Báo cáo Môi trường Quốc gia 2011 - Chất thải rắn
Chương 1:
Tổng quan phát triển kinh tế - xã hội
và quản lý chất thải rắn ở Việt Nam
1.1. TỔNG QUAN PHÁT TRIỂN
KINH TẾ - XÃ HỘI
Chương 1:
TỔNG QUAN pháT TriểN
kiNh Tế - xã hội và QUảN lý
ChấT Thải rắN ở việT NAm
Trong thời gian qua, mặc dù chịu ảnh
hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu
nhưng tăng trưởng GDP bình quân 5 năm
2006 - 2010 của nước ta ước đạt khoảng 7%.
Tuy nhiên, chất lượng tăng trưởng của nước ta
vẫn chủ yếu dựa vào hai nhân tố vốn đầu tư
và lao động, trong khi tỷ trọng đóng góp của
KH&CN trong tăng trưởng lại thấp hơn nhiều
nước. Theo tính toán của các nhà khoa học,
tăng trưởng GDP nước ta dựa vào yếu tố vốn
chiếm 52 - 53%, yếu tố lao động 19 - 20%,
còn yếu tố năng suất tổng hợp (TFP) chiếm
28 - 29%, trong khi, yếu tố này ở một số nước
trong khu vực chiếm tới 35 - 40% (Ủy ban
Kinh tế Quốc hội, 2010).
Trong chiến lược công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước đã được Đảng và Chính
phủ đặt ra và được Quốc hội phê duyệt
trong Chiến lược phát triển KT-XH giai đoạn
5 năm 2006 - 2010, mục tiêu quan trọng là
phát triển nhanh và mạnh hơn nữa nhằm
tăng tỷ trọng đóng góp của các ngành công
nghiệp, xây dựng và dịch vụ vào cơ cấu nền
kinh tế, nhưng thống kê ở Bảng 1.1 và Biểu
đồ 1.1 cho thấy, cơ cấu các ngành trong
GDP không có nhiều thay đổi trong giai
đoạn 2006 - 2010.
Biểu đồ 1.1. Giá trị tổng sản phẩm trong nước (GDP)
theo giá thực tế phân theo khu vực kinh tế
Nguồn: TCTK, 2011
Bảng 1.1. Cơ cấu tổng sản phẩm trong nước theo giá thực tế qua các năm 2006 - 2010
Giá trị thực tế đạt được (%)
Nghị quyết của
Quốc hội (*)
2006
20,40
41,54
38,06
2007
20,34
41,48
38,18
2008
22,21
39,84
37,95
2009
20,91
40,24
38,85
2010
20,58
41,10
38,32
Nông, lâm nghiệp và thủy sản
Công nghiệp và xây dựng
Dịch vụ
15 - 16
43 - 44
40 - 41
Nguồn: TCTK, 2011
Ghi chú: (*) Nghị quyết 56/2006/QH11 ngày 29/06/2006 của Quốc hội về kế hoạch phát triển KT-XH 5 năm 2006 - 2010
3
Báo cáo môi trường quốc gia 2011:
Chất thải rắn
Các ngành sản xuất kinh doanh, dịch vụ
ở các đô thị; các KCN ngày càng được mở
rộng và phát triển đã thúc đẩy quá trình tăng
trưởng về các mặt KT-XH. Tăng trưởng KT-XH
một mặt góp phần tích cực cho sự phát triển
của đất nước, mặt khác đã làm phát sinh
lượng CTR ngày càng lớn (bao gồm cả CTR
sinh hoạt, CTR công nghiệp, CTR y tế...). Việc
thải bỏ một cách bừa bãi và quản lý không
hiệu quả CTR ở các đô thị, KCN,... là một
trong những nguyên nhân gây ô nhiễm môi
trường, làm phát sinh bệnh tật, ảnh hưởng
đến sức khỏe và cuộc sống con người.
Nước ta là một trong những quốc gia có
mật độ dân số cao nhất trên thế giới với số
dân đứng thứ 3 ở Đông Nam Á, thứ 14 trên thế
giới. Quá trình gia tăng dân số nhanh chóng
kéo theo những đòi hỏi, yêu cầu về đáp ứng
các nhu cầu về nhà ở, sinh hoạt, giáo dục, đào
tạo, chăm sóc y tế, giao thông vận tải, việc
làm,.. làm gia tăng sức ép đối với môi trường
tự nhiên và môi trường xã hội. Khả năng chịu
tải của môi trường tự nhiên là có giới hạn, khi
dân số tăng nhanh và chất thải không được xử
lý xả thải vào môi trường sẽ làm vượt quá khả
năng tự làm sạch của môi trường tự nhiên, tất
yếu sẽ dẫn đến ô nhiễm môi trường.
Tổng dân số của nước ta năm 2010 ước
tính khoảng 86,93 triệu người, tăng 1,01%
so với năm 2009 và 5,51% so với năm 2005.
Trong đó, dân số khu vực thành thị là 26,22
triệu người (tăng 1,03% so với năm 2009)
chiếm 30,2% tổng dân số, dân số khu vực
nông thôn là 60,7 triệu người (tăng khoảng
1,0 % so với năm 2009) chiếm 69,8% tổng
dân số. Năm 2005, GDP bình quân đầu người
của nước ta chỉ đạt 642 USD, năm 2008 là
1.052 USD và đến năm 2010, con số này đã
đạt 1.169 USD (TCTK, 2011). Thu nhập bình
quân đầu người của khu vực đô thị cao hơn
2 lần so với khu vực nông thôn (Biểu đồ 1.2).
Biểu đồ 1.2. Thu nhập bình quân đầu người
chia theo khu vực
Nguồn: TCTK, 2011
4
Chương 1:
Tổng quan phát triển kinh tế - xã hội
và quản lý chất thải rắn ở Việt Nam
Đi cùng các giải pháp đẩy mạnh tăng
trưởng kinh tế và góp phần đảm bảo an sinh
xã hội, tỷ lệ hộ nghèo trong thời gian qua cũng
đã giảm đáng kể. Năm 2006, số hộ nghèo
trong cả nước chiếm 15,5% thì năm 2008,
con số này đã giảm xuống còn 13,4%. Tuy
nhiên, do chuẩn nghèo mới của Chính phủ
tăng lên nên năm 2010 tỷ lệ này là 14,2%.
Chất lượng cuộc sống người dân tốt hơn
kéo theo nhu cầu tiêu dùng gia tăng, theo đó,
lượng chất thải phát sinh cũng nhiều hơn.
Theo đánh giá và nghiên cứu thực tế cho
thấy, tính bình quân đầu người, dân số đô thị
tiêu dùng tài nguyên thiên nhiên (như năng
lượng, vật phẩm, nguyên vật liệu,...) cao gấp
2 - 3 lần so với người dân sinh sống ở nông
thôn; chất thải do người dân đô thị thải ra
cũng cao gấp 2 - 3 lần người dân nông thôn.
1.2. KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TÁC
QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Ở VIỆT NAM
Trong thập niên 70 - 80 của thế kỷ trước,
công tác quản lý CTR được các nhà quản lý
quan tâm tập trung chủ yếu vào công tác thu
gom và xử lý các loại chất thải phát sinh từ
hoạt động sinh hoạt của con người (CTR sinh
hoạt). Chính vì vậy, mô hình thu gom, xử lý
khi đó cũng mới chỉ hình thành ở mức độ đơn
giản. Đơn vị chịu trách nhiệm quản lý, thu
gom, vận chuyển và xử lý CTR được giao cho
Phòng Quản lý đô thị trực thuộc UBND tỉnh,
thành phố với đơn vị chịu trách nhiệm vệ
sinh đường phố là các công nhân quét dọn và
thu gom rác thải từ các hoạt động sinh hoạt
của người dân khu vực đô thị. Chất thải sau
đó được tập kết và đổ thải tại nơi quy định.
Trong giai đoạn tiếp theo, cùng với quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước,
các ngành kinh tế bắt đầu được Nhà nước ưu
tiên phát triển. Các hoạt động công nghiệp,
5
Báo cáo môi trường quốc gia 2011:
Chất thải rắn
nông nghiệp, chăn nuôi và các ngành du
lịch, dịch vụ theo đó cũng phát triển mạnh là
nguyên nhân phát sinh lượng chất thải ngày
càng lớn của các ngành nêu trên. Đi kèm với
quá trình phát sinh về khối lượng là tính phức
tạp, sự nguy hại về tính chất. Công tác quản
lý CTR không còn đơn thuần là quản lý CTR
sinh hoạt mà còn bao gồm vấn đề quản lý CTR
công nghiệp, xây dựng, y tế, nông nghiệp...
Quá trình phát triển đòi hỏi công tác quản lý
CTR phát triển tương ứng về cơ chế, chính
sách, pháp luật và các nguồn lực.
Nhằm đáp ứng kịp thời yêu cầu thực tế đặt
ra, công tác quản lý CTR được điều chỉnh bằng
một hệ thống các chính sách, văn bản quy
phạm pháp luật quy định khá chi tiết. Song
song với đó, hệ thống tổ chức quản lý CTR bắt
đầu hình thành và phát triển với các nguyên
tắc tương đối cụ thể; căn cứ theo chức năng
quản lý và nhiệm vụ được giao, các bộ, ngành
liên quan có trách nhiệm quản lý CTR phát
sinh của ngành.
Cho đến nay, hoạt động quản lý CTR không
chỉ tập trung vào công tác thu gom và tập kết
CTR sinh hoạt đô thị đến nơi đổ thải theo quy
định. Công tác quản lý CTR hiện nay đã mở
rộng hơn, bao gồm từ hoạt động thu gom, vận
chuyển, trung chuyển và xử lý CTR hợp vệ
sinh, đảm bảo các QCVN và TCVN đặt ra;
không những đối với CTR sinh hoạt đô thị,
nông thôn mà còn đối với CTR công nghiệp,
CTR từ hoạt động sản xuất nông nghiệp, chăn
nuôi và CTR y tế.
Mặc dù hiện nay, công tác quản lý CTR
chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu thực tế
nhưng cùng với sự phát triển KT-XH, đi cùng
với xu hướng phát triển và hội nhập, công tác
quản lý CTR đã từng bước được thay đổi, tăng
cường để phát huy hơn nữa vai trò và hiệu
quả thực hiện.
6
Chương 1:
Tổng quan phát triển kinh tế - xã hội
và quản lý chất thải rắn ở Việt Nam
1.3. PHÂN LOẠI CHẤT THẢI RẮN VÀ
TỶ TRỌNG PHÁT SINH
Việc phân loại CTR có thể thực hiện theo
nhiều cách khác nhau. Nếu phân chia theo
nguồn gốc phát sinh, có thể chia ra CTR sinh
hoạt đô thị, CTR xây dựng, CTR nông thôn,
nông nghiệp và làng nghề, CTR công nghiệp,
CTR y tế. Mặt khác, nếu phân chia theo tính
chất độc hại của CTR thì chia ra làm 2 loại:
CTR nguy hại và CTR thông thường. Với mỗi
cách phân loại khác nhau, sẽ có những đặc
điểm khác nhau về lượng và thành phần CTR.
1.3.1. Phân loại chất thải rắn theo
nguồn gốc phát sinh
Quá trình phát sinh CTR gắn liền với quá
trình sản xuất, mỗi giai đoạn của quá trình
sản xuất đều tạo ra CTR, từ khâu khai thác,
tuyển chọn nguyên liệu đến khi tạo ra sản
phẩm phục vụ người tiêu dùng (Bảng 1.2).
Bảng 1.2. CTR theo các nguồn phát sinh khác nhau
NGUỒN
PHÁT SINH
TÍNH CHẤT
LOẠICHẤT THẢI
Rác thực phẩm, giấy, vải, da, rác vườn, gỗ, thủy tinh, lon, kim loại, lá cây,..
VLXD thải từ xây sửa nhà, đường giao thông, vật liệu thải từ công trường,..
Thông
thường
CTR
đô thị
Nguy
hại
Đồ điện, điện tử hư hỏng, nhựa, túi nylon, pin, săm lốp xe, sơn thừa, đèn
neon hỏng, bao bìthuốc diệt chuột/ruồi/muỗi,..
Rác thực phẩm, giấy, vải, da, rác vườn, gỗ, thủy tinh, lon, kim loại, lá cây,
rơm rạ, cành lá cây, chấtthải chăn nuôi,..
Thông
thường
CTR
nông
thôn
Đồ điện, điện tử hư hỏng, nhựa, túi nylon, pin, săm lốp xe, sơn thừa, đèn
Nguy
hại
neon hỏng, bao bì thuốc diệt chuột/ruồi/muỗi, bao bì thuốc bảo vệ thực
vật,..
Thông
Rác thảisinh hoạtcủa công nhân trong quá trình sản xuất và sinh hoạt,..
Kim loại nặng, giẻ lau máy, cao su, bao bì đựng hóa chấtđộc hại,..
thường
CTR
công
nghiệp
Nguy
hại
Chất thải nhà bếp, chất thải từ hoạt động hành chính, bao gói thông
thường,..
Thông
thường
CTR
y tế
Phế thải phẫu thuật, bông, gạc, chất thải bệnh nhân, chất phóng xạ, hóa
chấtđộc hại, thuốc quá hạn,..
Nguy
hại
Nguồn: TCMT tổng hợp
7
Báo cáo môi trường quốc gia 2011:
Chất thải rắn
Hiện nay, số liệu về phát sinh CTR mới chủ
yếu được thống kê tại khu vực đô thị và các
KCN; ở khu vực nông thôn, hầu như số liệu
về CTR chưa được thống kê một cách đầy đủ
(chẳng hạn như lượng rơm, rạ thải bỏ từ sản
xuất nông nghiệp). Trên phạm vi toàn quốc,
từ năm 2003 đến năm 2008, lượng CTR phát
sinh trung bình tăng từ 150 - 200%, CTR sinh
hoạt đô thị tăng trên 200%, CTR công nghiệp
tăng 181% (Bảng 1.3), và còn tiếp tục gia tăng
trong thời gian tới. Dự báo của Bộ Xây dựng và
Bộ TN&MT, đến năm 2015, khối lượng CTR
phát sinh ước đạt khoảng 44 triệu tấn/năm,
phát sinh CTR nhiều nhất là ở các đô thị và
khu vực công nghiệp (Biểu đồ 1.4).
Bảng 1.3. Lượng chất thải phát sinh năm 2003
và năm 2008
Đơn vị
tính
Loại CTR
Năm 2003 Năm 2008
CTR đô thị
tấn/năm 6.400.000 12.802.000
CTR công nghiệp
CTR y tế
tấn/năm 2.638.400
tấn/năm 21.500
tấn/năm 6.400.000
774.000
4.786.000
179.000
CTR nông thôn
CTR làng nghề
9.078.000
1.023.000
tấn/năm
Nguồn: Báo cáo Diễn biến Môi trường Việt Nam năm 2004;
Viện Quy hoạch Đô thị - Nông thôn, Bộ Xây dựng, 2010
Theo thống kê các năm gần đây, khoảng
42 - 46% lượng CTR phát sinh là từ các đô
thị, khoảng 17% CTR là từ các hoạt động sản
xuất công nghiệp; số còn lại là CTR của nông
thôn, làng nghề và CTR y tế chỉ chiếm phần
nhỏ. Dự báo cho đến năm 2015, tỷ trọng này
cho CTR đô thị và CTR công nghiệp sẽ còn
tiếp tục tăng lên tương ứng với các con số
50,8 và 22,1 % (Bảng 1.3 và Biểu đồ 1.3).
0
0
Biểu đồ 1.3. Thành phần CTR toàn quốc năm 2008
và xu hướng thay đổi trong thời gian tới
Biểu đồ 1.4 cho thấy, CTR đô thị, CTR
công nghiệp và CTR y tế phát sinh phần lớn
ở vùng Đông Nam Bộ và vùng ĐBSH, nơi tập
trung các đô thị, các KCN và các cơ sở khám
chữa bệnh lớn của tuyến Trung ương. Phát
sinh CTR nông thôn chủ yếu là ở vùng Đồng
bằng sông Cửu Long, Duyên hải Trung Bộ và
đồng bằng sông Hồng. Còn đối với CTR làng
nghề thì nguồn phát sinh chủ yếu là ở vùng
đồng bằng sông Hồng, nơi tập trung phần lớn
các làng nghề của toàn quốc.
Nguồn: Viện Quy hoạch Đô thị và Nông thôn,
Bộ Xây dựng, 2010
Biểu đồ 1.4. Hiện trạng phát sinh CTR theo các vùng kinh tế
của nước ta và dự báo trong thời gian tới
Nguồn: Viện Quy hoạch Đô thị và Nông thôn,
Bộ Xây dựng, 2010
8
Chương 1:
Tổng quan phát triển kinh tế - xã hội
và quản lý chất thải rắn ở Việt Nam
1.3.2. Phân loại chất thải rắn theo
tính chất độc hại
Khung 1.1. Xu hướng thay đổi về
thành phần CTR
Chất thải rắn thông thường
Sự thay đổi thành phần CTR có ý nghĩa
rất quan trọng trong việc hoạch định kế
hoạch quản lý CTR. Tại các nước phát
triển, 4 thành phần CTR có xu hướng thay
đổi lớn: chất thải từ thực phẩm thừa, giấy,
nilon - nhựa và vải;
Năm 2009, theo kết quả khảo sát của Tổng
cục Môi trường, lượng CTR thông thường
phát sinh trong cả nước vào khoảng 28 triệu
tấn/năm, trong đó, CTR công nghiệp thông
thường là 6,88 triệu tấn/năm, CTR sinh hoạt
vào khoảng 19 triệu tấn/năm, CTR y tế thông
thường vào khoảng 2,12 triệu tấn/năm.
Chất thải thực phẩm: sự phát triển của
ngành công nghiệp chế biến và đóng gói
thực phẩm có ảnh hưởng lớn đến sự thay
đổi lượng chất thải thực phẩm. Cộng đồng
cũng đã ý thức về các vấn đề liên quan đến
môi trường nhiều hơn, xu hướng sử dụng
thực phẩm công nghiệp đã gia tăng đáng
kể;
Chất thải nguy hại
Trong giai đoạn hiện nay, lượng chất
thải không ngừng gia tăng tạo sức ép rất lớn
đối với công tác BVMT. Theo kết quả thống
kê, năm 2003 lượng CTNH phát sinh vào
khoảng 160 nghìn tấn và dự báo sẽ tăng lên
500 nghìn tấn vào năm 2010. Nhưng thực tế
đến năm 2009, theo báo cáo của 35/63 tỉnh
thành phố, lượng CTNH phát sinh từ các địa
phương này đã vào khoảng 700 nghìn tấn.
Năm 2009, lượng CTNH được thu gom, vận
chuyển, xử lý bởi các đơn vị hành nghề quản
lý CTNH liên tỉnh do Tổng cục Môi trường
cấp phép là hơn 100 nghìn tấn (chỉ đáp ứng
một phần nhỏ trong tổng lượng phát sinh).
Phát sinh CTNH rất đa dạng về nguồn và
chủng loại trong khi công tác phân loại tại
nguồn còn yếu dẫn đến khó khăn trong công
tác quản lý và xử lý.
Giấy: chất thải giấy tăng nhanh do 2
nguyên nhân chính: (1) chủ trương và nhu
cầu phát triển nhanh, mạnh của nền giáo
dục, nhu cầu của người dân trong hưởng thụ
văn hóa như đọc sách, báo,..(2) ngành công
nghiệp đóng gói hàng hoá cho tiêu dùng và
xuất khẩu phát triển mạnh làm gia tăng
thành phần thải;
Nilon - Nhựa các loại: với tốc độ và
xu hướng phát triển nhanh, ngành công
nghiệp đóng gói, công nghiệp sản xuất các
mặt hàng nhựa đã làm gia tăng khối lượng
nhựa trong CTR;
Vải: thành phần chất thải này rất khó
dự đoán, tuy nhiên nó có thể sẽ tăng lên
trong thời gian tới khi nhu cầu may mặc của
người dân tăng cao cũng như sự đẩy mạnh
xuất khẩu các mặt hàng này.
Chất thải công nghiệp tại Việt Nam chiếm
khoảng từ 13% - 20% tổng lượng chất thải,
trong số đó, CTNH chiếm khoảng 18% tổng
số chất thải công nghiệp.
Nguồn: TCMT tổng hợp
CTNH còn phát sinh từ các hoạt động
sản xuất nông nghiệp như các vỏ chai lọ
hóa chất, phân bón, thuốc BVTV,... sau quá
trình sử dụng, thậm chí tiện thể vứt ở ngay
bờ ruộng, góc vườn hoặc nguy hiểm hơn, có
9
Báo cáo môi trường quốc gia 2011:
Chất thải rắn
trường hợp còn vứt bừa bãi ngay đầu nguồn nước sinh hoạt. Tổng số các loại
hoá phẩm nông nghiệp hiện được lưu giữ có thể hơn 37 nghìn tấn, trong đó có
53% được lưu giữ tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Bên cạnh các kho lưu
giữ, theo điều tra tại 39 tỉnh thành trong cả nước thì có đến hơn 730 nghìn hoá
phẩm nông nghiệp không nhãn mác, bao gồm các chai lọ bằng nhựa, thuỷ tinh
hay kim loại. Những hoá phẩm này hiện đang thải bỏ không đúng cách hoặc
vẫn được sử dụng.
Trong hoạt động y tế, lượng CTR y tế phát sinh hiện vào khoảng 350 tấn/ngày.
Chất thải y tế được chia làm 5 loại gồm: chất thải lâm sàng, chất thải phóng xạ,
chất thải hoá học, các bình khí có áp suất và chất thải sinh hoạt thông thường.
CTR y tế nguy hại chiếm tỉ trọng khoảng 20 - 25% tổng lượng phát sinh trong
các cơ sở y tế (Biểu đồ 1.5). Đó là chất thải có tính lây nhiễm như máu, dịch,
chất tiết, bộ phận cơ thể, vật sắc nhọn, chất thải hóa học, dược phẩm, chất thải
phóng xạ và các bình áp suất có khả năng cháy nổ.
Biểu đồ 1.5. Thành phần CTR y tế theo tính chất nguy hại
Nguồn: TCMT tổng hợp, 2011
10
Bạn đang xem tài liệu "Báo cáo Môi trường Quốc gia 2011 - Chất thải rắn", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
bao_cao_moi_truong_quoc_gia_2011_chat_thai_ran.pdf
bia1.jpg
bia4.jpg
chuong 3.pdf
chuong 4.pdf
Chuong 5.pdf
Chuong 6.pdf
Chuong 7.pdf
chuong2.pdf
Ket luan va kien nghi.pdf
loinoidau.pdf
phandau.pdf
Phu luc.pdf
tai lieu tham khao1.pdf
to bia lot.pdf

