Báo cáo Môi trường Quốc gia 2012 - Môi trường nước mặt

CHƯƠNG 1  
TỔNG QUAN VỀ NƯỚC MẶT VIỆT NAM  
CHƯƠNG 1  
TỔNG QUAN VỀ NƯỚC MẶT VIỆT NAM  
1.1. ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN  
CÁC LƯU VỰC SÔNG Ở NƯỚC TA  
Nước ta có địa hình đồi núi chiếm đến 3/4  
diện tích lãnh thổ, tập trung phần lớn ở vùng  
Đông Bắc, Tây Bắc và miền Trung, phần diện  
tích còn lại là châu thổ và đồng bằng phù sa,  
chủ yếu là ở ĐBSH và ĐBSCL. Việt Nam nằm  
trong khu vực nhiệt đới gió mùa, mặc dù lượng  
mưa trung bình nhiều năm trên toàn lãnh thổ vào  
khoảng 1.940 mm/năm nhưng do ảnh hưởng của  
địa hình đồi núi, lượng mưa phân bố không đều  
trên cả nước và biến đổi mạnh theo thời gian đã  
và đang tác động lớn đến trữ lượng và phân bố  
tài nguyên nước ở Việt Nam.  
Việt Nam có hơn 2.360 con sông có chiều dài  
từ 10 km trở lên, trong đó có 109 sông chính. Toàn  
quốc có 16 LVS với diện tích lưu vực lớn hơn 2.500  
km2, 10/16 lưu vực có diện tích trên 10.000 km2.  
Tổng diện tích các LVS trên cả nước lên đến trên  
1.167.000 km2, trong đó, phần lưu vực nằm ngoài  
diện tích lãnh thổ chiếm đến 72%.  
Khung 1.1. Các LVS chính của nước ta  
Lưu vực với diện tích trên 10.000 km2  
Lưu vực với diện tích từ 2.500 - 10.000 km2  
Bằng Giang - Kỳ Cùng  
Thạch Hãn  
Hồng - Thái Bình  
Gianh  
Mã  
Hương  
Cả  
Trà Khúc  
Vu Gia - Thu Bồn  
Kôn  
Ba  
Nhóm các LVS vùng Đông Nam Bộ  
Srê Pốk (thuộc LVS Mê Công)  
Sê San  
Đồng Nai  
Mê Công  
Nguồn: Cục Quản lý tài nguyên nước, Bộ TN&MT, 2012  
BÁO CÁO MÔI TRƯỜNG QUỐC GIA 2012  
3
MÔI TRƯỜNG NƯỚC MẶT  
TỔNG QUAN VỀ NƯỚC MẶT VIỆT NAM  
Bản đồ ranh giới các LVS nước ta  
Nguồn: Dự án đánh giá ngành nước, Cục Quản lý Tài nguyên nước, 2008  
BÁO CÁO MÔI TRƯỜNG QUỐC GIA 2012  
MÔI TRƯỜNG NƯỚC MẶT  
4
TỔNG QUAN VỀ NƯỚC MẶT VIỆT NAM  
Sông ở miền Trung thường có lòng sông hẹp,  
độ dốc lớn, diện tích lưu vực nhỏ. Dòng chảy của  
các sông thường tập trung nhanh, lưu lượng lớn  
nên vào mùa mưa lũ thường gây ngập lụt ở vùng  
hạ lưu (các khu vực đồng bằng thấp phía Đông)  
làm thiệt hại đến đời sống của người dân khu vực  
và ảnh hưởng đến sự phát triển KT-XH của các  
địa phương.  
Miền Bắc (Vùng Tây Bắc, Đông Bắc, Đồng bằng  
sông Hồng)  
Địa hình miền Bắc được chia làm 2 khu vực  
núi với hướng núi khác nhau. Phía Bắc sông  
Hồng: núi có dạng cánh cung và nghiêng theo  
hướng Tây Bắc - Đông Nam. Vùng đồi núi phía  
Nam sông Hồng: hướng núi dạng dải nhưng kéo  
dài không liên tục tạo thành một vòng cung nối  
tiếp nhau, lưng quay ra biển và bao quanh dải  
cao nguyên bazan ở phía Tây.  
Tây Nguyên  
Địa hình của lưu vực khá phức tạp với những  
cao nguyên xen kẽ núi cao và núi trung bình và  
hướng dốc chính thấp dần theo hướng Đông Bắc  
- Tây Nam ở phía Bắc và hướng Đông Nam - Tây  
Bắc ở phía Nam.  
Miền Bắc có khí hậu nhiệt đới gió mùa với  
bốn mùa xuân, hạ, thu, đông rõ rệt. Mùa xuân bắt  
đầu từ tháng 2 cho đến gần hết tháng 4; vào mùa  
hè (tháng 4 đến tháng 9) thì nhiệt độ ngày khá  
cao và có mưa nhiều. Tháng nóng nhất thường  
là tháng 6; từ tháng 5 đến tháng 8 có mưa nhiều  
nhất trong năm. Mùa thu (tháng 9 và 10), mùa  
đông (tháng 11 đến tháng 2 năm sau) với khí hậu  
lạnh và hanh khô.  
Khí hậu Tây Nguyên chịu sự chi phối chung  
của khí hậu nhiệt đới nóng ꢀm và độ cao so với  
mực nước biển. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến  
tháng 10, mùa khô bắt đầu từ tháng 11 đến tháng  
4 năm sau với lượng mưa chꢁ chiếm 10 ÷ 15%  
lượng mưa năm. Phần lớn các dòng sông tại khu  
vực Tây Nguyên chảy theo hướng Đông sang Tây  
(chảy từ Việt Nam sang Lào). Theo đó, phân phối  
dòng chảy trong năm mang tính chất mùa, mùa  
lũ bắt đầu từ tháng 8 đến tháng 11 với tổng lượng  
lũ chiếm khoảng 70% tổng lượng năm, mùa cạn  
từ tháng 1 đến tháng 7 chiếm khoảng 30% tổng  
lượng nước năm.  
Do tác động của yếu tố địa hình nên các LVS ở  
miền Bắc có bề mặt thấp dần, có hình nan quạt,  
chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, được thể  
hiện thông qua hướng chảy của các dòng sông lớn.  
Bên cạnh đó, chế độ thủy văn các sông còn chịu sự  
chi phối của yếu tố khí hậu với mùa mưa đến sớm  
làm cho lượng nước trong mùa mưa khá dồi dào,  
thời gian lũ kéo dài do khả năng thoát lũ chậm (do  
các sông có hình nan quạt, chảy tập trung vào một  
số dòng chính dẫn đến nước sông bị dồn ứ làm  
nước lũ lên nhanh, xuống chậm). Các LVS miền  
Bắc còn có một đặc điểm khác biệt so với các  
LVS khác trên cả nước, đó là các sông ở miền Bắc  
thường có hệ thống đê điều ở hai bên tả hữu, do  
vậy nước sông trong cả mùa lũ và mùa kiệt thường  
chảy tập trung trong một vùng nhất định.  
Đông Nam Bộ  
Khu vực Đông Nam Bộ bao gồm LVS Đồng  
Nai và hệ thống các LVS nhỏ khác nằm ở vùng  
ven biển. Dòng chảy mặt tại các sông trong vùng  
Đông Nam Bộ được phân chia thành 2 mùa rõ  
rệt, với mùa lũ thường chậm hơn mùa mưa từ 1  
đến 2 tháng và mùa kiệt trùng với mùa khô. Hàng  
năm, mùa lũ kéo dài 6 tháng, bắt đầu từ tháng 6  
và kết thúc vào tháng 11, tuy nhiên, thời gian này  
không đều ở từng vùng.  
Miền Trung (Vùng Bắc Trung Bộ, Duyên hải  
miền Trung)  
Địa hình miền Trung có xu hướng thấp dần  
từ Tây sang Đông. Miền Trung có mật độ sông  
suối dày đặc, phân cắt thành nhiều LVS nhỏ như:  
Cả, Vu Gia - Thu Bồn, Ba, ngoài ra, còn có LVS  
Gianh, Thạch Hãn, Hương, Trà Khúc và Kôn.  
Phần thượng lưu và trung lưu của lưu vực hệ  
thống sông Đồng Nai không bị ảnh hưởng bởi  
chế độ triều, chế độ dòng chảy ảnh hưởng lớn  
bởi việc điều tiết của các hệ thống công trình hồ  
chứa lớn. Phần hạ lưu chịu tác động của triều,  
BÁO CÁO MÔI TRƯỜNG QUỐC GIA 2012  
5
MÔI TRƯỜNG NƯỚC MẶT  
TỔNG QUAN VỀ NƯỚC MẶT VIỆT NAM  
xâm nhập mặn (chế độ triều của khu vực cửa  
sông vùng Đông Nam Bộ mang tính chất bán  
nhật triều không đều với biên độ triều vào loại  
lớn của Việt Nam). Do đó, chế độ thuỷ văn ở hạ  
lưu chịu sự chi phối với các mức độ khác nhau  
của các yếu tố như chế độ dòng chảy từ thượng  
lưu về; chế độ triều biển Đông và các hoạt động  
khai thác có liên quan đến dòng chảy và hoạt  
động của dòng sông ngay tại hạ lưu.  
Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 (hơn 90%  
lượng mưa tập trung vào mùa mưa như các tháng  
9, 10), mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau.  
Theo đó, mùa lũ ở ĐBSCL thường kéo dài khoảng  
6 tháng (tháng 7 đến tháng 12) với diễn biến khá  
hiền hòa với biên độ tại Tân Châu, Châu Đốc từ  
3,5 - 4,0 m và lên xuống với cường suất trung  
bình 5 - 7 cm/ngày và cao nhất cũng chꢁ ở mức  
20 - 30 cm/ngày.  
Chế độ thủy văn, thủy lực ở ĐBSCL rất phức  
tạp, theo đó, chất lượng môi trường nước cũng đa  
dạng theo từng khu vực. Chế độ ngập mặn và quá  
trình xâm nhập mặn ở ĐBSCL chịu sự chi phối  
của chế độ bán nhật triều không đều của biển  
Đông đã ảnh hưởng đến khoảng 1,4 - 1,5 triệu ha  
đất. Quá trình chuyển dịch cơ cấu sang nuôi tôm  
nước mặn cũng làm diễn biến xâm nhập mặn gia  
tăng nhanh chóng ở khu vực ĐBSCL.  
Xâm nhập mặn là yếu tố cần quan tâm đối  
với vùng hạ lưu sông Đồng Nai - Sài Gòn. Mức  
độ xâm nhập mặn chịu ảnh hưởng của lưu lượng  
dòng chảy ở thượng lưu về, xâm nhập mặn tăng  
dần vào cuối mùa lũ, đạt trị số cao nhất vào cuối  
mùa kiệt. Các hồ chứa lớn như Trị An, Dầu Tiếng,  
Thác Mơ,... được xây dựng và vận hành đã góp  
phần tăng lưu lượng dòng chảy cho hạ lưu vào  
các tháng mùa khô.  
Đồng bằng sông Cửu Long  
1.2. ĐẶC ĐIỂM TÀI NGUYÊN NƯỚC MẶT  
Đồng bằng sông Cửu Long là phần cuối cùng  
của châu thổ sông Mê Công, địa hình vùng ĐBSCL  
thấp dần theo 2 hướng: từ Bắc xuống Nam và từ  
Tây sang Đông. Khí hậu vùng ĐBSCL mang tính  
nhiệt đới, nóng, ꢀm với nền nhiệt cao và ổn định  
theo 2 mùa: mùa mưa và mùa khô.  
Vị trí địa lý, đặc điểm điều kiện tự nhiên đặc  
thù nên khoảng 60% lượng nước của cả nước tập  
trung ở LVS Mê Công, 16% tập trung ở LVS Hồng  
- Thái Bình, khoảng 4% ở LVS Đồng Nai, các LVS  
lớn khác, tổng lượng nước chꢁ chiếm phần nhỏ  
còn lại (Biểu đồ 1.1).  
Biểu đồ 1.1. Tỷ lệ phân bố tài nguyên nước theo các LVS  
Nguồn: Báo cáo Tài nguyên nước, những vấn đề và giải pháp quản lý khai thác, sử dụng nước, Bộ TN&MT, 2009  
BÁO CÁO MÔI TRƯỜNG QUỐC GIA 2012  
MÔI TRƯỜNG NƯỚC MẶT  
6
TỔNG QUAN VỀ NƯỚC MẶT VIỆT NAM  
Bảng 1.1. Một số đặc trưng cơ bản của các hệ thống sông chính ở Việt Nam  
Diện tích lưu vực (km2)  
Tổng lượng dòng chảy năm (tỷ m3)  
TT Hệ thống sông  
Ngoài nước  
Trong nước  
Tổng  
Ngoài nước  
1,7  
Trong nước  
7,7  
Tổng  
1
Bằng Giang  
- Kỳ Cùng  
1.980  
11.280  
13.260  
9,4  
2
Hồng - Thái Bình  
Mã  
86.660  
82.340  
17.720  
17.730  
10.350  
13.900  
-
169.000  
28.400  
27.200  
10.350  
13.900  
11.620  
18.265  
40.000  
795.000  
51,8  
83,2  
14,1  
19,5  
20,1  
9,5  
-
135  
18  
3
10.680  
3,9  
4
Cả  
9.470  
4
23,5  
20,1  
9,5  
5
Thu Bồn  
Ba  
-
-
6
-
-
-
7
Sê San  
-
-
12,9  
13,5  
37  
8
Srê Pôk  
Đồng Nai  
Mê Công  
-
-
-
9
6.700  
756.000  
33.300  
39.000  
3,5  
400  
33,5  
75  
10  
475  
Nguồn: Hồ sơ tài nguyên nước Quốc gia, Bộ TN&MT, 2003;  
Báo cáo Tài nguyên nước, những vấn đề và giải pháp quản lý khai thác, sử dụng nước, Bộ TN&MT, 2009  
Tổng lượng nước mặt của nước ta phân bố  
không đều giữa các mùa một phần là do lượng  
mưa phân bố không đồng đều cả về thời gian  
và không gian, gây nên lũ lụt thường xuyên và  
khô hạn trong thời gian dài. Lượng mưa thay  
đổi theo mùa và thời điểm mùa mưa, mùa khô  
ở các vùng là khác nhau. Ở miền Bắc, mùa khô  
bắt đầu vào tháng 11 và tháng 12, ở miền Trung  
và miền Nam mùa khô bắt đầu muộn hơn, vào  
tháng 1. Mùa khô ở nước ta kéo dài từ 6 đến  
9 tháng và khắc nghiệt, lượng nước trong thời  
gian này chꢁ bằng khoảng 20 - 30% lượng nước  
của cả năm. Vào thời điểm này, khoảng một  
nửa trong số 15 LVS chính bị thiếu nước - bất  
thường hoặc cục bộ.  
Nam. Chẳng hạn, ở LVS Hồng nguồn nước ngoại  
lai chiếm 50% tổng khối lượng nước bề mặt. Còn  
ở LVS Mê Công có đến 90% tổng khối lượng nước  
bề mặt có nguồn gốc ngoại lai.  
Nếu chꢁ xem xét tổng lượng nước cả năm sẽ  
thấy tài nguyên nước của Việt Nam rất dồi dào.  
*
1
Xét trên từng lưu vực, theo tiêu chuꢀn quốc tế ,  
trong mùa khô, chꢁ có 4 lưu vực có đủ nước đó là:  
Mê Công, Sê San, Vu Gia - Thu Bồn và Gianh; 2  
lưu vực khác là LVS Hương và LVS Ba ở ngưỡng  
xấp xꢁ mức đủ nước; LVS Đông Nam Bộ và Đồng  
Nai thì việc thiếu nước có thể thường xuyên  
hơn; LVS Ba gần tiến đến mức này; Các LVS còn  
lại có khả năng thiếu nước không thường xuyên  
Tổng lượng nước mặt của các LVS trên lãnh  
thổ Việt Nam khoảng 830 - 840 tỷ m3/năm,  
nhưng chꢁ có khoảng 310 - 315 tỷ m3 (37%) là  
nước nội sinh, còn 520 - 525 tỷ m3 (63%) là nước  
chảy từ các nước láng giềng vào lãnh thổ Việt  
* Theo Chꢁ số về mức căng thẳng nước của Falkenmark.  
theo đó nguồn cung cấp nước: Mức trên 1.700m3/người/  
năm được xem là đủ nước; Trong khoảng 1.700 - 1.000m3/  
nguời/năm thì có khả năng xảy ra thiếu nước bất thường  
hoặc cục bộ; Dưới 1.000m3/năm thì xảy ra hiện tượng khan  
hiếm nước.  
BÁO CÁO MÔI TRƯỜNG QUỐC GIA 2012  
7
MÔI TRƯỜNG NƯỚC MẶT  
TỔNG QUAN VỀ NƯỚC MẶT VIỆT NAM  
hoặc cục bộ (Biểu đồ 1.2). Nếu xét trên cơ sở  
tổng lượng nước trung bình năm, 2 LVS Đồng  
Nai và Đông Nam Bộ với số dân hiện tại đều  
có nguy cơ thiếu nước không thường xuyên hoặc  
thiếu nước cục bộ, LVS Mã và LVS Kôn đang gần  
với mức này.  
Với dân số gần 88 triệu người, Việt Nam  
có tổng lượng nước bình quân đầu người theo  
năm đạt khoảng 9.560 m3/người, thấp hơn  
chuꢀn 10.000 m3/người/năm của quốc gia có tài  
nguyên nước ở mức trung bình theo quan điểm  
của Hiệp hội Nước quốc tế (IWRA). Tính theo  
lượng nước nội sinh thì Việt Nam hiện mới đạt  
khoảng 4.000 m3/người/năm, và đến năm 2025  
có thể bị giảm xuống còn 3.100 m3. Đặc biệt,  
trong trường hợp các quốc gia thượng nguồn  
không có sự chia sẻ công bằng và sử dụng hợp  
lý nguồn nước trên các dòng sông liên quốc gia,  
thì Việt Nam chắc chắn sẽ phải đối mặt với  
nguy cơ khan hiếm nước, có khả năng sẽ xảy ra  
khủng hoảng nước, đe dọa đến sự phát triển ổn  
định về kinh tế, xã hội và an ninh lương thực.  
Mực nước và lưu lượng trung bình cao nhất và  
thấp nhất trên các con sông trong giai đoạn từ  
năm 2006 đến nay có xu hướng giảm, điều này  
càng minh chứng rõ hơn cho các nhận định  
trên (Biểu đồ 1.4).  
Biểu đồ 1.2. Tác động của trữ nước và chuyển nước  
lưu vực đối với lượng nước mùa khô  
Nguồn: Dự án đánh giá ngành nước, Bộ TN&MT, năm 2008  
Các hồ chứa (tự nhiên và nhân tạo), đập dâng  
và các công trình thủy lợi là một phần không thể  
thiếu của các LVS và thực tế cho thấy, dòng chảy  
của các con sông trong lưu vực đang được kiểm  
soát bởi các hồ chứa và đập nước. Theo con số  
tính toán, tổng dung tích hữu ích của các hồ chứa  
của nước ta vào khoảng 37 tỷ m3 (chiếm khoảng  
4,5% của tổng lượng nước mặt trung bình năm).  
Trong đó, trên 45% nằm trong LVS Hồng - Thái  
Bình, 22% ở LVS Đồng Nai và 5 - 7% nằm ở LVS  
Cả, LVS Ba và Sê San. Tính riêng cho LVS Đồng  
Nai thì dung tích hữu ích của các hồ chứa chiếm  
23% tổng lượng nước trung bình năm của cả lưu  
vực. Trên các LVS khác lượng nước trữ bằng 20%  
tổng lượng nước mặt hàng năm, trong đó có 12  
LVS ở mức dưới 10%.  
Biểu đồ 1.3. Diễn biến lưu lượng nước trên một số  
sông chính  
Nguồn: TCTK, 2012  
BÁO CÁO MÔI TRƯỜNG QUỐC GIA 2012  
MÔI TRƯỜNG NƯỚC MẶT  
8
TỔNG QUAN VỀ NƯỚC MẶT VIỆT NAM  
Khung 1.2. Hệ thống các hồ chứa, đập,  
công trình thủy lợi trên một số LVS  
Khung 1.3. Hệ thống các hồ nội thành Thủ đô Hà Nội  
và kênh rạch tại Tp. Hồ Chí Minh  
LVS Hồng - Thái Bình có 29 hệ thống  
thủy nông, 900 hồ chứa lớn và nhỏ,  
1.300 đập dâng, hàng nghìn trạm bơm  
điện lớn nhỏ, hàng vạn công trình tiểu  
thủy nông;  
Theo Sở Giao thông vận tải Hà Nội, cho đến tháng 8/2012,  
trên địa bàn 9 quận nội thành Hà Nội hiện có 110 hồ với tổng diện  
tích hơn 1.000 ha, trong đó, riêng diện tích Hồ Tây là 526 ha. Chꢁ  
có vài hồ được cải tạo, kè xung quanh, tách nước thải và nước mưa  
riêng như Hoàn Kiếm, Thiền Quang, Kim Liên; vài hồ đang được  
cải tạo như Văn Chương, Linh Quang... Những hồ chưa được cải  
tạo, chưa tách hệ thống nước thải và nước mưa sẽ là nơi gánh chịu  
nước thải sinh hoạt của dân cư xung quanh cùng lượng nước thải  
từ hoạt động sản xuất.  
LVS Hương với 100 hồ chứa các loại  
được xây dựng ở vùng trung du, miền núi  
và vùng cát;  
LVS Đồng Nai với 911 công trình,  
trong đó có 406 hồ chứa, 371 đập dâng  
và cống, 134 trạm bơm và hệ thống  
thủy lợi;  
Hệ thống kênh rạch trong khu vực nội thành Tp. Hồ Chí Minh  
có tổng chiều dài khoảng 76 km với 5 tiểu lưu vực chính bao gồm  
hệ thống các kênh: Nhiêu Lộc - Thị Nghè, Tân Hóa - Lò Gốm,  
Tàu Hủ - Kênh Đôi, Kinh Tẻ - Bến Nghé, Tham Luơng - Bến Cát  
- Vàm Thuật. Theo tính toán, mật độ kênh rạch khu vực các quận  
nội thành hiện đang ở mức rất thấp và không có lợi cho việc thoát  
nước. Đáng lưu ý, một số kênh do nạo vét quá sâu nhưng bề rộng  
mặt cắt bị thu hẹp đến hơn 50%. Theo thống kê hiện nay có đến  
60 - 70% chiều dài của các tuyến kênh rạch trong nội thành đang  
bị ô nhiễm nặng...  
LVS Mê Công với kế hoạch phát triển  
15 bậc thang thủy điện, phía hạ lưu có 12  
công trình đang được đề xuất (phần lớn  
các công trình này nằm ở phía thượng  
lưu, không thuộc lãnh thổ Việt Nam).  
Nguồn: TCMT tổng hợp  
Nguồn: TCMT tổng hợp  
Hồ chứa thuỷ lợi - thuỷ điện Thác Bà  
BÁO CÁO MÔI TRƯỜNG QUỐC GIA 2012  
9
MÔI TRƯỜNG NƯỚC MẶT  
TỔNG QUAN VỀ NƯỚC MẶT VIỆT NAM  
Những năm gần đây, do nhiều nguyên nhân, ở  
hạ lưu hầu hết các LVS, tình trạng suy giảm nguồn  
nước dẫn tới thiếu nước, khan hiếm nước không  
đủ cung cấp cho sinh hoạt, sản xuất đang diễn ra  
ngày một thường xuyên hơn, trên phạm vi rộng  
lớn hơn và ngày càng nghiêm trọng, gây tác động  
lớn đến môi trường sinh thái các dòng sông, gia  
tăng nguy cơ kém bền vững của tăng trưởng kinh  
tế, xóa đói giảm nghèo và phát triển xã hội.  
Thêm vào đó, tài nguyên nước trên các LVS ở  
Việt Nam đang bị suy giảm và suy thoái nghiêm  
trọng do nhu cầu dùng nước tăng cao trong sản  
xuất nông nghiệp, công nghiệp, nuôi trồng thủy  
sản, thủy điện, làng nghề và do khả năng quản lý  
yếu kém. Các hệ sinh thái rừng tự nhiên duy trì  
nguồn sinh thủy từ thượng nguồn các lưu vực cũng  
bị suy giảm trên diện rộng do nạn phá rừng, do  
canh tác nông, nông - nghiệp, khai khoáng và xây  
dựng cơ sở hạ tầng.  
Thủy điện sông Sê San (Kon Tum) xả lũ  
Bảng 1.2. Các hồ chứa thủy lợi, thủy điện quan trọng (*)  
Số lượng  
hồ chứa  
STT  
Lưu vực sông  
Tên hồ chứa  
Sơn La, Hòa Bình, Thác Bà, Tuyên Quang, Huổi Quảng, Bản Chát,  
Nậm Na 3 và Lai Châu  
1
Hồng  
8
2
3
Mã  
Cả  
5
4
Cửa Đạt, Hủa Na, Trung Sơn, Pa Ma và Huổi Tạo  
Bản Vẽ, Khe Bố, Bản Mồng và Ngàn Trươi  
Bình Điền, Hương Điền, Tả Trạch và A Lưới (trên sông A Sáp thuộc  
lưu vực sông Sê Kông)  
4
5
Hương  
4
6
Vu Gia -  
Thu Bồn  
A Vương, Đắk Mi 4, Sông Tranh 2, Sông Bung 2, Sông Bung 4 và  
Đắk Mi 1)  
6
7
Trà Khúc  
2
3
Đak Đrinh và Nước Trong  
Kôn -  
Vĩnh Sơn A - Vĩnh Sơn B, Bình Định và Núi Một  
Hà Thanh  
Sông Ba Hạ, Sông Hinh, Krông Hnăng, Ayun Hạ và cụm hồ  
An Khê - Kanak  
8
9
Ba  
5
5
Sê San  
Plêy Krông, Ialy, Sê San 4, Thượng Kon Tum và Sê San 4A  
Buôn Tua Srah, Buôn Kuốp, Srêpốk 3, Srêpốk 4, Đức Xuyên  
và Srêpốk 7  
10  
11  
Srêpốk  
6
Dầu Tiếng, Trị An, Thác Mơ, Đơn Dương, Hàm Thuận - Đa Mi - Cầu  
Đơn, Đại Ninh, Đồng Nai 2, Đồng Nai 3, Đồng Nai 4, Srok Phu  
Miêng và Phước Hòa  
Đồng Nai  
13  
(*) Theo Quyết định số 1879/QĐ-TTg ngày 13/10/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt danh mục các hồ thủy lợi, thủy điện  
trên LVS phải xây dựng quy trình vận hành liên hồ chứa.  
Nguồn: Cục Quản lý Tài nguyên nước,  
Bộ TN&MT, 2012  
BÁO CÁO MÔI TRƯỜNG QUỐC GIA 2012  
MÔI TRƯỜNG NƯỚC MẶT  
10  
TỔNG QUAN VỀ NƯỚC MẶT VIỆT NAM  
Xét lượng nước vào mùa khô thì nước ta thuộc vào  
vùng phải đối mặt với thiếu nước, một số khu vực thuộc  
loại khan hiếm nước. Chưa bao giờ tài nguyên nước lại  
trở nên quý hiếm như những năm gần đây, khi nhu cầu  
nước không ngừng tăng lên mà nhiều dòng sông lại bị  
suy thoái, ô nhiễm, nước sạch ngày một khan hiếm. Hạn  
hán, thiếu nước diễn ra thường xuyên, nghiêm trọng. An  
ninh về nguồn nước cho thấy sự phát triển bền vững và  
bảo vệ môi trường đang không được bảo đảm ở nhiều  
nơi, nhiều vùng ở nước ta.  
Khung 1.4. Hệ thống các hồ chứa  
và khả năng phòng lũ  
Chꢁ có 3 LVS có hồ chứa có dung tích  
phòng lũ, đó là LVS Hồng - Thái Bình, LVS  
Mã và LVS Hương (59%).  
- LVS Hồng dung tích trữ là 16,73 tỷ m3  
đủ để chống lũ với tần suất 1% ở Sơn Tây và  
giữ mực nước lũ ở Hà Nội không vượt quá  
13,6 m; trong đó 38% dung tích này được sử  
dụng cho phòng lũ, 93% để phát điện.  
- LVS Mã có tổng dung tích là 1,25 tỷ m3,  
24% cho phòng lũ và 69% cho phát điện.  
1.3. PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ SỨC ÉP  
ĐỐI VỚI MÔI TRƯỜNG NƯỚC  
- LVS Hương có tổng dung tích là 1.258 tỷ  
m3, 59% cho phòng lũ và 0% cho phát điện.  
1.3.1. Phát triển dân số và quá trình đô thị hoá  
Thời gian qua, dân số nước ta không ngừng tăng nhanh,  
cho đến hết năm 2011, dân số toàn quốc đã lên đến 87,8  
triệu người, trong đó, số dân thành thị đã lên đến 27,9  
triệu người (chiếm khoảng 31,8% tổng số dân cả nước).  
Các LVS khác có dung tích hồ chứa sử  
dụng phát điện gồm LVS Cả (57% dung tích  
hữu ích), LVS Thạch Hãn (49%), LVS Vu Gia  
- Thu Bồn (67%), LVS Ba (90%), LVS Đồng  
Nai (84%), LVS Sê San (89%), và LVS Srê  
Pôk (48%).  
Dân số thành thị không ngừng tăng theo thời gian, mật  
độ dân số nước ta phân bố không đồng đều giữa các vùng  
địa lý. Dân số sinh sống tập trung chủ yếu tại các thành  
phố lớn, nơi có kinh tế phát triển, khả năng tìm việc làm  
gia tăng thu nhập và điều kiện sống cao hơn các vùng  
khác. Mật độ dân số cao nhất đạt 3.589 người/km2 tại Tp.  
Hồ Chí Minh, tiếp theo là Thủ đô Hà Nội với 2.013 người/  
km2, mật độ dân số cũng cao ở một số tꢁnh thuộc vùng  
KTTĐ Bắc Bộ như Bắc Ninh, Hải Dương, Hải Phòng,...  
(Biểu đồ 1.4).  
Nguồn: TCMT tổng hợp  
4000  
Mật độ dân số trung bình toàn quốc  
3500  
3000  
2500  
2000  
1500  
1000  
500  
0
Biểu đồ 1.4. Mật độ dân số các tỉnh, thành phố năm 2011  
Nguồn: TCTK, 2012  
BÁO CÁO MÔI TRƯỜNG QUỐC GIA 2012  
MÔI TRƯỜNG NƯỚC MẶT  
11  
TỔNG QUAN VỀ NƯỚC MẶT VIỆT NAM  
Dân số tập trung tại các vùng có kinh  
tế phát triển, nơi tập trung nhiều KCN,  
nhà máy, xí nghiệp,... dẫn đến thu nhập  
và mức sống của người dân ở các vùng  
này cũng cao hơn các khu vực khác.  
Thu nhập của người dân ở vùng đồng  
bằng sông Hồng và vùng Đông Nam bộ  
cao hơn nhiều so với các vùng còn lại  
(Biểu đồ 1.6).  
Người dân thành thị theo thống kê  
cũng có thu nhập thực tế cao hơn nhiều  
so với người dân sinh sống ở nông thôn.  
Năm 2010, nếu người dân thành thị  
thu nhập bình quân 2.130 nghìn đồng/  
người/tháng thì người dân nông thôn chꢁ  
có thu nhập 1.070 nghìn đồng/người/  
tháng. Quá trình đô thị hóa diễn ra càng  
nhanh, mạnh thì phân hóa về thu nhập  
giữa thành thị và nông thôn cũng không  
ngừng gia tăng.  
Biểu đồ 1.5. Thu nhập bình quân đầu người một tháng  
theo giá thực tế chia theo vùng  
Nguồn: TCTK, 2012  
Không chꢁ tác động về mặt KT-XH,  
quá trình đô thị hóa cũng là nguyên nhân  
gây biến động nguồn tài nguyên đất,  
theo đó, các sông, hồ trong các đô thị  
ngày một bị thu hẹp dòng chảy, thậm chí  
bị lấp hoàn toàn để lấy đất phục vụ cho  
quá trình phát triển KT-XH, xây dựng các  
công trình giao thông, khu dân cư, KCN,  
nhà máy, xí nghiệp,...  
Biểu đồ 1.6. Thu nhập bình quân đầu người một tháng  
theo giá thực tế chia theo thành thị, nông thôn  
Nguồn: TCTK, 2012  
BÁO CÁO MÔI TRƯỜNG QUỐC GIA 2012  
MÔI TRƯỜNG NƯỚC MẶT  
12  
TỔNG QUAN VỀ NƯỚC MẶT VIỆT NAM  
Quá trình đô thị hóa đã và đang tác động  
sâu sắc đến các hoạt động KT-XH. Do tác động  
của quá trình này, các đoạn sông chảy qua các  
khu đô thị, khu dân cư tập trung và các cơ sở  
sản xuất kinh doanh vùng ngoại thành thường  
xuyên nằm trong tình trạng báo động.  
Khung 1.5. Biến động hệ thống sông hồ  
tại Hà Nội và Tp. Hồ Chí Minh  
Hà Nội  
Vào đầu thế kỷ 19, theo thống kê, Thủ đô Hà Nội  
có 602 hồ lớn nhỏ. Tuy nhiên, trải qua thời gian, con  
số này giảm đi đáng kể. Đến tháng 8/2012, trên địa  
bàn 9 quận nội thành Hà Nội hiện còn 110 hồ với tổng  
diện tích hơn 1.000 ha. Đô thị hóa là nguyên nhân  
chính của quá trình này.  
1.3.2. Tăng trưởng kinh tế và việc sử dụng nước  
Việt Nam đang trong quá trình CNH-HĐH  
đất nước. Tuy nhiên, việc khai thác, sử dụng tài  
nguyên nước chưa hợp lý và thiếu bền vững đã  
và đang gây suy giảm tài nguyên nước, trong  
khi hiệu quả sử dụng nước còn thấp, tình trạng  
lãng phí trong sử dụng nước còn phổ biến trên  
phạm vi cả nước.  
Tp. Hồ Chí Minh  
Quá trình đô thị hóa trong vòng 14 năm trở lại đây  
tại Tp. Hồ chí Minh đã làm biến mất 47 con kênh với  
tổng diện tích 16,4 ha. Đặc biệt đã san lấp hồ Bình  
Tiên rộng 7,4 ha - một trong những hồ chứa nước quan  
trọng nhất của thành phố. Chꢁ trong vòng 8 năm từ  
2002 - 2009, khả năng chứa nước của hệ thống hồ,  
ao, kênh, rạch và vùng ngập nước trong thành phố đã  
giảm gần 10 lần.  
Theo con số thống kê của Dự án Đánh giá  
ngành nước năm 2008, tính trung bình trên  
phạm vi toàn quốc, trên 80% lượng nước mặt  
được sử dụng cho nông nghiệp, 11% cho nuôi  
trồng thủy sản, 5% cho công nghiệp và 3%  
cho cấp nước đô thị. Có 3 lưu vực, lượng nước  
cho tưới chiếm tới trên 90% tổng lượng nước  
sử dụng (LVS Ba là 96%). Lượng nước cho công  
nghiệp chiếm 14% tổng lượng nước sử dụng ở  
LVS Đồng Nai và 11% ở LVS Đông Nam Bộ  
(gồm Bà Rịa - Vũng Tàu). Lượng nước sử dụng  
cho thủy sản chiếm 16% ở LVS Mê Công và  
26% ở LVS Đông Nam Bộ.  
Trong vòng 17 năm (1989 - 2006), diện tích bê  
tông hóa trên bề mặt thành phố đã tăng từ hơn 6.000  
ha lên 24.500 ha. Việc chuyển đổi diện tích bề mặt  
tự nhiên vốn có khả năng thấm tới khoảng 50% lượng  
nước mưa thành bề mặt đô thị với tình trạng bê tông  
hóa cao chꢁ có khả năng thấm khoảng 13% lượng nước  
mưa, tất yếu đã góp phần đáng kể làm gia tăng tình  
trạng ngập nước ở Tp. Hồ Chí Minh  
Nguồn: Báo cáo tại Hội thảo quốc tế về Hồ Hà Nội  
Bảng 1.3. Tình hình tăng trưởng và phát triển của các ngành kinh tế  
Đơn vị: %  
Khu vực kinh tế  
Năm 2007  
Năm 2008  
Năm 2009  
Năm 2010  
Năm 2011  
Nông, lâm nghiệp và thủy sản  
Công nghiệp và xây dựng  
Dịch vụ  
20,34  
41,98  
37,68  
22,21  
40,35  
37,44  
20,91  
40,79  
38,30  
20,58  
41,64  
37,78  
22,02  
40,79  
37,19  
Nguồn: TCTK, 2012  
BÁO CÁO MÔI TRƯỜNG QUỐC GIA 2012  
13  
MÔI TRƯỜNG NƯỚC MẶT  
TỔNG QUAN VỀ NƯỚC MẶT VIỆT NAM  
Năm 2011, các ngành công nghiệp và xây dựng  
của nước ta đóng góp 40,79% giá trị GDP quốc  
gia, đang phát triển nhanh chóng trong thời gian  
qua và sẽ tiếp tục tăng trưởng trong thời gian tới.  
Tuy nhiên, phần lớn các hoạt động công nghiệp  
tập trung ở một số vùng kinh tế gây nên các vấn  
đề về môi trường cũng như vấn đề quản lý. Sự phát  
triển của các KCN và làng nghề tạo nên các điểm  
sản xuất và ô nhiễm mới và phi tập trung.  
Theo đánh giá, nước mặt sử dụng cho tưới tiêu  
lên đến hơn 66.000 triệu m3/năm, chiếm trên  
82% tổng lượng nước sử dụng ước tính ở Việt  
Nam. LVS Mê Công và LVS Hồng - Thái Bình  
chiếm khoảng 75% tổng sử dụng nước tưới ở Việt  
Nam với mức tương ứng lần lượt là trên 27% và  
45%. LVS Mê Công có chꢁ số sử dụng nước tưới  
trên đầu người ở nông thôn lớn nhất (trên 2.000  
m3/người/năm) trong khi hầu hết các lưu vực còn  
lại đều có con số dưới 1.000 m3/người/năm. Ở  
hầu hết các lưu vực, ngoại trừ LVS Đồng Nai và  
Đông Nam bộ, sử dụng nước tưới chiếm tới ít  
nhất là 80% tổng sử dụng nước của lưu vực. Tuy  
vậy, diện tích thực tưới thấp hơn nhiều so với  
diện tích thiết kế (chꢁ đạt 68% tổng diện tích  
được tưới), chứng tỏ hiệu quả sử dụng nước cho  
nông nghiệp chưa cao. Việc khai thác các hồ  
chứa thủy lợi cũng đang gây ra nhiều vấn đề về  
điều tiết nước trên lưu vực, cấp nước và duy trì  
dòng chảy môi trường ở hạ lưu, vì các công trình  
này hầu hết không có nhiệm vụ thiết kế để xả  
nước xuống hạ lưu trong mùa cạn.  
Hiện nay, không có số liệu thống kê về lượng  
nước sử dụng cho công nghiệp nói chung, ngoại  
trừ có thể có số liệu của các nhà máy lớn. Do  
thiếu số liệu nên sản lượng nước sử dụng cho  
công nghiệp được tính dựa trên tiêu chuꢀn nước  
yêu cầu cho một đơn vị sản lượng công nghiệp.  
Tiêu chuꢀn cấp nước cho hoạt động sản xuất  
công nghiệp là từ 40 - 45 m3/ha/ngày tới 70 m3/  
ha/ngày (JICA, 2002) và tùy theo loại hình sản  
xuất. Vì không có đủ thông tin, số liệu nên đánh  
giá dựa trên diện tích đất sử dụng cho sản xuất  
công nghiệp và bình quân lượng nước sử dụng  
cho từng vùng công nghiệp ở từng lưu vực sông.  
Dựa trên các đánh giá này, tổng sản lượng nước  
sử dụng cho công nghiệp ước khoảng 3.770 triệu  
m3/năm, trong đó LVS Hồng - Thái Bình chiếm  
gần 50% tổng lượng nước sử dụng cho ngành  
công nghiệp cả nước; LVS Đồng Nai sử dụng  
25% lượng nước cho sản xuất công nghiệp;  
nhóm sông Đông Nam bộ là 7% và LVS Mê  
Công là 10%. Đặc biệt, tỷ lệ sử dụng nước dưới  
đất cho công nghiệp rất lớn, riêng Tp. Hồ Chí  
Minh có đến 57% doanh nghiệp sử dụng nước  
dưới đất. Dự báo đến năm 2015, khối lượng  
nước sử dụng trong công nghiệp sẽ tăng gấp đôi  
so với năm 2006, mức độ tăng sẽ chủ yếu diễn  
ra ở các LVS vốn đã là nơi tập trung các hoạt  
động sản xuất công nghiệp là LVS Hồng - Thái  
Bình, Đồng Nai, nhóm sông Đông Nam bộ, Mê  
Công và Vu Gia - Thu Bồn.  
Ngành dịch vụ đã và đang tiếp tục góp vai  
trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Năm  
2012, ngành dịch vụ đóng góp 37,17% giá trị  
GDP quốc gia. Tuy nhiên, tỷ lệ này giảm so với  
năm 2010 và các năm trước.  
1.3.3. Suy giảm chất lượng rừng  
Rừng có vai trò quan trọng trong việc điều  
tiết nguồn nước cho lưu vực. Những năm gần  
đây, tổng diện tích rừng tăng lên, nhưng phần  
lớn diện tích tăng them là rừng trồng. Độ che  
phủ rừng liên tục tăng lên, từ 27,8% (năm 1990)  
đến 39,5% (năm 2010) (Biểu đồ 1.7). Tuy nhiên,  
diện tích rừng nguyên sinh, rừng nhiều tầng đều  
bị giảm sút. Hầu hết các vùng rừng tự nhiên  
đang bị suy giảm nghiêm trọng do nạn khai thác  
rừng trái phép.  
Năm 2012, ngành nông nghiệp tuy chꢁ đóng  
góp 22,02 % giá trị GDP nhưng là ngành sử dụng  
nước lớn nhất ở nước ta. Mặc dù đóng góp của  
ngành nông nghiệp cho GDP quốc gia giảm so  
với ngành công nghiệp nhưng vẫn tiếp tục tăng  
trưởng và tạo ra nguồn việc làm lớn.  
Diện tích rừng trồng - rừng một tầng tăng cao  
với tốc độ gia tăng trung bình từ năm 1990 đến  
2010 cao hơn 13 lần tốc độ gia tăng của rừng  
tự nhiên. Năm 2011, diện tích rừng trồng mới  
tập trung đạt 214,7 nghìn ha, bằng 85,2% so  
BÁO CÁO MÔI TRƯỜNG QUỐC GIA 2012  
MÔI TRƯỜNG NƯỚC MẶT  
14  
TỔNG QUAN VỀ NƯỚC MẶT VIỆT NAM  
với cùng kỳ năm trước; trong đó, diện tích trồng  
mới rừng phòng hộ, đặc dụng đạt 20,5 nghìn ha,  
bằng 33% so với cùng kỳ năm trước; trồng mới  
rừng sản xuất đạt 194,3 nghìn ha, tăng 2,2% so  
với cùng kỳ năm trước.  
Bên cạnh việc khai thác thu hoạch rừng trồng  
theo chu kỳ và mất rừng do cháy rừng cũng như  
nạn phá rừng trái phép, hàng năm, Chính phủ  
vẫn cấp giấy phép cho khai thác khoảng 150.000  
m3 gỗ từ rừng tự nhiên, cho phép chuyển đổi mục  
đích sử dụng rừng nghèo sang rừng trồng cao su,  
trồng keo, phát triển thủy điện... Trước sự giảm sút  
trầm trọng về diện tích và chất lượng rừng, cần rà  
soát xem xét lại mức độ thích hợp của việc quản  
lý, bảo vệ và khai thác rừng hiện nay.  
Biểu đồ 1.7. Tổng diện tích rừng và độ che phủ rừng  
hàng năm  
1.3.4. Phát triển thủy điện  
Nguồn: TCTK, 2012  
Thủy điện đóng vai trò quan trọng trong việc  
cung cấp điện cho hệ thống điện quốc gia, đóng  
góp cho hệ thống điện quốc gia 48,26% công suất  
và 43,9% điện lượng, góp phần không nhỏ đảm  
bảo cho các hoạt động sản xuất và phục vụ đời  
sống xã hội.  
nghìn ha  
Tính đến hết năm 2012, trên cả nước có tổng  
số 1.110 công trình và dự án thủy điện được quy  
hoạch, trong đó có 239 công trình đã vận hành  
(chiếm 21,5% tổng số dự án, 51,6% tổng công  
suất các dự án được quy hoạch); 217 công trình  
đang thi công xây dựng (chiếm 19,5% tổng số  
dự án, 27,4% tổng công suất); 294 dự án đang  
nghiên cứu đầu tư và 360 dự án chưa có chủ  
trương đầu tư hoặc chưa có nhà đầu tư (chiếm  
59% tổng số dự án, 21% tổng công suất) (Bộ  
Công thương, 2012).  
Biểu đồ 1.8. Diện tích rừng bị mất do chuyển đổi sử dụng  
và bị phá hoại qua các năm  
Nguồn: TCTK, 2012  
Với hệ thống sông ngòi dày đặc, nước ta có  
tiềm năng thủy điện khá lớn với tổng công suất  
khoảng 35.000 MW và điện lượng khoảng 300  
tỷ kWh/năm, trong đó miền Bắc chiếm khoảng  
60%, miền Trung chiếm khoảng 27% và miền  
Nam chiếm khoảng 13%. Tuy nhiên, tính toán  
về mức độ khả thi, thì thực tế chꢁ có thể khai  
thác được khoảng 26.000 MW (khoảng 100 tỷ  
kWh/năm), phân bố theo các hệ thống sông gồm:  
sông Đà 33%, sông Đồng Nai 13,8%, sông Sê San  
BÁO CÁO MÔI TRƯỜNG QUỐC GIA 2012  
15  
MÔI TRƯỜNG NƯỚC MẶT  
TỔNG QUAN VỀ NƯỚC MẶT VIỆT NAM  
10%, sông Vu Gia - Thu Bồn 5,2%, sông Srêpôk  
4%, sông Lô - Gâm - Chảy 3,8% và các sông khác  
1
30,2%*.  
Tính theo khu vực, có thể thấy rằng, khu vực  
miền Bắc là nơi tập trung khá nhiều các công  
trình thủy điện lớn nhỏ trên các LVS. Trong đó,  
tính đến năm 2012, các công trình thủy điện  
lớn như Sơn La, Hòa Bình, Tuyên Quang… có  
tổng công suất đã đạt gần 50% công suất điện  
toàn quốc theo quy hoạch đến năm 2020. Khu  
vực miền Trung và Tây nguyên là nơi tập trung  
nhiều các công trình thủy điện lớn nhỏ với mật  
độ các công trình tính trên chiều dài các con  
sông là lớn nhất cả nước. Tại khu vực miền  
Nam, các công trình thủy điện tập trung chủ  
yếu trên lưu vực hệ thống sông Đồng Nai. Các  
nhà máy và dự án thủy điện gần như đã lấp đầy  
3 dòng chính của lưu vực hệ thống là sông Đồng  
Nai, sông Bé và sông La Ngà.  
Biểu đồ 1.9. Tỷ trọng phát triển thủy điện trong cơ cấu  
ngành điện giai đoạn 2006 - 2020  
Nguồn: Báo cáo của ngành điện và Tổng sơ đồ điện VII,  
TCMT tổng hợp, 2012  
*. Báo cáo tình hình thực hiện các dự án thủy điện trong Quy  
hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2011 - 2020 liên  
quan đến việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất rừng đặc dụng,  
rừng phòng hộ, Vườn quốc gia và công tác quản lý, vận hành khai  
thác các hồ chứa thủy lợi, thủy điện. Bộ Công thương, 2012.  
Nhiều công trình thuỷ điện trên LVS Đồng Nai được xây dựng  
BÁO CÁO MÔI TRƯỜNG QUỐC GIA 2012  
MÔI TRƯỜNG NƯỚC MẶT  
16  
TỔNG QUAN VỀ NƯỚC MẶT VIỆT NAM  
Việc hình thành các hồ chứa của các công trình thủy  
điện trên các LVS đã phục vụ tốt cho hoạt động nuôi trồng  
thủy sản, tưới tiêu nông nghiệp, hỗ trợ điều tiết nước cho  
khu vực hạ lưu... Một số công trình thủy điện có hồ chứa  
lớn bước đầu đã phát huy tác dụng cắt giảm lũ vùng hạ  
lưu như: thủy điện Đại Ninh (sông Đa Nhim), Đồng Nai  
3, Đồng Nai 4 (sông Đồng Nai) đã phòng, chống, cắt  
giảm lũ cho vùng hạ lưu của huyện Cát Tiên, Đạ Tẻh.  
Khung 1.6. Tác động của các công trình  
thủy điện trên LVS Ba và LVS Kôn tới  
môi trường nước mặt  
Trên phần thượng nguồn của LVS Ba  
(Gia Lai) có công trình thủy điện Vĩnh Sơn  
và thủy điện An Khê - Ka Nak. Các hồ  
chứa của các công trình này tích nước của  
sông Ba và chuyển nước qua các đường  
hầm, kênh dẫn sang LVS Kôn nhằm tạo  
cột nước lớn để tăng khả năng phát điện.  
Bên cạnh những tác động tích cực, những ảnh hưởng  
tiêu cực của các công trình thủy điện tới hoạt động phát  
triển kinh tế - xã hội và môi trường tự nhiên là không nhỏ.  
Việc chuyển nước của các công trình  
thủy điện nêu trên, nhất là sau khi thủy  
điện An Khê - Ka Nak tích nước, vận  
hành đã phát sinh một số vấn đề như xả  
nước gây lũ đột ngột, bất thường hoặc tích  
nước để phát điện; có thời điểm không xả  
nước xuống hạ du (đầu năm 2011) đã gây  
cạn kiệt dòng chảy, thiếu nước, ô nhiễm  
nguồn nước do không đủ khả năng pha  
loãng,... làm ảnh hưởng không nhỏ đến  
đời sống, sản xuất của nhiều hộ dân khu  
vực ven sông.  
Tổng diện tích đất được quy hoạch và giao cho hơn  
1.000 dự án thủy điện vừa và nhỏ là khoảng 109.569  
ha, trong đó diện tích đất rừng chiếm khoảng 32.373 ha.  
Trong giai đoạn từ năm 2006 - 2012, cả nước có 160 dự  
án thuộc 29 tꢁnh, thành phố trực thuộc trung ương thực  
hiện việc chuyển đổi mục đích sử dụng rừng sang xây  
dựng thủy điện với diện tích 19.792 ha. Khu vực chuyển  
đổi diện tích nhiều nhất là Tây Nguyên (41,2% cả nước),  
tiếp đến là vùng Bắc Trung bộ (22,9% cả nước). Mặc  
dù, các địa phương đã triển khai việc trồng mới để bổ  
sung thay thế nhưng tỷ lệ diện tích rừng trồng mới chꢁ  
đạt 3,7% tổng diện tích rừng bị chuyển đổi mục đích sử  
dụng. Các địa phương có diện tích rừng bị chuyển đổi lớn  
(trên 1.000 ha) gồm có: Đắk Nông, Lai Châu, Lâm Đồng,  
Nguyên nhân chính là do việc chuyển  
nước của công trình thủy điện An Khê -  
Ka Nak chưa đánh giá đầy đủ, toàn diện  
các tác động, ảnh hưởng của việc chuyển  
nước ra khỏi lưu vực. Đồng thời, việc tích  
nước, xả nước, vận hành phát điện không  
hợp lý, thiếu sự phối hợp chặt chẽ với  
chính quyền địa phương; chưa bảo đảm  
yêu cầu khai thác, sử dụng tổng hợp, đa  
mục tiêu nguồn nước của hồ chứa theo  
quy định. Ngoài ra, hoạt động sản xuất,  
xả nước thải chưa xử lý của một số doanh  
nghiệp đóng trên địa bàn khu vực hạ du  
công trình đã làm tăng thêm tình trạng  
thiếu nước và ô nhiễm nguồn nước sông  
Ba đoạn đi qua địa bàn thị xã An Khê,  
tꢁnh Gia Lai.  
2
Gia Lai, Kon Tum, Quảng Nam và Nghệ An*. Đây chính  
là một trong những nguyên nhân gây suy thoái đa dạng  
sinh học và các hệ sinh thái tự nhiên.  
Việc chuyển dòng của một số công trình thủy điện  
sang lưu vực khác thiếu sự xem xét đầy đủ tác động môi  
trường lên lưu vực, làm thay đổi đến chế độ thủy văn, gây  
ra những tác động lớn đến các hệ sinh thái và hoạt động  
phát triển kinh tế - xã hội trên các LVS. Điển hình có thể  
kể đến công trình chuyển nước từ LVS Đồng Nai sang  
nhóm sông Đông Nam bộ đã gây ra tình trạng thiếu nước  
cho hoạt động phát triển công nghiệp và các nhu cầu cấp  
nước đô thị ở khu vực hạ lưu, đặc biệt là vào mùa khô.  
Nguồn: Cục Quản lý Tài nguyên nước, 2012  
*. Báo cáo chuyển đổi mục đích sử dụng rừng sang xây dựng thủy điện  
giai đoạn 2006 - 2012, Bộ NN&PTNT, 2012.  
BÁO CÁO MÔI TRƯỜNG QUỐC GIA 2012  
17  
MÔI TRƯỜNG NƯỚC MẶT  
TỔNG QUAN VỀ NƯỚC MẶT VIỆT NAM  
Cùng với đó, do những bất cập trong công tác  
quản lý xây dựng và vận hành các công trình  
thủy điện khiến cho hơn 90% công trình thủy  
điện trên cả nước chưa thể đảm nhận nhiệm vụ  
điều tiết lũ (cắt lũ) vào mùa mưa và điều tiết nước  
cho vùng hạ lưu vào mùa khô hạn. Đặc biệt, việc  
thiếu các quy định cụ thể trong xây dựng và vận  
hành các hồ chứa thủy điện đã và đang gây ra  
những tác động tiêu cực đến môi trường như: làm  
thay đổi chế độ thủy văn của các sông ngòi, làm  
giảm lượng nước trong mùa kiệt, làm gia tăng  
tình trạng ô nhiễm tại hạ lưu các con sông, thậm  
chí gây ra những nguy cơ về địa chấn động đất  
kích thích...  
máy nước đặt tại Tp. Biên Hòa (Đồng Nai) và nhà  
máy nước Thủ Đức (Tp. Hồ Chí Minh). Nguyên  
nhân chính là do nguồn nước phía thượng nguồn  
bị chặn bởi các công trình thủy điện, không đủ  
nước cấp cho khu vực hạ lưu để đꢀy nguồn mặn  
ra xa khỏi khu vực.  
1.3.5. Khai thác khoáng sản  
Việt Nam được đánh giá là quốc gia có nhiều  
tiềm năng về khoáng sản với khoảng 60 loại,  
trong đó nhiều loại có trữ lượng lớn như bô xít,  
titan, đất hiếm… với giá trị kinh tế lớn, đóng góp  
của ngành công nghiệp khai khoáng vào GDP  
đang ngày càng tăng. Theo số liệu điều tra, hiện  
nay nước ta có trên 5.000 mỏ và điểm khai thác  
khoáng sản. Mặc dù hệ thống pháp luật về quản  
lý và khai thác khoáng sản tương đối đầy đủ, tuy  
nhiên vẫn còn khoảng cách lớn giữa quy định  
luật pháp và thực tế, vì vậy hiệu quả kinh tế  
ngành khai thác khoáng sản chưa cao, vẫn chủ  
yếu khai thác, chế biến và xuất khꢀu sản phꢀm  
thô, sơ chế. Ở hầu hết các mỏ khai thác khoáng  
sản, công nghệ và kỹ thuật khai thác chưa được  
quan tâm đúng mức, phần lớn là khai thác lộ  
thiên, sử dụng kỹ thuật khai thác cổ điển... Chính  
Bên cạnh đó, việc thay đổi quy hoạch các bậc  
thang thủy điện chưa xem xét đến hiệu quả tổng  
thể về cấp nước, phòng lũ, đꢀy mặn… đã gây ra  
những ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc khai  
thác tổng hợp nguồn nước, điển hình như các  
bậc thang thủy điện Đồng Nai 2 và Đồng Nai 6.  
Tình trạng xâm nhập mặn ở phía hạ nguồn sông  
Đồng Nai đang diễn biến theo chiều hướng xấu.  
Vào những tháng cao điểm mùa khô, xâm nhập  
mặn đã xâm thực sâu vào đất liền, đã gây ảnh  
hưởng lớn tới hoạt động cấp nước của một số nhà  
Trạm thủy nông huyện Vĩnh Điện, tỉnh Quảng Nam bị nhiễm mặn phải ngừng hoạt động  
Nguồn: Đại An  
BÁO CÁO MÔI TRƯỜNG QUỐC GIA 2012  
MÔI TRƯỜNG NƯỚC MẶT  
18  
TỔNG QUAN VỀ NƯỚC MẶT VIỆT NAM  
vì vậy, hoạt động khai thác khoáng sản đã và đang  
để lại nhiều hậu quả lớn và khó khắc phục về mặt  
môi trường, xã hội.  
Khung 1.7. Ô nhiễm do khai thác tại mỏ than Na  
Dương (trên sông Kỳ Cùng) và trên sông Hiến,  
sông Bằng tại Cao Bằng  
Biểu hiện rõ nét nhất là việc sử dụng thiếu  
hiệu quả các nguồn khoáng sản tự nhiên gây tác  
động đến cảnh quan và hình thái môi trường; tích  
tụ hoặc phát tán chất thải; làm ảnh hưởng đến sử  
dụng nước, ô nhiễm nước, tiềm ꢀn nguy cơ về dòng  
thải axit mỏ... Những hoạt động này đang phá vỡ  
cân bằng điều kiện sinh thái.  
Khu vực khai trường than lộ thiên của mỏ than  
Na Dương (Lạng Sơn) rộng hơn hàng chục nghìn m2;  
trong đó, lòng moong thấp hơn mặt nước biển hàng  
trăm mét và luôn có lượng nước trong moong từ 300  
- 400 nghìn m3. Vào mùa mưa, bình quân mỗi ngày,  
mỏ phải bơm hơn 2.800m3 nước từ lòng moong ra  
ngoài tự nhiên. Nước thải mỏ than Na Dương có  
nồng độ axít cao, có khả năng gây ô nhiễm trầm  
trọng môi trường nước.  
Tại khu vực miền Bắc, hoạt động khai thác  
than phát triển mạnh. Trong những năm gần đây,  
sản lượng than gia tăng nhanh chóng. Nhưng kèm  
theo đó, vấn đề đất đá thải và nước thải tại các  
mỏ than cũng đang là những điểm nóng về môi  
trường. Theo tính toán, việc sản xuất 1 tấn than  
sẽ thải ra từ 1-3 m3 nước thải mỏ. Như vậy, với  
sản lượng khai thác năm 2012 của ngành than là  
hơn 42 triệu tấn thì lượng nước thải mỏ thải ra môi  
trường trung bình khoảng hơn 70 triệu m3. Đây  
chính là nguyên nhân khiến cho nhiều khu vực tại  
Mạo Khê, Uông Bí, Cꢀm Phả (Quảng Ninh), Na  
Dương (Lạng Sơn)... môi trường nước mặt đã bị ô  
nhiễm đến mức báo động.  
Sông Hiến, sông Bằng là nguồn cung cấp nước  
sinh hoạt, sản xuất cho thị xã Cao Bằng và một số  
huyện. Tính từ thời điểm đầu năm 2000 đến hết  
tháng 3/2012, trên địa bàn các huyện: Thạch An,  
Hoà An, Nguyên Bình (Cao Bằng) và huyện Ngân  
Sơn (Bắc Kạn), bình quân mỗi ngày có hơn 100  
máy xúc, giàn tuyển và các thiết bị khác, cùng với  
hàng nghìn người khai thác khoáng sản có phép và  
không phép.  
Nguồn: TCMT tổng hợp, 2012  
Công nghiệp khai khoáng cũng là thế mạnh của  
khu vực miền Trung và Tây Nguyên, đặc biệt là  
khai khoáng vàng gốc, vàng sa khoáng và các loại  
quặng khác. Các hoạt động khai khoáng ở khu vực  
này chủ yếu ở quy mô nhỏ. Nguyên nhân do vốn  
đầu tư của các doanh nghiệp này hạn chế, khai  
thác bằng phương pháp thủ công, bán cơ giới, công  
nghệ lạc hậu. Thêm vào đó, ý thức chấp hành luật  
pháp chưa cao nên các chủ cơ sở ít quan tâm đến  
công tác bảo vệ môi trường, an toàn lao động, bảo  
vệ tài nguyên khoáng sản, để lại nhiều hậu quả  
xấu đến môi trường. Đa số các mỏ đang hoạt động  
hiện nay hoạt động không tuân thủ dự án, thiết kế  
và báo cáo đánh giá tác động môi trường, hoặc bản  
cam kết được duyệt. Chính vì vậy, đây cũng là một  
nguồn gây ô nhiễm môi trường nước mặt tại các  
vùng lân cận.  
Khung 1.8. Hoạt động khai khoáng tại khu vực  
miền Trung và Tây Nguyên  
Gia Lai  
Nhà máy tuyển quặng sắt Kbang: Kết quả phân  
tích mẫu nước thải (xả lén ra môi trường) ngày  
04/7/2011 cho thấy: có 3/7 chꢁ tiêu vượt QCCP, cụ  
thể: chꢁ tiêu Độ màu vượt 18 lần, COD vượt 3,6 lần  
và Chất rắn lơ lửng vượt 39 lần.  
Kon Tum  
Dọc sông Pô Kô thuộc địa bàn ở xã Kroong,  
thành phố Kon Tum, tꢁnh Kon Tum mỗi ngày cũng có  
hàng trăm lượt người dân đổ xô đi đào đãi vàng trái  
phép. Dọc bờ sông Pô Kô dài chừng hơn 10 km đã  
diễn ra hoạt động khai thác khoáng sản trái phép.  
Nguồn: Chi cục Bảo vệ môi trường các tỉnh Gia Lai,  
Kon Tum, 2012  
Một trong những loại vật liệu xây dựng được  
khai thác từ các lòng sông là cát. Hoạt động này  
BÁO CÁO MÔI TRƯỜNG QUỐC GIA 2012  
19  
MÔI TRƯỜNG NƯỚC MẶT  
TỔNG QUAN VỀ NƯỚC MẶT VIỆT NAM  
diễn ra trên toàn bộ hệ thống sông  
suối ở nước ta tuy nhiên, tập trung  
nhiều nhất là các tꢁnh phía Nam.  
Tại miền Nam có tới 120 khu vực  
được UBND các tꢁnh cấp phép khai  
thác cát xây dựng, khối lượng cát  
đã khai thác từ những con sông lớn  
như Đồng Nai - Nhà Bè, Sài Gòn,  
Vàm Cỏ Đông, sông Tiền và sông  
Hậu... kể từ năm 1990 đến nay  
lên tới 100 triệu m3. Hậu quả môi  
trường mà các tꢁnh này đang phải  
gánh chịu là làm đục nước sông,  
cản trở thuyền bè qua lại và đặc  
biệt là gây sạt lở nghiêm trọng các  
bờ sông, nhất là ở sông Đồng Nai  
và sông Sài Gòn đã và đang sạt lở  
nghiêm trọng.  
Khung 1.9. Các mỏ, điểm khai thác khoáng sản ở Cao Bằng, Bắc Kạn,  
Tuyên Quang, Hà Giang  
Cao Bằng đã xác định được 142 mỏ và điểm quặng với 22 loại khoáng sản khác nhau. Những mỏ quy mô lớn  
với trữ lượng và chất lượng tốt tập trung nhiều ở các huyện Trà Lĩnh, Trùng Khánh, Hạ Lang. Trong đó, quặng sắt  
có trữ lượng 50-60 triệu tấn, mangan 6-7 triệu tấn, bauxit khoảng 200 triệu tấn, ngoài ra còn có vàng và thiếc.  
Bắc Kạn có 165 mỏ và điểm quặng. Các loại khoáng sản có trữ lượng lớn bao gồm chì, kẽm với 70 mỏ và điểm  
mỏ, trữ lượng khoảng 4 triệu tấn; sắt có 13 mỏ và điểm mỏ, trữ lượng khoảng 22 triệu tấn; vàng có 17 mỏ và điểm  
quặng, trữ lượng khoảng 39 tấn; đá vôi, xi măng 150 triệu m3; đá trắng, thạch anh khoảng 460 triệu m3; sét xi măng  
trên 10 triệu m3; ngoài ra còn có các khoáng sản khác như antimon, titan, kaolin, silic.  
Tuyên Quang có khoảng 200 mỏ và điểm mỏ, 86 điểm khoáng sản thuộc 31 loại khoáng sản được xếp thành  
5 nhóm, bao gồm: khoáng sản nhiên liệu (than đá, than nâu), kim loại (sắt, mangan, chì-kẽm, thiếc, antimon),  
khoáng chất công nghiệp (barit, caolanh-fenspat, dolomit), vật liệu xây dựng (đá vôi, cát cuội sỏi, sét gạch ngói)  
và nước nóng, nước khoáng.  
Hà Giang đã xác định được 175 mỏ, điểm mỏ với 28 loại khoáng sản. Trong đó, 4 nhóm quặng có trữ lượng  
lớn là chì - kẽm, sắt, mangan và antimon. Cho đến nay, đã phát hiện 7 mỏ, điểm mỏ chứa quặng antimon; 19  
mỏ, điểm mỏ sắt; 15 mỏ, điểm mỏ chì - kẽm. Trong các nhóm khoáng sản chính, có 2 mỏ sắt thuộc quản lý của  
Chính phủ là Tùng Bá (huyện Vị Xuyên), Sàng Thần (huyện Bắc Mê); 4 mỏ chì - kẽm, 3 mỏ mangan được UBND  
tꢁnh cho phép thu thập thông tin, khảo sát, đánh giá trữ lượng phục vụ công tác cấp phép khai thác trong tương lai.  
Nguồn: TCMT tổng hợp, 2012  
BÁO CÁO MÔI TRƯỜNG QUỐC GIA 2012  
MÔI TRƯỜNG NƯỚC MẶT  
20  
TỔNG QUAN VỀ NƯỚC MẶT VIỆT NAM  
- 2007 thấp hơn trung bình nhiều năm từ 9 - 20%  
(tại Hà Nội, thấp hơn tới 22%, có năm thấp hơn  
tới 30%); trong mùa kiệt, nguồn nước còn thấp  
hơn trung bình cùng kỳ đến 50 - 60%. Trên các  
LVS khác, nguồn nước mặt phổ biến ở mức thấp  
hơn trung bình nhiều năm từ 15 - 40%, riêng  
các sông ở Nam Trung bộ như ở tꢁnh Bình Định,  
Bình Thuận, lượng dòng chảy thấp hơn trung  
bình nhiều năm tới 55 - 80%.  
1.4. BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ TÁC ĐỘNG  
ĐẾN MÔI TRƯỜNG NƯỚC  
Biến đổi khí hậu đã và đang diễn ra và gây  
những biến động mạnh mẽ thông qua các hiện  
tượng thời tiết cực đoan, dị thường như nhiệt độ  
tăng, bão mạnh, mưa lớn, lũ lụt, hạn hán và nước  
biển dâng... Các biểu hiện của biến đổi khí hậu  
như tăng nhiệt độ, gia tăng mực nước biển, cường  
độ và số đợt không khí lạnh, bão và các hiện tượng  
thời tiết cực đoan diễn ra ngày càng thường xuyên  
và trở nên phổ biến hơn.  
Tình trạng suy giảm, khan hiếm nước ở hạ  
lưu các dòng sông xảy ra thường xuyên. Số liệu  
điều tra cơ bản 5 năm gần đây ở 40 trạm quan  
trắc cho thấy nguồn nước mưa trung bình lãnh  
thổ nước ta khoảng 585 tỷ m3 (xấp xꢁ trung bình  
nhiều năm là 592 tỷ m3) và thường tập trung vào  
một vài tháng mùa mưa. Tuy nhiên, do các ảnh  
hưởng của biến đổi khí hậu, trong giai đoạn gần  
đây, mùa mưa thường kết thúc sớm hơn bình  
thường, mùa khô thường kéo dài hơn với hàng  
tháng không mưa hoặc mưa nhỏ không đáng kể.  
Suy giảm nguồn nước cũng chịu ảnh hưởng  
của xu thế suy thoái do tác động của biến đổi  
khí hậu toàn cầu. Nhiệt độ không khí có xu thế  
ngày một tăng lên và kịch bản có thể chấp nhận  
là đến năm 2070, nhiệt độ ở các vùng ven biển  
có khả năng tăng thêm +1,50C, vùng nội địa tăng  
+2,00C. Việc này kéo theo lượng hơi nước bốc lên  
tăng khoảng 7,7% - 8,4%, nhu cầu tưới tăng lên,  
lượng dòng chảy nước mặt sẽ giảm đi tương ứng  
khi lượng mưa không đổi và thậm chí giảm. Còn  
hiện tượng El-Nino mỗi khi xuất hiện cũng gắn  
liền với việc gây hạn hán rất nặng nề ở nước ta.  
Trong mùa kiệt những năm qua, suy giảm  
nguồn nước mặt diễn ra khá phổ biến ở các LVS  
Hương, Vu Gia - Thu Bồn, Trà Khúc, Kôn, Ba,  
Đồng Nai - Sài Gòn, Sê San, Srêpôk... thậm chí  
suy giảm nguồn nước nghiêm trọng đã diễn ra ở  
các hồ chứa thủy điện Hòa Bình, Thác Bà, Tuyên  
Quang, dẫn tới suy giảm mực nước liên tục ở hạ  
lưu sông Hồng. Hiện tượng này làm cho nhiều  
sông vốn khá phong phú nguồn nước nay mất  
dòng chảy hoặc cạn đến mức cạn kiệt, diễn ra  
liên tục trong những năm gần đây. Sông Hồng,  
sông Thao có những thời kỳ dài trơ đáy do mực  
nước giảm quá thấp, cạn kiệt trong nhiều tháng  
liên tục vào mùa khô của 6 - 7 năm gần đây (tại  
Hà Nội, mực nước thấp nhất năm liên tục xuống  
thấp, năm sau thấp hơn năm trước, lập những  
kỷ lục cạn kiệt chưa từng thấy trong chuỗi số  
liệu quan trắc trong gần 110 năm qua). Đây là  
hiện tượng không bình thường vì về nguyên tắc,  
các công trình hồ chứa đều có nhiệm vụ bổ sung  
nguồn nước vào mùa kiệt.  
Lượng mưa trung bình năm có xu hướng giảm  
ở các vùng khí hậu phía Bắc và tăng ở các vùng  
khí hậu phía Nam. Tính trung bình trong cả nước,  
lượng mưa năm trong 50 năm qua (1958 - 2007)  
đã giảm khoảng 2%. Tuy nhiên, biến đổi lượng  
mưa có xu hướng cực đoan: tăng trong mùa mưa  
và giảm trong mùa khô. Thêm vào đó, lượng mưa  
phân bố rất không đều theo thời gian: mùa khô  
và mùa mưa - mùa khô thì hạn hán, mùa mưa thì  
ngập úng, theo không gian - trong một thời điểm  
có vùng đang chịu lũ lụt lại có vùng đang thiếu  
nước trầm trọng thậm chí khô hạn.  
Số liệu thống kê cho thấy mực nước mặt ở hạ  
du các công trình hồ chứa thủy điện, thủy lợi  
trên những LVS chính nước ta, như sông Hồng,  
Đồng Nai - Sài Gòn, Ba, Vu Gia - Thu Bồn... phổ  
biến thấp hơn trung bình hàng năm, có nơi thấp  
hơn khá nhiều. Tại hạ lưu sông Đà, Thao, Lô và  
Hồng - Thái Bình, nguồn nước trong 5 năm 2003  
Theo đánh giá, hiện tượng suy giảm nguồn  
nước xảy ra ở hạ lưu các LVS một phần là do công  
BÁO CÁO MÔI TRƯỜNG QUỐC GIA 2012  
21  
MÔI TRƯỜNG NƯỚC MẶT  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 21 trang myanh 25880 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Báo cáo Môi trường Quốc gia 2012 - Môi trường nước mặt", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbao_cao_moi_truong_quoc_gia_2012_moi_truong_nuoc_mat.pdf
  • pdfChuong 2.pdf
  • pdfChuong 3.pdf
  • pdfChuong 4.pdf
  • pdfChuong 5.pdf
  • pdfChuong 6.pdf
  • pdfKet Luan - Kien Nghi.pdf
  • pdfphan dau (muc luc loi noi dau trich yeu).pdf
  • pdfTai Lieu Tham Khao.pdf