rp2.  
c) Nhận xét về điều khiển truyền động điện theo nguyên tắc dòng điện:  
- Ưu điểm: Thiết bị đơn giản, sự làm việc của sơ đồ không chịu ảnh hưởng của nhiệt độ  
cuộn dây côngtăctơ, rơle.  
- Nhược điểm: Độ tin cậy thấp, có khả năng đình chỉ gia tốc ở cấp trung gian nếu động  
cơ khởi động bị quá tải, dòng điện không giảm xuống đến trị số nhả của rơle dòng điện.  
Bộ môn TĐ-ĐL, Khoa Điện  
85  
Nguyên tắc dòng điện được ứng dụng chủ yếu để tự động điều khiển quá trình khởi  
động động cơ một chiều kích thích nối tiếp và động cơ xoay chiều rôto dây quấn.  
6.5 Các nguyên tắc điều khiển khác  
Ngoài 3 nguyên tắc điều khiển được áp dụng rộng rãi nhất mà ta đã xét ở trên, cũng có  
thể tiến hành điều khiển các quá trình hay máy móc sản xuất theo những thông số đo lường  
khác như: Điều khiển theo công suất và chiều công suất mômen, sức căng, nhiệt độ, ánh  
sáng...  
Một trong những nguyên tắc rất hay dùng là nguyên tắc điều khiển theo đường đi (hay  
nguyên tắc hành trình).  
Khi quá trình thay đổi trạng thái làm việc của hệ có quan hệ chặt chẽ với vị trí của các  
bộ phận động của máy (đầu máy, bàn máy, mâm cặp...) thì ta có thể dùng các thiết bị đặc biệt  
- gọi là công tắc hành trình, đặt tại những vị trí thích hợp trên đường đi của các bộ phận đó.  
Khi bộ phận động di chuyển đến những vị trí này sẽ tác động lên các công tắc hành trình,  
công tắc hành trình sẽ phát những tín hiệu điều khiển hệ thống đến các trạng thái làm việc  
mới. Ví dụ như đặt các công tắc cuối cùng để hạn chế hành trình bàn máy bào, máy doa, cầu  
trục hoặc là đặt các công tắc hành trình để đảo chiều, giảm tốc độ cho máy bào giường.  
N
T
Hình 6.6 - Điều khiển theo  
nguyên tắc hành trình.  
B
A
KH  
Bộ môn TĐ-ĐL, Khoa Điện  
86  
pdf 8 trang myanh 23581 Free
Bạn đang xem tài liệu "Giáo trình môn Hệ thống truyền động điện - Chương 6: Các nguyên tắc điều khiển tự động truyền động điện", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_mon_he_thong_truyen_dong_dien_chuong_6_cac_nguyen.pdf