Ảnh hưởng góc lượn của đầu vết nứt đến cường độ phá hủy của vật liệu Graphene dùng phương pháp mô phỏng động học phân tử (molecular dynamic)

ẢNH HƯỞNG GÓC LƯỢN CỦA ĐẦU VẾT NỨT ĐẾN CƯỜNG ĐỘ PHÁ  
HỦY CỦA VẬT LIỆU GRAPHENE DÙNG PHƯƠNG PHÁP MÔ PHỎNG  
ĐỘNG HỌC PHÂN TỬ (MOLECULAR DYNAMIC)  
ATOMISTIC SIMULATION STUDY OF CRACK TIP BLUNTING AND THE  
INFLUENCE OF BLUNTING BEHAVIOR ON THE FRACTURE STRENGTH  
OF A SINGLE LAYER GRAPHENE SHEET  
Đỗ Trai1, Nguyễn Minh Kỳ2  
1,2Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM  
TÓM TẮT  
Hệ quả của kết quả này đối với hành vi phá hủy của graphene, bao gồm sự khởi đầu vết  
nứt, lan truyền vết nứt, góc lượn (blunting), độ bền phá hủy và tốc độ giải phóng năng lượng là  
chủ đề chính của luận án này. Đối với nghiên cứu về độ bền phá hủy của graphene với bán kính  
đầu vết nứt khác nhau, các hành vi khởi tạo vết nứt khác nhau được tiết lộ và chứng minh rằng  
hiệu ứng góc lượn (blunting) của các cạnh đóng vai trò quan trọng trong việc bắt đầu vết nứt và  
lan truyền của graphene.  
Để dự đoán độ bền gãy của tấm graphene một lớp, các công thức phân tích đã được đưa  
ra cho mạng tinh thể tổ ong hình lục giác. Liên kết bị phá vỡ được xác định bởi sự gia tăng  
mạnh ở vị trí của các nguyên tử. sư lan truyền vết nứt đã tiến triển, vị trí đầu vết nứt và đường  
nứt được cập nhật từ các liên kết gãy trong mô hình động lực phân tử (MD). Ở mỗi bước trong  
quá trình mô phỏng, mô hình nguyên tử được tập trung vào đầu vết nứt để thích nghi theo con  
đường của nó. Một công thức mới đã được phân tích dựa trên cơ chế biến dạng và uốn của các  
liên kết carbon-carbon trạng thái rắn để mô tả chế độ phá hủy dạng mode I của tấm graphene  
đơn lớp, độ bền gãy của graphene một lớp bị chi phối bởi sự cạnh tranh giữa phá vỡ liên kết ở  
đầu vết nứt. Và kết quả của phương pháp Động Học Phân Tử (Molecular Dynamic (MD)) đã thu  
được và so sánh với kết quả lý thuyết. Yếu tố cường độ ứng suất tới hạn cho tấm graphene đơn  
lớp đã được tìm thấy là K = 3.1 MPa 푚 và bán kính đầu vết nứt được tím thấy tăng từ 2.043  
√
IC  
đến 2.434Å, có thể được sử dụng để ước tính cường độ phá hủy do góc lượn ở đầu vết nứt trong  
trường hợp một mô hình Armchair.  
Từ khóa: Động học phân tử; góc lượn; Độ bền phá hủy; Cường độ ứng suất tới hạn; Mô hình  
armchair.  
ABSTRACT  
The consequence of this result on the fracture behavior of graphene, including the crack  
initiation, crack propagation, blunting, fracture strength and energy release rate is the main  
topic of this thesis. For the study of fracture strength of graphene with different crack tip radius,  
different crack initiation behaviors are revealed, and it is demonstrated that the blunting effect of  
tip edges an important role in the fracture crack initiation and propagation of graphene.  
To predict the fracture toughness of a single-layer graphene sheet (SLGS), analytical  
formulations were devised for the hexagonal honeycomb. Broken bonds were identified by a  
sharp increase in the position of the atoms. As crack propagation progressed, the crack tip  
position and crack path were updated from broken bonds in the molecular dynamics (MD) model.  
At each step in the simulation, the atomic model was centered on the crack tip to adaptively  
follow its path. A new formula was derived analytically from the deformation and bending  
mechanism of solid-state carbon-carbon bonds so as to describe the mode I fracture of SLGS  
The fracture toughness of single-layer graphene is governed by a competition between bond  
1
breaking a crack tip. And method MD results were obtained and compared with theoretical  
findings. The critical stress intensity factor for a graphene sheet was found to be  
K =3.1MPa 푚 and The characterized crack tip radius from 2.043 to 2.434 Å is observed,  
√
IC  
which can be used to estimate the fracture strength due to blunting at crack tip for the case of a  
armchair crack  
Keywords: Molecular Dynamic (MD)); Blunting; fracture strength; The critical stress  
intensity; Armchair crack.  
Mô phỏng động học phân tử (MD) đã  
được thực hiện để nghiên cứu các tính chất  
cơ học của tấm graphene đơn lớp có chức  
năng hydrogen. Sử dụng bộ mô phỏng song  
song phân tử nguyên tử quy mô lớn  
(LAMMPS) [3], mã động lực phân tử cổ điển,  
mô phỏng nguyên tử đã được thực hiện để  
điều tra tốc độ tăng trưởng vết nứt lan truyền  
và sự phát triển của vị trí nguyên tử liên quan  
gần mũi nứt trong quá trình phát triển vết nứt  
trong tấm graphene lớp đơn .  
I.  
GIỚI THIỆU  
Sự nghiên cứu am hiểu cơ bản về cơ chế  
nứt trong vật liệu graphene không chỉ thú vị  
về mặt khoa học, mà còn thực tế quan trọng  
trong việc ngăn ngừa và kiểm soát sự phát  
triển vết nứt trong vật liệu graphene. Cấu  
trúc tinh thể của vật liệu Graphene là cấu trúc  
mạng tổ ong (lục giác đều) được sử dụng  
rộng rãi với khối lượng riêng nhẹ và khi phân  
tích cơ học thì được đề xuất như mô hình  
tấm chịu kéo của các bond liên kết.  
Mô phỏng MD được thực hiện bằng  
cách sử dụng gói MD LAMMPS với các liên  
kết tương tác giữa các nguyên tử bằng cách  
sử dụng tiềm năng thứ tự liên kết phản ứng  
liên phân tử thích ứng (AIREBO) [4]. Các  
tham số của phần AIREBO của tiềm năng  
được đặt theo đề xuất để chấm dứt lực liên  
kết cao phi vật lý phát sinh từ các chức năng  
chuyển mạch nhân tạo [5].  
Gần đây, Zhang cùng với các cộng sự  
[1] đã nghiên cứu về mô hình cơ học phá huỷ  
tới hạn, họ đã nghiên cứu các yếu tố cường  
độ ứng suất và hướng của sự lan truyền vết  
nứt trong điều kiện hướng tải trọng khác  
nhau. Datta cùng với cộng sự [2] thực hiện  
mô phỏng động lực học phân tử cổ điển  
(MD) trên một tấm graphene có vết nứt và  
nghiên cứu các hành vi nứt gãy phức tạp của  
grapnene.  
Cấu trúc graphene được xây dựng bởi  
các lớp carbon nơi các nguyên tử carbon  
được sắp xếp theo mô hình lục giác. Hình  
dạng của tấm graphene lớp đơn được đề xuất  
trong AMBER [6] và góc liên kết là 120o với  
nhau. Phương pháp mô phỏng của chúng tôi  
được xác thực bằng cách tính toán 3854  
nguyên tử carbon với kích thước (WxH)  
100Å x100Å như trong hình 2.1  
Hiện nay phương pháp này được sử  
dụng rất phổ biến trong lĩnh vực mô phỏng  
tính toán cơ học phá hủy. Mô hình tính toán  
có nhiều kích thước khác nhau, chúng tôi lựa  
chọn xây dựng mô hình tính toán với kích  
thước 100x100Å, vì nó phổ biến đã được  
nhiều tác giả dùng và tiết kiệm chi phí tính  
toán nhưng vẫn đủ đảm bảo độ chính xác.  
Phương pháp này được thực hiện với sự tích  
hợp với các phần mềm nguồn mở. Sau khi  
tính toán trực tiếp từ phần mềm LAMMPs,  
chúng tôi sẽ mô phỏng quá trình phát triển  
vết nứt bằng phần mềm VMD, xác định ứng  
suất và biến dạng tới hạn sau đó so sánh kết  
quả của chúng tôi với kết quả đã công bố  
trước đó.  
II.  
XÂY DỰNG MÔ HÌNH VÀ MÔ  
PHỎNG TÍNH TOÁN  
Hình 2.1. Mô hình của tấm graphene có vết  
nứt trung tâm trong đó W (chiều rộng) và H  
2.1 Xây Dựng Mô Hình  
2
(cao); (O) đại diện cho các nguyên tử carbon  
tử vị trí trong một tấm graphene tại các vị trí  
nhất định đã được triển khai thành code  
MATLAB cho mode I và phần code này chỉ  
lập trình vết nứt là một đường thằng.  
Phương pháp này cung cấp một phép đo  
liên tục và quan sát các tương tác cơ học bên  
trong giữa các nguyên tử. Các giá trị ảnh  
hưởng của hệ số cường độ ứng suất mode I là  
hệ số tải "퐾퐼∗", đã đóng một vai trò quan  
trọng trong lĩnh vực cơ học phá hủy, đặc biệt  
là cơ học phá hủy đàn hồi tuyến tính. Đối với  
giả định cơ bản của cơ học phá hủy đàn hồi  
tuyến tính là sự tăng trưởng của vết nứt được  
kiểm soát bởi trường ứng suất ở đầu vết nứt,  
theo đó sự tăng trưởng vết nứt được đặc  
trưng bởi KI, nghĩa là, yếu tố cường độ ứng  
suất trong chế độ mở ( mode I).  
Hình 2.2. Chi tiết cấu hình của một tấm  
graphene ở đầu vết nứt  
Để mô phỏng quá trình tăng trưởng vết nứt  
khớp với các khái niệm vết nứt càng sát càng  
tốt, chúng tôi áp dụng chuyển vị vết nứt  
(mode I) cho ranh giới của mẫu vật nguyên  
sơ. Chúng tôi sử dụng phương trình chuyển  
vị [7] được cho bởi:  
Các vết nứt được đặt tên theo các bề mặt  
lân cận các đỉnh của chúng. Ví dụ, một vết  
nứt theo hướng armchair có bề mặt armchair  
gần đỉnh của nó. Khi một liên kết bị phá vỡ,  
hình học không ổn định có liên quan đến  
việc giảm diện tích đột ngột và tăng đột ngột  
độ dài của liên kết ở đầu vết nứt. Hình 2.3  
cho thấy vị trí nguyên tử của một hệ thống có  
vết nứt hướng armchair ở một số bước tải  
khác nhau. Gia số tải được chọn đủ nhỏ để  
có nhiều nhất một liên kết tại vị trí nguyên tử  
bị phá vỡ trong mỗi bước.  
푟
푢푥 = 퐾 2휋 푐표푠 2 [ − 1 + 2푠푖푛 ] (2.1)  
퐼
2
(
)
√
2  
2
푟
푢푥 = 퐾 2휋 푐표푠 2 [ − 1 + 2푠푖푛 ] (2.2)  
퐼
2
(
)
√
2  
2
ở đây:  
mô đun cắt đàn hồi của vật liệu  
E
= 2(1+)  
2.2 Mô hình mô phỏng hình thành góc  
lượn đầu vết nứt  
E là mô đun đàn hồi Young, E=1.05Tpa  
Trong phần này, chúng tôi trình bày tổng  
quan về sự phát triển mở rộng vết nứt và sự  
dịch chuyển các nguyên tử từ khi bắt đầu  
hình thành góc lượn trong mô hình khi tăng  
tải danh nghĩa. Mô phỏng này được thực  
hiện với một kích thước vết nứt nhất định,  
tức là một ràng buộc nhất định và một hướng  
tinh thể, và được sử dụng phần mềm  
LAMMPS để phân tích. Tất cả các quá trình  
được thực hiện một cách đầy đủ và được ghi  
lại một cách chi tiết và được trình bày trong  
hình 2.3.  
3−  
=  
cho ứng suất phẳng  
1+  
là tỉ số Poisson = 0.186  
KI : là chỉ số cường độ ứng suất ở mode I  
Các giá trị của tốc độ giải phóng năng  
lượng biến dạng của một số hệ graphene  
trong biến dạng nhỏ đối xứng được lấy từ mô  
phỏng nguyên tử. Sau khi đạt được tốc độ  
giải phóng năng lượng biến dạng, hệ số  
cường độ ứng suất trong chế độ mở (Mode I)  
có thể được tính toán dễ dàng thông qua  
công thức [7]:  
“ Đường thẳng màu đỏ ” là chiều dài vết  
nứt.  
퐾
퐼
퐾퐼∗ =  
(2.3)  
√
2  
Å
Một sơ đồ nguyên lý của từng bước và  
Một phương pháp để tạo ra nhiều nguyên  
ảnh chụp nhanh cho điều này và tất cả các số  
3
liệu tiếp theo trong công việc hiện tại được  
hiển thị trong Hình 2.3  
퐾
퐼
퐾퐼∗ =  
= 0.00  
Detail at crack tip  
√
2  Å  
퐾
퐼
퐾퐼∗ =  
= 0.30  
Detail at crack tip  
√
2  Å  
퐾
퐼
퐾퐼∗ =  
= 0.05  
Detail at crack tip  
√
2  Å  
퐾
퐼
퐾퐼∗ =  
= 0.35  
Detail at crack tip  
√
2  Å  
퐾
퐼
퐾퐼∗ =  
퐾퐼∗ =  
퐾퐼∗ =  
퐾퐼∗ =  
= 0.10  
= 0.15  
= 0.20  
= 0.25  
Detail at crack tip  
Detail at crack tip  
Detail at crack tip  
Detail at crack tip  
√
2  Å  
퐾
퐼
퐾퐼∗ =  
퐾퐼∗ =  
퐾퐼∗ =  
= 0.40  
= 0.45  
= 0.50  
Detail at crack tip  
Detail at crack tip  
Detail at crack tip  
√
2  Å  
퐾
퐼
√
2  Å  
퐾
퐼
√
2  Å  
퐾
퐼
√
2  Å  
퐾
퐼
√
2  Å  
퐾
퐼
√
2  Å  
4
퐾
퐼
퐾퐼∗ =  
= 0.55  
1.447  
1.567  
1.699  
1.800  
1.800  
1.820  
0.10  
0.15  
0.20  
0.25  
0.30  
0.35  
1.894  
10.373  
19.620  
26.761  
26.761  
28.169  
Detail at crack tip  
√
2  Å  
퐾
퐼
퐾퐼∗ =  
= 0.60  
3.481  
3.820  
0.40  
0.45  
145.148  
169.000  
Detail at crack tip  
√
2  Å  
180  
160  
140  
120  
100  
80  
60  
Hình 2.3. mô phỏng hình thành vết nứt  
qua các bước tải khác nhau  
40  
20  
0
0.000.050.100.150.200.250.300.350.400.450.50  
Sau khi có kết quả từ hình ảnh thông  
quan phần mềm VMD, ta nhận thấy hệ số tải  
tới hạn của của vật liệu 퐾퐼∗ = 0.35MPa. Ta  
thế vào công thức để tính được cường độ ứng  
suất tới hạn KIC.  
Bước tải (K*I)  
Hình 2.4. Biểu đồ liên Mối quan hệ giữa  
biến dạng của liên kết ngay đầu vết nứt và  
các bước tải khác nhau.  
퐾
퐼
퐾퐼∗ =  
= 0.35 MPa.  
√
2  
Å
III. ĐỘ BỀN PHÁ HỦY VÀ BÁN KÍNH  
ĐẦU VẾT NỨT  
퐾퐼퐶−퐴퐶 = 3.1 푀푃푎 푚  
√
Vết nứt của vật liệu graphene được hình  
thành là do phá vỡ liên kết C-C. Hình thành  
vết nứt và lan truyền vết nứt là hai bước rất  
quan trọng trong lĩnh vực cơ học phá hủy,  
hướng tải phá hủy vật liệu sẽ tương ứng với  
các tiêu chuẩn phá hủy vật liệu. Khi vết nứt  
ban đầu được xuất hiện, nó sẽ lan truyền rất  
nhanh trên toàn bộ tấm graphene ngay cả khi  
tải không tăng, có thể coi quá trình lan truyền  
vết nứt như một quá trình tự phát.  
Trong đó, 퐾퐼∗ là hệ số tải tác dụng lên  
tấm graphen  
퐾퐼∗ =0.40 thì bắt đầu phá vỡ liên kết  
carbon-carbon trong carbon 1927-2009  
퐾퐼∗ =0.60 thì bắt đầu phá vỡ liên kết  
carbon-carbon trong carbon 1929-2011,  
tương tự như liên kết 1927-2009.  
Sau khi tiến hành dùng phần mềm VMD  
để xem chi tiết, ta tiến hành đo chiều dài  
cạnh cacbon liên kết C-C tại vị trí 1929-2009  
trên phần mềm Autocad, ta được các số liệu  
ở bảng 2.1.  
Theo như kết quả mô phỏng từ MD,  
chúng tôi thấy rằng hành vi phá hủy vật liệu  
graphene phần lớn phụ thuộc rất lớn vào bán  
kính ở đầu vết nứt. Đối với tấm graphene  
trong hình 2.2 vết nứt được bắt đầu bằng  
cách phá vỡ liên kết C-C của các nguyên tử  
1927-2009. Sau đó tải tiếp tục tăng, vị trí các  
Bảng 2.1. Chiều dài cạnh cácbon  
Chiều dài cạnh  
cacbon  
2009-1927 (l1)  
Biến dạng  
liên kết  
(εAC)/%  
Bước tải  
(퐾퐼∗)  
nguyên  
tử  
1927-2009,  
1929-2011;  
1931-2013 sẽ tiếp tục tăng dẫn đến hình  
thành góc lượn (góc tù) ở đầu vết nứt gồm  
các nguyên tử (1927-2009, 1929-2011;  
1.420  
1.426  
0.00  
0.05  
0.000  
0.387  
5
1931-2013). Và nếu chúng ta cứ tiếp tục tăng  
tải liên nữa thì sẽ phá vỡ liên kết C-C của  
liên kết (bond) 1931-2013, và quá trình sảy  
ra tương tự như liên kết (bond) 1927-2009.  
0.50  
0.55  
0.60  
2.174  
2.154  
2.434  
1.531  
1.517  
1.714  
Phương pháp xác định ứng suất tới hạn ở  
đầu vết nứt trong môi trường không liên tục  
với cấu trúc nano, phương pháp cơ học phá  
hủy lượng tử (quantized fracture mechanics  
-QFM) được đề xuất bởi Pugno and Ruoff  
[8]. Đây chính là lý thuyết của Griffith đã  
được hiệu chỉnh sửa đổi, nó cho thấy rằng độ  
bền của vật liệu khi bị nứt chủ yếu liên quan  
đến bán kính đầu vết nứt và chiều dài vết nứt  
[9]. Ứng suất phá hủy tới hạn ở đầu vết nứt  
theo mô hình QFM được xác định theo công  
thức [9]:  
퐾
퐼퐶  
2푎  
푓 =  
(3.1)  
1+  
√
푎
2
(푙+  
)
Ở đây:  
KIC là cường độ ứng suất tới hạn  
σf là ứng suất phá hủy của cấu trúc nano  
ở đầu vết nứt  
Hình 3.1. Chi tiết về sự tiến hóa của vết  
nứt theo hướng armchair so với trục y trong  
tọa độ mặt phẳng.  
ρ là bán kính đầu vết nứt,  
l là chiều dài vết nứt (l =0)  
Trên hình 3.1. chúng ta thấy rằng, ban  
đầu các phân tử ở đầu vết nứt bị từ từ phá vỡ  
dẫn đến sự hình thành từ hình tròn (lục giác  
đều) sang hình vuông (tức là bond ở đầu bị  
đứt). Sau đó, tải tiếp tục tăng thì các phân tử  
ở đầu vết nứt tiếp tục trượt lớn hơn và dần  
dần hình thành góc lõm (góc tù) ở đầu vết  
nứt. Tất cả các giá trị chuyển vị của các phân  
tử trong tấm graphene được lấy trực tiếp từ  
kết quả LAMMPS phân tích. Sau đó, chúng  
tôi dùng dữ liệu sau phân tích từ LAMMPS  
vẽ lại trên AutoCAD và ước lượng được bán  
kính cong ở đầu vết nứt như sau:  
a là lượng tử vết nứt (tức là khoảng cách  
lan truyền tối thiểu của vết nứt) tại một ô  
(2.46nm)  
163  
162  
161  
160  
159  
158  
157  
1.4  
1.5  
1.6  
1.7  
1.8  
Bảng 3.1. Bán kính cong ở đầu vết nứt qua  
từng bước tải  
ρ (Sau)/ρ (Ban đầu)  
ρ (Ban  
đầu)  
(Å)  
ρ (Sau)/ρ  
(Ban đầu)  
(Å)  
Hình 3.2. Mối quan hệ giữa ứng suất phá  
hủy và các bán kính đầu vết nứt khác nhau  
thu được từ kết quá của mô phỏng MD  
Bước  
ρ (Sau)  
(Å)  
tải (퐾퐼∗)  
0.40  
0.45  
1.42  
2.043  
2.125  
1.439  
1.497  
IV.  
KẾT LUẬN  
Đối với nghiên cứu về độ bền phá hủy  
của graphene với bán kính đầu vết nứt khác  
6
nhau, các hành vi khởi tạo vết nứt khác nhau  
được tiết lộ và chứng minh rằng hiệu ứng  
góc lượn ở đầu vết nứt đóng vai trò quan  
trọng trong việc bắt đầu vết nứt và lan truyền  
graphene. Bán kính đầu vết nứt đặc trưng từ  
2.043 đến 2.434 Å được quan sát, có thể  
được sử dụng để ước tính cường độ phá hủy  
do góc lượng ở đầu vết nứt. Các kết quả của  
công việc này được coi là có tầm quan trọng  
từ góc độ mô hình hóa hành vi phá hủy của  
tấm graphene và dự đoán sự hư hỏng cuối  
cùng của nó, phần sau của việc tạo góc lượn  
trong cơ chế phá hủy.  
- Mô phỏng theo tải trọng động (va đập)  
- Và mô phỏng kết hợp ở trạng thái nhiệt  
độ lớn hơn và tải trọng động  
- Và nếu có thể chúng tôi đề xuất là có  
một đề tài thực nghiệm cho đề tài của chúng  
tôi, nó không chỉ dừng lại ở đề tài mô phỏng  
mà thôi.  
- Phát triển vật liệu composite graphene  
là vấn đề nóng và đang được nhiều nhà  
nghiên cứu tiến hành hiện nay.  
- Phương pháp mô phỏng MD đồng thời  
là phương pháp mới, có thể tích hợp khi tính  
toán kết hợp với ảnh hưởng của nhiệt độ đến  
biến dạng của vật liệu này.  
Tất cả các kết quả hiện nay hầu hết là từ  
mô phỏng tính toán, không có thực nghiệm  
kiểm chứng, đó là thiếu sót. Vì vậy thực  
nghiệm là vấn đề cấp bách và cần thiết khi  
nghiên cứu về các dạng phá hủy của vật liệu  
graphene là vấn đề nóng và đang được nhiều  
nhà nghiên cứu tiến hành hiện nay  
LỜI CẢM ƠN  
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến  
thầy TS.Nguyễn Minh Kỳ giảng viên Trường  
Đại Học Sư phạm Kỹ Thuật TP. Hồ Chí  
Minh đã tận tình hướng dẫn, hỗ trợ em trong  
suốt thời gian thực hiện luận văn.  
Với công việc nghiên cứu hiện tại,  
chúng tôi chỉ mô phỏng theo nhiệt độ môi  
trường và mô phỏng theo tải trọng tĩnh, tấm  
vật liệu không làm việc. Vì thế chúng tôi đề  
xuất hướng phát triển tiếp theo của đề tài này  
là:  
Em xin gửi lời cảm ơn đến toàn thể quý  
thầy cô trường Đại học Sư Phạm Kỹ Thuật  
TP. Hồ Chí Minh đã giảng dạy, hướng dẫn và  
tạo mọi điều kiện, môi trường học tập tốt cho  
em.  
- Mô phỏng ở trạng thái có trường nhiệt  
độ thay đổi  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Bin Zhang, Lanjv Mei, and Haifeng Xiao. Nanofracture in graphene under complex  
mechanical stresses. Applied Physics Letters. 121915, 101, 2012.  
[2] Dibakar Datta, Siva P.V. Nadimpalli, Yinfeng Li, Vivek B. Shenoy. Effect of crack length  
and orientation on the mixed-mode fracture behavior of graphene. Extreme Mechanics Letters.  
2015.  
[3] Plimpton SJ. Fast parallel algorithms for short-range molecular dynamics. J Comp Phys  
1995; 117, pp. 1–19  
[4] Stuart SJ, Tutein AB, Harrison JA. A reactive potential for hydrocarbons with  
intermolecular interactions. J Chem Phys, 2000;112, pp. 6472–6486  
[5] Yongping Zheng, Lanqing Xu, Zheyong Fan, Ning Weib and Zhigao Huang. A molecular  
dynamics investigation of the mechanical properties of graphene nanochains. J. Mater. Chem.,  
2012, 22, 9798  
[6] F Scarpa, S Adhikari, A JGil and C Remillat. The bending of single layer graphene sheets:  
7
the lattice versus continuum approach. Nanotechnology, 2010, 21, 125702 (9pp).  
[7] T. L. Anderson, Fracture Mechanics: Fundamentals and Applications. CRC Press, 1995 .  
[8] Caterina Soldano, Ather Mahmood, Erik Dujardin (2010), “Production, properties and  
potential of graphene”, Carbon Vol.48, Issue 8, 2127 – 2150.  
[9] Nicola M. Pugnoy, Rodney S. Ruoff. Quantized fracture mechanics. Philosophical  
Magazine, 2004, Vol. 84, No. 27, 2829–2845.  
Corresponding author:  
Nguyen Minh Ky, PhD  
University of Technology anh Education in Ho Chi Minh  
Tel: 0903.33.82.92  
8
pdf 8 trang Mãnh Khiết 09/01/2024 17540 Free
Bạn đang xem tài liệu "Ảnh hưởng góc lượn của đầu vết nứt đến cường độ phá hủy của vật liệu Graphene dùng phương pháp mô phỏng động học phân tử (molecular dynamic)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfanh_huong_goc_luon_cua_dau_vet_nut_den_cuong_do_pha_huy_cua.pdf