Xói mòn bề mặt và vận chuyển bùn cát trong lưu vực Sông Lô

KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
XÓI MÒN BỀ MẶT VÀ VẬN CHUYỂN BÙN CÁT  
TRO NG LƯU VỰC SÔNG LÔ  
Lê Thanh Hùng  
Trường Đại học Thủy Lợi  
Tóm tắt: Bài báo này đề cập vấn đề xói mòn bề mặt và vận chuyển bùn cát trong lưu vực sông  
Lô, từ đó làm cơ sở dự báo ảnh hưởng của sự thay đổi thảm phủ và xây dựng hồ chứa đến xói  
mòn bề mặt và vận chuyển bùn cát lưu vực. Phương trình mất đất phổ dụng hiệu chỉnh (RUSLE),  
mô hình tập trung dòng chảy, thay đổi sử dụng đất, ảnh hưởng của hồ chứa đã được sử dụng để  
tính toán trong mô hình xói mòn và vận chuyển bùn cát trong điều kiện tự nhiên và điều kiện  
thay đổi thảm phủ. Thay đổi tình hình sử dụng đất, khoảng 20% diện tích rừng chuyển đổi thành  
đất nông nghiệp và 15% biến thành đồng cỏ và đồi trọc, lượng bùn cát vận chuyển trong sông  
tăng 28%. Hồ chứa Thác Bà và hồ chứa Tuyên Quang sau khi đưa vào khai thác đã làm thay đổi  
hàm lượng bùn cát dòng chảy từ 1971 và 2005. Phân tích các số liệu quan trắc về hàm lượng  
bùn cát, giảm khoảng 95% lượng bùn cát vận chuyển trong sông Chảy do tác động của hồ Thác  
Bà và giảm khoảng 71% trong sông Gâm do tác động của hồ Tuyên Quang.  
Từ Khóa: Hồ chứa, lưu vực sông Lô, RUSLE, vận chuyển bùn cát, xói mòn bề mặt  
Summary: This article approaches the problem of surface erosion and sediment load in the Lo  
river basin, in order to predict the possible impact of reservoirs and land use changes on surface  
erosion and sediment load in the river basin. The Revised Universal Soil Loss Equation  
(RUSLE), a river network routing scheme, land use change and effects of reservoirs were  
accounted in modeling erosion and sediment yield passing from natural impounded and land use  
change conditions. Land use changes scenarios, parameterized on the basis of observed land use  
changes in the impounded basin, assuming that 20% of forest area is converted into rice and  
agricultural crops and 15% into bushes, shrubs and meadows show that a 28% increase of  
sediment load can be expected. The Thac Ba reservoir and the Tuyen Quang reservoir already  
changed sediment concentration since 1971 and 2005 when they were, respectively, in  
operations. By analyzing the sediment concentration data, the sediment load reduction of about  
95% is shown for the dam in the Chay river (Thac Ba reservoir) and 71% is for the dam in the  
Gam river (Tuyen Quang reservoir).  
Keywords: Reservoirs, Lo river basin, RUSLE, sediment load, surface erosion  
1. MỞ ĐẦU*  
lưu vực có hai hồ chứa lớn là Thác Bà (dung  
tích 2,49·109 m3) và Tuyên Quang (dung tích  
2,245·109 m3) được đưa vào khai thác lần lượt  
từ năm 1971 và năm 2005 đã làm thay đổi cơ  
bản hàm lượng bùn cát tự nhiên trong sông.  
Các thay đổi đó tác động không nhỏ đến sự xó i  
mòn bề mặt lưu vực và vận chuyển bùn cát  
trong sông.  
Khu vực nghiên cứu là lưu vực sông Lô có  
diện tích 38165 km2 (tại Việt Trì), nơi có tình  
trạng phát rừng làm nương rãy mạnh mẽ cùng  
với tập tục canh tác làm thay đổi thảm phủ  
thực vật trên bề mặt lưu vực. Bên cạnh đó trên  
Ngày nhận bài: 02/6/2017  
Ngày thông qua phản biện: 12/7/2017  
Ngày duyệt đăng: 26/7/2017  
Bài báo này đề cập đến vấn đề xói mòn bề  
mặt lưu vực theo thời gian và vận chuyển  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 39 - 2017  
1
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
bùn cát trong lưu vực sông từ đó dự đoán 2. LƯU VỰC NGHIÊN CỨU  
ảnh hưởng của sự thay đổi t hảm phủ thực  
Vùng nghiên cứu là lưu vực sông Lô, một trong  
vật, xây dựng hồ chứa và các yếu tố khác  
bao gồm cả các yếu tố tự nhiên và tác động  
của con người gây ra đối với lượng xói  
mòn và vận chuyển bùn cát trong lưu vực  
sông Lô.  
ba nhánh chính của sông Hồng. Sông Lô được  
hợp thành vớisông Gâm vàsông Chảy; có độ dốc  
trung bình lưu vực là 19,7%; có diện tích lưu vực  
2
là 38165 km (tính đến Việt Trì) trong đó 22629  
km2 trên lãnh thổ Việt Nam; chiều dài dòng chính  
là 470 km (275 km ở Việt Nam); độ cao trung  
bình lưu vực là 884 m, phần cao trên 250 m  
chiếm hơn 80%tổng diện tích lưu vực (hình 1).  
Hình 1: Bản đồ lưu vực sông Lô (Trung Quốc và Việt Nam)  
3. LƯỢNG MƯA, DÒNGCHẢYVÀBÙN CÁT dao động trong khoảng 1500÷1800 mm, đặc  
biệt ở trạm Bắc Quang lên tới 4814,8 mm.  
Trung bình hàng năm số ngày mưa là 150  
Lượng mưa trung bình năm tỉnh Tuyên Quang  
3.1. Chế độ mưa  
2
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 39 - 2017  
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
ngày. Mùa mưa trùng với mùa hè với tổng hàng năm. Các tháng có lượng mưa lớn là  
lượng mưa cả mùa khoảng 1310÷2131 mm (tại tháng 7, tháng 8 và tháng 9 với khoảng  
các trạm khác nhau), chiếm 85,3÷94,1% tổng 250÷320 mm/tháng, và đặc biệt lên đến 950  
lượng mưa hàng năm. Mùa khô trùng với mùa mm/tháng (tháng 9 năm 2000 tại TP. Tuyên  
đông, có tổng lượng mưa cả mùa là 134÷225 Quang). Chi tiết lượng mưa trung bình tháng  
mm, chỉ chiếm 5,9÷24,7% tổng lượng mưa tại các trạm đo trên lưu vực ghi ở bảng 1.  
Bảng 1: Lượng mưa trung bình tháng, năm tại các trạm trên lưu vực sông Lô  
Đơn vị:mm  
Tháng  
Đạo Đức  
Bảo Lạc  
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10  
39,0 43,7 67,6 108,6 305,0 450,8 545,8 415,2 234,5 165,9 83,8 34,5 2494,4  
22,2 25,9 44,9 76,1 165,1 212,7 241,6 217,3 98,2 76,3 41,5 21,5 1243,4  
11  
12  
Năm  
Lục Yên  
32,5 41,9 71,7 136,4 209,0 283,5 328,0 396,6 255,1 144,4 59,7 27,6 1986,3  
20,2 19,9 38,0 94,7 181,0 313,1 367,1 323,6 180,7 123,4 66,6 26,5 1754,7  
41,7 46,1 50,2 115,6 204,5 327,2 405,2 363,0 207,5 159,5 81,5 35,4 2037,4  
17,8 21,6 44,7 88,4 196,0 294,2 338,5 319,9 165,2 105,0 52,4 21,1 1664,6  
Phố Bằng  
M. Khương  
H. Su Phì  
Bắc Mê  
26,0 27,6 51,1 90,1 244,3 287,7 329,2 267,0 132,6  
91,6 46,6 21,6 1615,4  
Bắc Hà  
24,1 31,8 57,1 124,8 194,9 237,5 276,2 332,2 211,1 124,8 64,1 22,3 1700,8  
72,0 73,5 90,3 246,3 761,9 983,7 919,4 625,1 406,5 391,6 166,1 78,3 4814,8  
Bắc Quang  
Chợ Rã  
19,0 22,4 45,0 92,8 176,0 238,7 254,0 239,7 125,1  
21,2 29,5 56,7 107,5 251,9 322,4 336,0 278,4 135,3  
86,2 40,8 19,2 1358,9  
90,2 43,4 22,7 1695,2  
Na Hang  
Phố Ràng  
Chợ Đồn  
Chiêm Hóa  
Hàm Y ên  
Tuyên Quang  
Thác Bà  
27,4 34,8 59,6 135,3 183,6 213,8 251,1 333,0 203,8 112,9 44,8 17,4 1617,2  
17,4 27,2 46,5 112,6 203,5 320,9 345,8 340,9 162,8 119,3 44,8 20,6 1762,4  
26,0 32,8 52,9 122,9 234,4 280,4 283,9 295,3 166,9 106,9 45,3 22,0 1669,7  
27,3 39,5 56,2 126,4 232,1 281,6 321,6 318,3 184,7 120,8 44,7 22,2 1775,4  
23,1 29,5 52,4 112,8 222,6 270,8 289,6 298,4 172,6 124,3 45,6 17,3 1659,0  
21,9 30,2 54,6 112,7 212,4 255,1 331,8 332,2 198,4 126,7 50,8 20,5 1747,3  
31,9 38,8 57,8 111,3 209,9 243,7 281,4 275,1 195,1 136,7 48,0 24,0 1653,6  
33,7 37,1 55,0 112,1 215,2 247,9 279,3 286,7 202,5 151,3 60,4 24,0 1705,3  
26,4 30,9 46,2 102,3 187,2 260,6 269,4 272,2 183,0 142,0 51,8 20,2 1592,3  
Vũ Quang  
Phú Hộ  
Việt Trì  
3.2. Dòng chảy và bùn cát  
Từ hình 2 cho thấy, sau khi hồ chứa Thác Bà  
đi vào vận hành (năm 1971) hàm lượng bùn  
cát lơ lửng trong dòng chảy đo được tại hạ lưu  
giảm đột biến. Hàm lượng bùn cát lơ lửng  
trung bình trong giai đoạn 1971-1975 giảm  
xuống còn 0,026 kg/m3 so với mức trung bình  
0,529 kg/m3 trong giai đoạn 1959-1970 (trước  
khi xây dựng hồ chứa), tỷ lệ lắng đọng bùn cát  
trong lòng hồ Thác Bà đạt 95%.  
Các số liệu dòng chảy và hàm lượng bùn cát lơ  
lửng trong sông được quan trắc, đo đạc tại 8  
trạm thủy văn khác nhau bố trí trong lưu vực  
sông Lô gồm: trạm Bảo Yên, trạm Thác Bà,  
trạm Hà Giang, trạm Hàm Yên, trạm Bảo Lạc,  
trạm Chiêm Hóa, trạm Tuyên Quang và trạm  
Vũ Quang.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 39 - 2017  
3
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
Hình 2: Ảnh hưởng của hồ chứa Thác Bà đến lượng bùn cát lơ lửng  
Ở trạm Chiêm Hóa (hạ lưu hồ Tuyên Quang), giai đoạn 1965-2004 (trước khi xây dựng hồ  
hàm lượng bùn cát lơ lửng trung bình đo được chứa) là 0,436 kg/m3, hiệu quả lắng đọng là  
trong giai đoạn 2005-2007 là 0,184 kg/m3 và 71% được thể hiện ở hình 3.  
Hình 3: Ảnh hưởng của hồ chứa Tuyên Quang đến lượng bùn cát lơ lửng  
Những số liệu này phù hợp với những số liệu của Lê Thị Phương Quỳnh và nnc [1].  
4. MÔ HÌNH RUSLE VÀ MÔ HÌNH TẬP TRUNG DÒNG CHẢY  
4
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 39 - 2017  
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
4.1. Mô hình RUSLE  
- C là hệ số sử dụng đất, C ≤ 1, với đồi hoang  
hóa C = 1. Hệ số C của lưu vực sông Lô đối  
với từng loại cây trồng được thể hiện trong  
bảng 2, theo Vezina và nnc [6], và trong bảng  
3, theo Phạm Hùng [7].  
Phương trình mất đất phổ dụng (USLE),  
Wischmeier và Smith [2], và phiên bản hiệu  
chỉnh (RUSLE), Renard và nnc [3], được ứng  
dụng để tính toán lượng xói mòn bề mặt trung  
bình hàng năm, mô hình RUSLE được lập  
trình bằng ngôn ngữ FORTRAN, Lê Thanh  
Hùng [4]. Phương trình USLE/RUSLE thường  
được biểu diễn theo công thức:  
Bảng 2: Hệ số C, theo Vezina và nnc [6]  
Loại canh tác  
Hệ số C  
Lúa (2 vụ)  
Lúa (1 vụ)  
Lúa (1 vụ) với ngô  
Sắn  
0,55  
0,40  
0,55  
0,22  
0,12  
0,28  
A = R·K·LS·C·P  
trong đó:  
- A là tổn thất đất trung bình trên một hecta  
trong một năm (tấn/ha.năm)  
Ngô  
Đậu nành  
- R là hệ số khả năng xói mòn do mưa  
Bảng 3: Hệ số C, theo Phạm Hùng [7]  
(MJ/ha)·(mm/h)  
Loại canh tác  
Lúa và hoa màu  
Hệ số C  
ở đây, tác giả sử dụng phương trình của  
Loureiro và Coutinho [5]:  
0,60  
0,18  
Cây bụi, đồi cỏ  
Rừng tự nhiên  
Đất hoang, đồi hoang  
0,003  
1,00  
trong đó: N là số năm quan trắc; rain10 là  
lượng mưa hàng năm ≥ 10 mm; day10 là số  
ngày có lượng mưa hàng năm ≥ 10 mm. Sử  
dụng phương trình trên, tính toán giá trị hệ số  
R trung bình hàng tháng của lưu vực sông Lô.  
- P là hệ số giải pháp bảo vệ đất, P ≤ 1, khi  
không có giải pháp bảo vệ đất P = 1. Với hình  
thức canh tác phổ biến trong lưu vực sông Lô  
là ruộng bậc thang, dựa theo nghiên cứu của  
Vezina và nnc [6] và Phạm Hùng [7], trong  
nghiên cứu này, lựa chọn hệ số P = 0,2.  
- K là hệ số xói mòn đất trung bình  
(tấn/MJ)·(h/mm). Ở đây, chọn K = 0,022 dựa  
trên các nghiên cứu của Vezina và nnc [6];  
Phạm Hùng [7]. Giá trị K như trên cũng phù  
hợp với nghiên cứu của Zhang và nnc [8].  
4.2. Mô hình tập trung dòng chảy  
(DIMOSHONG)  
Dòng chảy của bùn cát xói mòn do mưa trên  
các sườn dốc của lưu vực được chuyển qua mô  
hình tập trung dòng chảy mạng lưới sông. Mô  
hình cũng được lập trình bằng ngôn ngữ  
FORTRAN, Lê Thanh Hùng [4], dựa trên  
thuật toán độ dốc 8 hướng, Ranzi và nnc [10]  
để tính toán lượng dòng chảy bùn cát ở trong  
mạng lưới sông Lô.  
- LS là chiều dài và độ dốc của sườn dốc. Trong  
nghiên cứu này, sử dụng công thức của Moore  
và Burch [9] đểtính toán hệsố LS như sau:  
trong đó: As diện tích ô thửa canh tác trên một  
đơn vị chiều rộng sườn dốc, với vùng núi phía  
bắc Việt Nan, chọn đơn vị chiều rộng sườn  
dốc là 22,1; m', n' là các hệ số tương ứng chọn  
là 0,6 và 1,3; là góc nghiêng sườn dốc so với  
phương ngang.  
5. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC  
5.1. Về xói mòn đất bề mặt  
Mô hình RUSLE đã được áp dụng tính toán  
cho lưu vực sông Lô bằng cách sử dụng số liệu  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 39 - 2017  
5
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
mưa được thu thập từ 20 trạm khí tượng đo Bảng 4: Độ dày trung bình lớp đất xói mòn  
mưa nằm trong lưu vực và các thông số của  
Trạm đo  
Bảo Yên  
Thác Bà  
Hà Giang  
Hàm Yên  
Bảo Lạc  
Chiêm Hóa  
Tuyên Quang  
Vũ Quang  
Độ dày lớp xói mòn  
0,27 mm/năm  
0,34 mm/năm  
0,25 mm/năm  
0,32 mm/năm  
0,34 mm/năm  
0,17 mm/năm  
0,23 mm/năm  
0,23 mm/năm  
phương trình RUSLE được liệt kê ở trên. Kết  
quả ở hình 4 thể hiện lượng mất đất trung bình  
năm do xói mòn bề mặt trong lưu vực sông Lô.  
5.2. Vềhiệu quảlắng đọng bùn cát tronghồ chứa  
Hồ chứa Thác Bà (dung tích 2,49·109 m3) và  
hồ chứa Tuyên Quang (dung tích 2,245·109  
m3) đã thay đổi hàm lượng bùn cát trong dòng  
chảy kể từ năm 1971 (hồ Thác Bà) và năm  
2005 (hồ Tuyên Quang). Bùn cát lắng đọng  
trong các hồ chứa này đã làm thay đổi hàm  
lượng bùn cát lơ lửng trong sông. Hiệu quả  
lắng đọng của các hồ chứa này ước tính trong  
khoảng 71%÷95%. Để đánh giá sự mất đất do  
xói mòn trong lưu vực sông Lô, sử dụng mô  
hình RUSLE và mô hình DIMOSHONG để  
tính toán. Kết quả tính toán thu được theo mô  
hình tương đối sát với các kết quả thực đo tại 8  
trạm thủy văn trên trong lưu vực sông Lô được  
thể hiện trong bảng 5.  
Hình 4: Mất đất trung bình (tấn/ha/năm) ở lưu  
vực sông Lô  
Độ dày trung bình của lớp đất xói mòn trên bề  
mặt lưu vực hàng năm được xác định từ kết  
quả của mô hình RUSLE tính toán lượng mất  
đất trung bình hàng năm tại 8 trạm quan trắc  
thủy văn được thể hiện trong bảng 4.  
Bảng 5: Tổng lượng bùn cát hàng năm (tấn/năm)  
Diện  
tích  
Bùn cát  
thực đo  
Bùn cát  
RUS LE  
Bùn cát  
thực đo  
(có hồ)  
Bùn cát  
RUS LE  
(có hồ)  
Trạm đo  
Sông  
(km2) (không hồ) (không hồ)  
Bảo Yên  
Thác Bà*  
Chảy  
Chảy  
Lô  
5000  
6170  
4 315 193  
3 221 854  
3 018 636  
4 254 671  
1 181 968  
5 411 995  
2 000 728 4 315 193 1 851 864  
3 157 341 186 249 639 120  
Hà Giang  
8300  
3 162 664 3 018 636 2 630 838  
5 652 585 4 254 671 4 755 346  
2 079 477 1 181 968 2 079 477  
4 326 636 1 868 613 1 222 592  
Hàm Yên  
Lô  
11900  
4060  
Bảo Lạc  
Gâm  
Gâm  
LôGâm  
Chiêm Hóa*  
Tuyên Quang*  
Vũ Quang*  
16500  
29600 10 230 666 10 018 721 3 915 373 4 087 866  
LôGâmChảy 37000 11 000 128 12 825 106 4 188 439 4 225 354  
(*) Các trạm ở hạ lưu hồ chứa  
6
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 39 - 2017  
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
5.3. Về sự thay đổi thảm phủ thực vật  
diện tích đất rừng chuyển thành diện tích đất  
nông nghiệp và 15% thành bụi cây và đồi cỏ, đã  
làm tăng lượng mất đất của lưu vực sông Lô.  
Kết quả tính toán theo mô hình RUSLE và mô  
hình DIMOSHONG cho thấy sự thay đổi sử  
dụng đất với diện tích đất rừng giảm 35% như  
trên thì dẫn tới sự mất đất do xói mòn tăng lên  
khoảng 28% (xem trong bảng 6).  
Sự thay đổi sử dụng đất đã ảnh hưởng không  
nhỏ đối với xói mòn và vận chuyển bùn cát  
trong lưu vực sông Lô. Do sự thay đổi lớp phủ  
thực vật: phá rừng để phát triển nông nghiệp,  
biến đất rừng thành đất canh tác, hoang hóa đất  
rừng và cháy rừng, theo Phạm Hùng [7] quan  
sát thấy diện tích rừng giảm đến 35%, với 20%  
Bảng 6: Ảnh hưởng thay đổi thảm phủ đến tổng lượng bùn cát (tấn/năm) lưu vực sông Lô  
Diện  
tích  
Bùn cát RUSLE  
(thay đổi thảm  
phủ)  
Bùn cát  
tăng TB  
(%)  
Bùn cát  
RUS LE  
Trạm đo  
Sông  
(km2)  
Bảo Yên  
Thác Bà*  
Chảy  
Chảy  
5000  
1 851 864  
639 120  
2 114 557  
833 979  
6170  
8300  
Hà Giang  
Lô  
2 630 838  
4 755 346  
2 079 477  
1 222 592  
4 087 866  
4 225 354  
2 859 101  
6 355 186  
2 618 556  
1 580 741  
5 724 311  
5 968 811  
Hàm Yên  
Lô  
11900  
4060  
28%  
Bảo Lạc  
Gâm  
Chiêm Hóa*  
Tuyên Quang*  
Vũ Quang*  
Gâm  
16500  
29600  
37000  
Lô-Gâm  
Lô-Gâm-Chảy  
6. KẾT LUẬN  
Tuyên Quang 0,23 mm/năm và trạm Vũ  
Quang 0,23 mm/năm.  
Mưa là yếu tố quan trọng nhất trong số các nhân  
tố ảnh hưởng đến xói mòn bề mặt lưu vực. Phân  
tích số liệu mưathu thập từ 20 trạm đo nưa trong  
lưu vực sông Lô cho thấy, khoảng 83,3% tổng  
lượng mưa hàng năm có cường độ lớn hơn 10  
mm/ngày có đủ năng lượng để gây nên sự xói  
mòn đất, theo Loureiro và Coutinho [5].  
Việc xây dựng hai đập lớn ở lưu vực sông  
Chảy và sông Gâm tạo nên hồ chứa Thác Bà  
và hồ chứa Tuyên Quang đã làm giảm đáng kể  
lượng bùn cát lơ lửng trong sông. Sử dụng mô  
hình RUSLE kết hợp mô hình DIMOSHONG  
tính toán được lượng mất đất do xói mòn bề  
mặt và hiệu quả lắng đọng bùn cát trong hồ đạt  
khoảng 71%÷95%. Thay đổi sử dụng đất đã  
làm thay đổi thảm phủ thực vật trong lưu vực,  
với giả định 20% diện tích đất rừng được  
chuyển đổi thành đất nông nghiệp và 15% diện  
tích đất rừng bị hoang hóa trở thành đồi cỏ,  
cây bụi thì có thể làm tăng lên 28% lượng mất  
đất do xói mòn. Điều này cho thấy mô hình  
RUSLE kết hợp với mô hình DIMOSHONG  
có thể tính toán dự báo xói mòn và vận chuyển  
bùn cát trong lưu vực sông Lô, lượng bùn cát  
Mô hình RUSLE kết hợp với mô hình  
DIMOSHOMG để tính toán lượng tổn thất đất  
do xói mòn và vận chuyển bùn cát trong sông.  
Kết quả tính toán được chiều dày lớp đất bề  
mặt bị xói mòn trung bình hàng năm tại tám  
trạm đo trong lưu vực sông Lô: tại trạm Bảo  
Yên 0,27 mm/năm, trạm Thác Bà 0,34  
mm/năm, trạm Hà Giang 0,25 mm/năm, trạm  
Hàm Yên 0,32 mm/năm, trạm Bảo Lạc 0,34  
mm/năm, trạm Chiêu Hóa 0,17 mm/năm, trạm  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 39 - 2017  
7
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
lắng đọng trong các hồ chứa với các kịch bản đổi tập quán canh tác, cháy rừng và hoang hóa  
thay đổi thảm phủ thực vật khác nhau do thay đất rừng.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Le T.P.Q., Garnier J., Gilles B., Sylvain T. and Chau V.M., 2007. The changing flow  
regime and sediment load of the Red river, Viet Nam. J. of Hydrol., 334, 199-214.  
[2] Wischmeier W.H. and Smith D.D., 1978. Predicting rainfall erosion soil losses, A Guide to  
Conservation Planning. Agriculture Handbook N°. 282, N°. 537, U.S. Dep. Agr,  
Washington D.C.  
[3] Renard K.G., Foster G.A., Weesies D.A., McCool D.K. and Yoder D.C., 1997. Predicting  
Soil Erosion by Water: A Guide to Conservation Planning with the Revised Universal Soil  
Loss Equation (RUSLE). Agr. Handbook No.703, USDA, Washington DC.  
[4] Le T.H., 2009, Sediment load in the Lo river basin (Vietnam) and interaction with  
hydraulic structures, PhD thesis, Politecnico di Milano - Italia.  
[5] Loureiro N.S. and Coutinho M.A., 2001. A new procedure to estimate the RUSLE El30  
index, based on monthly rainfall data and applied to the Algarve region, Portugal, J. of  
Hydrol., 250, 12-18.  
[6] Vezina K., Bonn F. and Pham V.C., 2006. Agricultural land-use patterns and soil erosion  
vulnerability of watershed units in Vietnam’s northern highlands. Landscape Ecol 21 (8),  
1311-1325.  
[7] Pham H., 2007. Evaluating potential of soil loss erosion in the Ba Be lake basin in  
Vietnam, Project, Hanoi-Vietnam.  
[8] Zhang K.L., Shu A.P., Xu X.L., Yang Q.K. and Yu B., 2008. Soil erodibility and its  
estimation for agricultural soils in China. J. of Ar. Env. 72, 1002-101.  
[9] Moore I.D., Burch F.J., 1986. Physical basic of the length-slope factor in the Universal  
Soil Loss Equation. Soil Sci. Soc. of Am. J., Vol. 50, 1294-1298.  
[10] Ranzi R., Bochicchio M. and Bacchi B., 2002. Effects on floods of recent afforestation and  
urbanisation in the Mella River (Italian Alps), Hydrol. Earth System Sci., 6(2), 239-265.  
8
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 39 - 2017  
pdf 8 trang Mãnh Khiết 13/01/2024 10600 Free
Bạn đang xem tài liệu "Xói mòn bề mặt và vận chuyển bùn cát trong lưu vực Sông Lô", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfxoi_mon_be_mat_va_van_chuyen_bun_cat_trong_luu_vuc_song_lo.pdf