Ứng dụng GIS và mô hình SWAT đánh giá ảnh hưởng thay đổi sử dụng đất đến lưu lượng dòng chảy lưu vực sông Vu Gia

Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Khoa học Tự nhiên và Công nghệ, Tập 30, Số 2S (2014) 80-91  
Ứng dụng GIS và mô hình SWAT đánh giá ảnh hưởng  
thay đổi sử dụng đất đến lưu lượng dòng chảy lưu vực sông Vu Gia  
Nguyễn Thị Hồng1,*, Nguyễn Duy Liêm2, Nguyễn Thị Bích3, Lê Duy Bảo Hiếu2,  
Lê Hoàng Tú2, Nguyễn Kim Lợi2  
1Khoa Địa chất, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội  
2Trường Đại học Nông lâm TP. Hồ Chí Minh  
3Trường Đại học Lâm Nghiệp  
Nhận ngày 16 tháng 6 năm 2014  
Chỉnh sửa ngày 14 tháng 8 năm 2014; Chấp nhận đăng ngày 27 tháng 8 năm 2014  
Tóm tắt: Một trong những nguyên nhân chính gây nên hiện tượng biến đổi dòng chảy, ảnh hưởng  
đến lưu lượng dòng chảy trên lưu vực sông là do tác động của con người thông qua hoạt động sử  
dụng đất. Nghiên cứu này ứng dụng GIS, mô hình SWAT đánh giá tác động của thay đổi sử dụng đất  
năm 2005 và năm 2010 đến lưu lượng dòng chảy trên lưu vực sông Vu Gia. Sự gia tăng về lớp phủ  
thảm thực vật đã làm lưu lượng dòng chảy trong giai đoạn này giảm 5,7%, dòng chảy ngầm (GW_Q)  
tăng 30,69%, lượng nước trong kênh (WYLD) tăng 26,48%, các thành phần dòng chảy trễ (LAT_Q)  
và lượng nước trong đất (SW) tăng khoảng 24%, thành phần dòng chảy mặt (SUR_Q) giảm 9,39%.  
Kết quả nghiên cứu đã chứng minh việc tích hợp GIS và mô hình SWAT trong đánh giá tác động của  
thay đổi sử dụng đất đến lưu lượng dòng chảy trên lưu vực sông Vu Gia, tỉnh Quảng Nam là phù  
hợp. Nhờ đó, có thể hỗ trợ hữu hiệu cho công tác quản lý, quy hoạch sử dụng đất trên phạm vi lưu  
vực sông vừa đảm bảo nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội, vừa cân bằng yêu cầu bảo vệ nguồn tài  
nguyên thiên nhiên (đất, nước, rừng).  
Từ khóa: GIS, SWAT, thay đổi sử dụng đất, lưu vực sông Vu Gia  
1. Mở đầu*  
thông trong rừng [3, 4], và quá trình đô thị hóa  
của vùng hạ lưu [5] đến dòng chảy lưu vực. Đối  
Trên thế giới, việc nghiên cứu về tác động  
của sự thay đổi sử dụng đất đến chu trình thủy  
văn của lưu vực đã trở thành chủ đề được quan  
tâm trong những năm qua. Nhiều nghiên cứu đã  
được thực hiện nhằm định lượng tác động của  
nạn phá rừng [1], chuyển đổi diện tích rừng  
sang đất nông nghiệp [2], xây dựng đường giao  
với lưu vực vùng nhiệt đới, Costa et al. (2003)  
phát hiện ra rằng nếu tỉ lệ phá rừng chiếm  
khoảng 30% diện tích lưu vực sẽ làm gia tăng  
lưu lượng trung bình năm khoảng 24% [6]. Đối  
với điều kiện tự nhiên ở Việt Nam, một số  
nghiên cứu với các chỉ tiêu được hiệu chỉnh cho  
phù hợp nhằm đánh giá tác động của thay đổi  
sử dụng đất, thảm phủ đối với dòng chảy [7-9].  
_______  
* Tác giả liên hệ. ĐT 84-(0)4-38585097  
80  
N.T. Hồng và nnk. /Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Khoa học Tự nhiên và Công nghệ, Tập 30, Số 2S (2014) 80-91  
81  
Lưu vực sông Vu Gia thuộc địa phận các  
huyện Đông Giang, Tây Giang, Nam Giang,  
Đại Lộc, Phước Sơn tỉnh Quảng Nam. Đây  
được xem là lưu vực có vai trò rất quan trọng  
đối với sự phát triển kinh tế của tỉnh Quảng  
Nam. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, sự  
thay đổi dòng chảy cũng như gia tăng lượng xói  
mòn đất, bồi lắng trong lòng sông trên lưu vực  
diễn biến ngày càng phức tạp, đe dọa đến dân  
sinh và môi trường. Chính vì vậy, vấn đề cấp  
bách cần đặt ra là cần thiết phải tiến hành những  
nghiên cứu đánh giá một cách định lượng, chi  
tiết và cụ thể mức độ ảnh hưởng của hoạt động  
khai thác, sử dụng tài nguyên đất đai trên lưu vực  
ở thời điểm hiện tại cũng như định hướng quy  
hoạch trong tương lai đến tài nguyên đất và nước  
trên lưu vực sông Vu Gia. Nhờ đó, tạo cơ sở  
khoa học quan trọng hỗ trợ cho công tác quy  
hoạch sử dụng đất trên lưu vực hướng đến sự  
phát triển bền vững. Nghiên cứu này sử dụng  
công cụ Đánh giá Đất và Nước (Soil and Water  
Assessment Tool - SWAT) tích hợp với công  
nghệ GIS qua đó tìm hiểu bản chất, quy luật của  
các quá trình thủy văn diễn ra trên lưu vực.  
phân chia thành các tiểu lưu vực liên kết với  
nhau bởi một mạng lưới sông suối. Mỗi tiểu lưu  
vực sau đó được chia thành các đơn vị thủy văn  
(Hydrologic Response Unit - HRU) dựa trên  
những đặc trưng đồng nhất về sử dụng đất, thổ  
nhưỡng, độ dốc và thực hành quản lý đất đai.  
2. Sơ lược về vùng nghiên cứu  
Lưu vực sông Vu Gia nằm về phía Bắc sông  
Thu Bồn, bắt nguồn từ vùng núi phía Tây tỉnh  
Quảng Nam và phía Bắc tỉnh Kon Tum. Là con  
sông lớn của hai tỉnh Quảng Nam và Đà Nẵng  
[12], diện tích lưu vực tính đến xã Đại Hòa, huyện  
Đại Lộc vào khoảng 4661,28 km2, chiều dài 163  
km với lưu lượng dòng chảy 400 m3/s thuộc địa  
phận các huyện Đông Giang, Tây Giang, Nam  
Giang, Phước Sơn, Đại Lộc tỉnh Quảng Nam.  
Địa hình của khu vực phân hóa khá rõ nét,  
bị chia cắt mạnh bởi các sông: Vu Gia, Thu  
Bồn, Tam Kỳ… có hướng nghiêng địa hình từ  
tây sang đông, vùng thượng nguồn có nhiều dãy  
núi cao. Địa hình lưu vực gồm có vùng trung  
du, vùng đồng bằng, vùng ven biển. Lưu vực  
sông nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới có hai  
mùa: mùa mưa và mùa khô chịu ảnh hưởng của  
không khí lạnh từ vùng núi Bạch Mã. Độ ẩm  
trung bình 84%.  
Mô hình SWAT có nhiều ưu điểm so với  
các mô hình tiền thân – nó cho phép mô hình  
hóa các lưu vực không có mạng lưới quan trắc,  
mô phỏng tác động của thay đổi dữ liệu đầu vào  
như sử dụng đất, thực hành quản lý đất đai và  
khí hậu [10]. Giao diện tích hợp trong GIS tạo  
thuận tiện cho việc định nghĩa lưu vực, cũng  
như thao tác, xử lý các dữ liệu không gian và dữ  
liệu dạng bảng liên quan [11]. Trong trường  
hợp dữ liệu đầu vào hạn chế, SWAT vẫn có thể  
mô phỏng được. Ngoài ra, với khả năng tính  
toán hiệu quả, SWAT có thể mô phỏng các lưu  
vực rộng lớn với nhiều dạng thực hành quản lý  
đất đai mà không tốn nhiều thời gian và tài  
nguyên máy tính. Cuối cùng, SWAT là mô hình  
theo thời gian liên tục nên có thểm ô phỏng tác  
động lâu dài của sử dụng đất, thực hành quản lý  
đất đai và sự tích tụ của các chất ô nhiễm [10].  
SWAT cho phép mô hình hóa nhiều quá trình  
vật lý trên cùng một lưu vực. Một lưu vực được  
Mưa có sự phân hóa rõ rệt theo từng khu vực  
và theo mùa. Tổng lượng mưa hàng năm thay đổi  
từ 2.000 mm ở đồng bằng đến 4.000 mm ở vùng  
núi. Mùa mưa thường kéo dài bốn tháng, từ  
tháng 9 đến hết tháng 12. Lượng mưa trong  
mùa mưa chiếm 65-80% tổng lượng mưa hàng  
năm, 40-50% lượng mưa hàng năm rơi vào  
tháng 10 và 11. Trong khi đó, mùa khô kéo dài  
từ tháng 1 đến tháng 8 với lượng mưa chỉ chiếm  
có 3-5% tổng lượng mưa cả năm (tập trung từ  
tháng 2 đến tháng 4). Tháng 5 và 6 là thời gian  
mưa lớn thứ hai trong năm, xuất hiện ở phần  
Tây Bắc lưu vực nên gây ra lũ Tiểu Mãn ở lưu  
vực sông Bung.  
N.T. Hồng và nnk. /Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Khoa học Tự nhiên và Công nghệ, Tập 30, Số 2S (2014) 80-91  
82  
Hình 1. Ranh giới lưu vực sông Vu Gia  
3.2. Phương pháp xác định sự thay đổi các kiểu  
sử dụng đất  
2. Phương pháp nghiên cứu  
3.1. Phương pháp GIS  
Ứng dụng GIS để xác định khả năng thay  
đổi các kiểu sử dụng đất dựa trên sự tiến triển  
các kiểu sử dụng đất và các nhân tố ảnh hưởng  
đến sự thay đổi.  
GIS nâng cao khả năng tính toán về các đặc  
tính lưu vực, tạo điều kiện cho việc phân định lưu  
vực bằng cách sử dụng các "Mô hình số độ cao”-  
DEM. Nó cung cấp một phương pháp nhất quán  
để phân tích lưu vực sử dụng DEMs và các bộ dữ  
liệu chuẩn như lớp phủ bề mặt, tính chất đất, vị trí  
trạm đo, và các biến số của thời tiết.  
Bản đồ sử dụng đất năm 2005 và 2010 của  
lưu vực sông Vu Gia với 14 loại hình sử dụng  
đất, được phân loại lại thành 9 loại sử dụng đất  
theo bảng mã sử dụng đất trong SWAT. Bảng  
mã này quy định mã số của các loại cây trồng,  
các loại hình che phủ chung, đất đô thị cùng với  
thuộc tính của chúng, làm cơ sở cho quá trình  
mô phỏng sự phát triển cây trồng, mô phỏng  
khu vực đô thị.  
Nghiên cứu này ứng dụng GIS để đánh giá  
sự thay đổi sử dụng đất ở hai thời điểm (2005  
và 2010), sau đó sử dụng mô hình SWAT chạy  
hai kịnh bản ứng với hai thời điểm sử dụng đất  
khác nhau (hình 2).  
N.T. Hồng và nnk. /Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Khoa học Tự nhiên và Công nghệ, Tập 30, Số 2S (2014) 80-91  
83  
ĐẦU VÀO  
GIS  
Điều kiện tự nhiên,  
kinh tế xã hội  
- Bản đồ địa hình  
- Bản đồ hiện trạng sử dụng đất  
- Bản đồ đất  
- Số liệu khí tượng, thủy văn  
Cơ sở dữ liệu Tài nguyên – Môi trường  
GIS  
Phân tích biến động sử dụng đất  
Mô phỏng dòng chảy  
SWAT  
ĐẦU RA  
Các thông số về lưu lượng  
dòng chảy)  
Số liệu về thay đổi diện  
tích, phân bố các loại hình  
sử dụng đất  
Đánh giá ảnh hưởng thay đổi sử dụng đất đến lưu  
lượng dòng chảy lưu vực sông  
Hình 2. Sơ đồ nội dung phương pháp nghiên cứu  
3.3. Mô hình SWAT  
1
SW SW   
R
Qsurf Ea Wseep Qgw  
t
o
day  
i
i1  
Nghiên cứu này sẽ tập trung sử dụng dữ  
liệu đã xử lý khi đưa vào mô hình SWAT trên  
hai kịch bản sử dụng đất của lưu vực sông Vu  
Gia năm 2005 và năm 2010 (hình 3). Dựa trên  
hai kịch bản này so sánh sự khác nhau về sử  
dụng đất, dữ liệu về thời tiết và thủy văn, kết  
hợp với lý thuyết về chuỗi Markov để đánh giá  
tác động của thay đổi sử dụng đất đến lưu lượng  
dòng chảy. Mô hình SWAT tổng hợp dòng  
chảy, bồi lắng và tải lượng dưỡng chất từ mỗi  
tiểu lưu vực, HRU và sau đó dẫn kết quả này  
vào các kênh dẫn, ao, hồ chứa đến cửa xả lưu  
vực [13]. SWAT mô hình hóa chu trình thủy  
văn dựa trên phương trình cân bằng nước sau  
[14]:  
Trong đó,  
- SWt: lượng nước trong đất tại thời điểm t (mm  
H2O)  
- SWo: lượng nước trong đất tại thời điểm ban  
đầu trong ngày thứ i (mm H2O)  
- t: thời gian (ngày)  
- Rday: lượng nước mưa trong ngày thứ i (mm  
H2O)  
- Qsurf: lượng dòng chảy bề mặt trong ngày thứ i  
(mm H2O)  
- Ea: lượng nước bốc hơi trong ngày thứi (mm H2O)  
- Wseep: lượng nước thấm vào vùng chưa bão  
hòa trong ngày thứ i (mm H2O)  
- Qgw: lượng nước ngầm (mm) chảy ra sông  
trong ngày thứ i  
N.T. Hồng và nnk. /Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Khoa học Tự nhiên và Công nghệ, Tập 30, Số 2S (2014) 80-91  
84  
SWAT yêu cầu nhiều lớp dữ liệu đầu vào  
ArcSWAT cho ArcGIS và MWSWAT cho  
MapWindow.  
theo không gian và thời gian. Để hỗ trợ quá  
trình xử lý, phân tích những dữ liệu này, SWAT  
sử dụng những công cụ của GIS. Vì vậy, để tạo  
thuận lợi cho việc sử dụng các mô hình, hiện  
nay SWAT được tích hợp vào hai phần mềm  
GIS dưới dạng phần mở rộng miễn phí là  
3.4. Biên tập và xử lý số liệu đầu vào  
Các dữ liệu sau khi thu thập sẽ được sử lý  
theo định dạng chuẩn của mô hình SWAT, chi  
tiết về dữ liệu thu thập được mô tả ở bảng 1.  
Đánh giá ảnh hưởng thay đổi  
sử dụng dụng đất đến bồi  
lắng và lưu lượng dòng chảy  
Mục tiêu nghiên cứu  
Dữ liệu  
đầu vào  
Xử lý DEM  
Phân định lưu vực  
Xử lý DEM  
Bản đồ sử dụng đất  
Bản đồ thổ nhưỡng  
Độ dốc  
Dữ liệu  
đầu vào  
Định nghĩa mạng lưới sông  
Chọn cửa xả lưu vực  
Tính toán các thông số  
Định nghĩa đơn vị thủy văn  
Trạm thời tiết  
Lượng mưa  
Nhiệt độ  
Dữ liệu  
Đầu vào  
Chỉnh sửa cơ sở dữ liệu  
Độ ẩm  
Bức xạ mặt trời  
Tốc độ gió  
Dữ liệu  
đầu vào  
Hồ chứa thủy điện  
Chạy SWAT  
Dữ liệu  
đầu vào  
Hiệu chỉnh mô hình  
Kiểm định mô hình  
Số lượng  
quan trắc  
thủy văn  
Chấp  
nhận  
Không chấp  
nhận  
Chấp  
nhận  
Không chấp  
nhận  
Kết quả  
Hình 3. Sơ đồ phương pháp luận của mô hình SWAT  
Bảng 1. Nguồn dữ liệu thu thập  
Sau khi xử lý  
Loại dữ liệu  
Nguồn dữ liệu  
Bản đồ địa hình (*.dgn)  
(khoảng cao đều: 20m)  
Dữ liệu được chuyển thành DEM, Sở Tài nguyên & Môi trường tỉnh  
định dạng shap file (*shp)  
Quảng Nam  
Bản đồ hiện trạng SDĐ (2005- Phân chia thành 9 loại hìnhSDĐ  
Sở Tài nguyên & Môi trường tỉnh  
Quảng Nam  
2010), 14 loại hình SDĐ  
theo bảng mã SWAT  
Bản đồ đất (năm 2010)  
Phân chia thành 4 nhóm đất  
Sở Tài nguyên & Môi trường tỉnh  
Quảng Nam  
Số liệu khí tượng (giai đoạn  
1990-2010)  
Lượng mưa, nhiệt độ không khí lớn Đài Khí tượng Thủy văn Trung Trung Bộ,  
nhất, nhỏ nhất, độ ẩm tương đối Climate Forecast System Reanalysis  
N.T. Hồng và nnk. /Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Khoa học Tự nhiên và Công nghệ, Tập 30, Số 2S (2014) 80-91  
85  
Sử dụng đất  
Mô hình độ cao DEM  
Dữ liệu sử dụng đất trên lưu vực sông Vu  
Gia được thu thập vào năm 2005 và 2010 dưới  
dạng Microstation (*.dgn) với 14 loại hình sử  
dụng đất, được phân loại lại thành 9 loại sử  
dụng đất theo bảng mã sử dụng đất trong  
SWAT (bảng 3, hình 6, hình 7). Trong mô hình  
SWAT dữ liệu này yêu cầu được chuyển về  
định dạng shap file (*.shp).  
Dữ liệu DEM của lưu vực sông Vu Gia được  
đăng ký hệ tọa độ UTM WGS 84 múi 48 tương  
ứng với vị trí của lưu vực sông Vu Gia (hình 4).  
Sau đó được đưa vào dữ liệu SWAT, dựa trên  
DEM mô hình sẽ xác định hướng dòng chảy,  
mô phỏng mạng lưới dòng chảy, tạo cửa xả.  
Thổ nhưỡng  
Dữ liệu thổ nhưỡng liên quan đến dữ liệu đầu  
vào khi chạy mô hình SWAT, do có sự khác nhau  
giữa hệ thống phân loại thổ nhưỡng giữa Mỹ và  
Việt Nam, mỗi mã sử dụng đất trong quá trình  
chuyển đổi dữ liệu sẽ được mã hóa theo quy  
định của SWAT. Sự chuyển đổi này căn cứ  
vào tên loại đất, tính chất đất (bảng 2, hình 5).  
Thời tiết  
Dữ liệu thời tiết trong mô hình SWAT là một  
phần quan trọng trong vòng tuần hoàn thủy văn.  
Dữ liệu thời tiết cần thiết cho SWAT được thu thập  
trong nghiên cứu bao gồm lượng mưa, nhiệt độ  
không khí lớn nhất, nhỏ nhất và độ ẩm tương đối  
theo ngày. Dựa trên vị trí phân bố, thời gian đo đạc  
và chất lượng dữ liệu của các trạm quan trắc khí  
tượng trên lưu vực sông Vu Gia và phụ cận, nghiên  
cứu đã lựa chọn và sử dụng dữ liệu của Đài Khí  
tượng Thủy văn Trung Trung Bộ trong khoảng thời  
gian 1990-2010 tại 9 trạm đo phân bố trên cũng  
như bao quanh lưu vực sông Vu Gia (hình 8).  
Bảng 2. Thống kê diện tích các loại đất lưu vực sông  
Vu Gia  
TT Tên đất  
Tên đất  
Tỷ lệ  
(%)  
Diện tích  
(ha)  
Việt Nam theo FAO  
Đất phù sa Dystric  
Fluvisols  
Đất xám  
feralit  
Đất mùn  
vàng đỏ  
trên núi cao  
1
2
3
1,13  
5.244,27  
Ferralic  
Acrisols  
Humic  
77,77 360.829,19  
Ngoài ra, nghiên cứu còn sử dụng thêm 16  
trạm dữ liệu khí hậu (hình 9) từ hệ thống dự báo  
khí hậu (Climate Forecast System Reanalysis -  
CFSR) thuộc Trung tâm Quốc gia về Dự báo  
Môi trường (The National Centers for  
Environmental Prediction - NCEP) của Hoa Kỳ  
(http://globalweather.tamu.edu).  
18,11  
2,31  
84.045,60  
10.728,30  
Acrisols  
4
5
Đất xám có Plinthic  
tầng loang lổ Acrisols  
Mặt nước  
Water  
0,67  
3.102,07  
Tổng  
100,00  
463.959,35  
Hình 4. Bản đồ mô hình số độ cao (DEM) lưu vực sông Vu Gia  
Hình 5. Bản đồ thổ nhưỡng lưu vực sông Vu Gia  
N.T. Hồng và nnk. /Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Khoa học Tự nhiên và Công nghệ, Tập 30, Số 2S (2014) 80-91  
86  
TT  
Bảng 3. Các loại hình sử dụng đất năm 2005 và 2010 trên lưu vực sông Vu Gia  
Diện tích (ha)  
Tên theo Việt Nam  
Tên theo SWAT  
2005  
2010  
1 Đất sản xuất nông nghiệp (SXN)  
1.1 Đất trồng cây hàng năm (CHN)  
1.2 Đất trồng cây lâu năm (CLN)  
2 Đất lâm nghiệp (LNP)  
17.700,79  
14.369,71  
3.331,08  
33.414,96  
28.804,00  
4.610,96  
Agricultural Land-Row Crops (AGRR)  
Agricultural Land-Generic (AGRL)  
Forest-Evergreen (FRSE)  
296.065,89 385.333,63  
3 Đất ở (OTC)  
12.290,37  
11.910,64  
379,73  
9.208,97  
76,67  
9.132,30  
742,90  
3.1 Đất ở tại nông thôn (ONT)  
3.2 Đất ở tại đô thị (ODT)  
4 Đất chuyên dùng (CDG)  
Residential-Low Density (URLD)  
Residential-Medium Density (URMD)  
219,56  
4.1 Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp (CSK) Industrial (UIDU)  
4.2 Đất trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp (CTS) Institutional (UINS)  
65,53  
154,03  
542,00  
200,90  
5 Đất sông suối, mặt nước chuyên dùng (SMN)  
6 Đất chưa sử dụng (CSD)  
Water (WATR)  
Range-Brush (RNGB)  
2.281,59  
135.401,15  
463.959,35  
1.620,26  
33.638,63  
463.959,35  
Tổng số  
Hình 6. Bản đồ sử dụng đất năm 2005  
Hình 7. Bản đồ sử dụng đất năm 2010  
Bảng 4. Ma trận chuyển đổi sử dụng đất giai đoạn 2005-2010 lưu vực sông Vu Gia  
Năm 2010  
Nhóm  
sử dụng đất  
SXN  
SXN  
4.795,05  
10.124,01 265.771,15  
2.209,08  
21,83  
LNP  
9.595,36  
OTC  
CDG  
97,87  
352,79  
116,60  
7,41  
SMN  
28,35  
275,54  
10,68  
CSD  
Tổng số  
1.290,13  
1.952,72  
1.122,95  
26,44  
1.894,01  
17.589,67  
249,79  
0,23  
17.700,77  
296.065,88  
12.290,39  
219,51  
LNP  
OTC  
CDG  
SMN  
CSD  
Tổng số  
8.581,29  
163,60  
387,50  
0,00  
32,06  
699,54  
1,73  
1.145,89  
159,80  
1.620,26  
14,89  
2.281,61  
16.232,94 100.834,76  
33.414,97 385.333,66  
4.117,12  
9.208,90  
166,53  
742,93  
13.890,04 135.401,19  
33.638,63 463.959,35  
N.T. Hồng và nnk. /Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Khoa học Tự nhiên và Công nghệ, Tập 30, Số 2S (2014) 80-91  
87  
Hình 8. Vị trí phân bố các trạm đo khí tượng thủy văn  
Hình 9. Vị trí 16 trạm dữ liệu khí hậu của CFSR  
- CDG: có đến 82% diện tích đất chuyên  
dùng chuyển sang đất lâm nghiệp, đất ở và đất  
nông nghiệp, chỉ có 3% diện tích đất chuyên  
dùng được giữ lại.  
4. Kết quả thảo luận  
4.1. Biến động sử dụng đất giai đoạn 2005-2010  
- SMN: 50% diện tích mặt nước được giữ  
lại, phần còn lại chuyển sang các nhóm khác,  
chủ yếu là đất ở, đất lâm nghiệp và đất nông  
nghiệp.  
Loại hình sử dụng đất trên toàn lưu vực sông  
Vu Gia bao gồm 6 nhóm sử dụng đất chính: Đất  
sản xuất nông nghiệp (SXN), Đất lâm nghiệp  
(LNP), Đất ở (OTC), Đất chuyên dùng (CDG),  
Đất sông suối, mặt nước chuyên dùng (SMN) và  
Đất chưa sử dụng (CSD).  
- CSD: đa số diện tích đất chưa sử dụng  
được đưa vào sử dụng với 75% diện tích  
chuyển thành đất lâm nghiệp, 11% thành đất  
nông nghiệp, chỉ còn khoảng 10% vẫn chưa  
được sử dụng.  
Nhìn dưới góc độ động thái thay đổi trong  
giai đoạn trên, các nhóm sử dụng đất đã có sự  
chuyển hóa qua lại với nhau như trình bày trong  
bảng 4, bảng 5 và hình 10. Theo đó, có thể rút ra  
một số điểm nổi bật sau:  
Bảng 5. Mức độ thay đổi các loại hình sử dụng đất  
trong giai đoạn 2005-2010  
Nhóm Năm 2005 Năm 2010 Mức độ thay đổi  
- SXN: khoảng 54% diện tích đất nông  
nghiệp chuyển sang đất lâm nghiệp, chỉ có  
khoảng 27% được giữ lại, phần còn lại được  
chuyển qua các nhóm khác.  
sử dụng  
đất  
Diện tích Diện tích Diện tích Tỷ lệ  
(ha)  
(ha)  
(ha)  
(%)  
SXN  
LNP  
OTC  
CDG  
SMN  
CSD  
17.700,77 33.414,97 ↑15.714,20 ↑88,78  
296.065,88 385.333,66 ↑89.267,78 ↑30,15  
- LNP: gần như toàn bộ diện tích đất lâm  
nghiệp được giữ lại (khoảng 90%), số ít diện  
tích còn lại được chuyển thành các nhóm sử  
dụng đất khác như đất nông nghiệp hoặc chưa  
sử dụng.  
12.290,39  
219,51  
9.208,9 ↓3.081,49 ↓25,07  
742,93  
↑523,42 ↑238,45  
↓661,35 ↓28,99  
2.281,61 1.620,26  
135.401,19 33.638,63 ↓101.762,56 ↓75,16  
Chú dẫn: mũi tên đi lên (↑) tương ứng với tăng, mũi tên đi  
xuống (↓) tương ứng với giảm.  
- OTC: phần lớn diện tích đất ở được chuyển  
sang đất lâm nghiệp (69%), đất nông nghiệp  
(18%), chỉ có 9% diện tích đất ở được giữ lại.  
N.T. Hồng và nnk. /Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Khoa học Tự nhiên và Công nghệ, Tập 30, Số 2S (2014) 80-91  
88  
lượng tác động của thay đổi sử dụng đất đến dòng  
chảy. Khoảng thời gian đánh giá là giai đoạn  
2005-2010 (15 năm đầu được xác lập là thời kì  
“warm up” cho quá trình mô phỏng).  
Hình 10. Tỉ lệ chuyển đổi sử dụng đất giai đoạn  
2005-2010 lưu vực sông Vu Gia  
Kết quả của sự chuyển đổi qua lại về diện  
tích giữa các nhóm sử dụng đất trong giai đoạn  
2005-2010 dẫn đến diện tích đất nông nghiệp,  
đất lâm nghiệp và đất chuyên dùng đã có sự gia  
tăng, trong đó đất chuyên dùng tăng mạnh nhất  
với 238,45%, tiếp đến là đất nông nghiệp và đất  
lâm nghiệp. Điều này phản ánh định hướng phát  
triển kinh tế của vùng: ưu tiên nông nghiệp,  
công nghiệp đi đôi với bảo vệ tài nguyên rừng.  
Hình 11. Lưu vực sông Vu Gia và các tiểu lưu vực  
a. Ảnh hưởng của thay đổi sử dụng đất đến các  
thành phần cân bằng nước  
Để đạt được mục tiêu trên, diện tích đất  
chưa sử dụng, mặt nước và đất ở đã thu hẹp  
đáng kể. So với năm 2005, diện tích hoang hóa,  
chưa sử dụng năm 2010 chỉ bằng 25%, hai  
nhóm đất còn lại được quy hoạch, bố trí lại theo  
hướng tập trung, sử dụng hợp lý, hiệu quả và  
tiết kiệm nguồn tài nguyên đất đai hơn.  
Ảnh hưởng của thay đổi sử dụng đất đến các  
thành phần cân bằng nước trên lưu vực được thể  
hiện như trong hình 12. Theo đó, trong giai đoạn  
2005-2010, lưu lượng dòng chảy giảm 5,7%,  
dòng chảy ngầm (GW_Q) tăng 30,69%, lượng  
nước trong kênh (WYLD) tăng 26,48%, các thành  
phần dòng chảy trễ (LAT_Q) và lượng nước trong  
đất (SW) gia tăng khoảng 24%, thành phần dòng  
chảy mặt (SUR_Q) giảm 9,39%. Nguyên nhân  
gây nên sự thay đổi trên có thể là do việc mở rộng  
diện tích đất nông nghiệp, đất ở, đất chuyên dùng  
cùng với hoạt động bảo vệ và phát triển rừng.  
4.2. Ảnh hưởng thay đổi sử dụng đất đến lưu  
lượng dòng chảy lưu vực sông Vu Gia  
Trong nghiên cứu này, lưu vực sông Vu Gia  
được phân chia thành 78 tiểu lưu vực khác nhau  
như hình 11. Mô hình SWAT mô phỏng dòng  
chảy lưu vực theo hai kịch bản, kịch bản 1 (KB1)  
ứng với bản đồ sử dụng đất năm 2005, kịch bản 2  
(KB2) ứng với bản đồ sử dụng đất năm 2010. Hai  
kịch bản trên chỉ khác nhau về dữ liệu sử dụng  
đất, các dữ liệu còn lại như thổ nhưỡng, thời tiết là  
như nhau. Sau đó, kết quả đầu ra của SWAT liên  
quan đến dòng chảy, bồi lắng sẽ được xem xét, so  
sánh giữa hai kịch bản. Sử dụng đất năm 2005 và  
2010 sử dụng chuỗi số liệu khí tượng chung từ  
năm 1990 - 2010, qua đó cho phép đánh giá định  
Với phạm vi phân bố rộng (tỉ lệ che phủ rừng  
83%), tầng đất sâu, hệ thống rễ chằng chịt, tán  
cây lớn, khả năng thấm hút cao, đất lâm nghiệp  
giữ vai trò điều tiết nước quan trọng trên lưu vực,  
khiến cho GW_Q, LAT_Q, SW tăng, SUR_Q  
giảm. Trong khi đó, để đáp ứng nhu cầu phát  
triển kinh tế - xã hội, một phần diện tích rừng đã  
chuyển đổi sang đất nông nghiệp, đất ở và đất  
chuyên dùng (khu công nghiệp, công trình thủy  
điện,…), kết quả tạo nên sự gia tăng WYLD.  
N.T. Hồng và nnk. /Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Khoa học Tự nhiên và Công nghệ, Tập 30, Số 2S (2014) 80-91  
89  
dòng chảy bề mặt. Cả hai kịch bản, vào những  
tháng mùa khô dòng chảy thấp, khi lượng mưa  
tăng (các tháng 9, 10, 11, 12) thì lưu lượng  
dòng chảy tăng, đặc biệt là các tháng cao điểm  
trong mùa mưa. Về độ lớn của dòng chảy qua  
hai kịch bản cho thấy sự khác biệt mà nguyên  
nhân là do độ che phủ rừng tăng nên lưu lượng  
của dòng chảy ở kịch bản 2 giảm.  
Hình 12. Sự thay đổi các thành phần cân bằng  
nước giữa hai kịch bản  
Bảng 6 thể hiện lưu lượng dòng chảy tại cửa  
ra của lưu vực. Theo đó, lưu lượng dòng chảy  
trung bình ứng với kịch bản 1 là 174,4 m3/s, ứng  
với kịch bản 2 là 164,9 m3/s; lưu lượng dòng  
chảy thấp nhất là 5,6 m3/s (tháng 2/2005), lưu  
lượng lớn nhất vào tháng 09/2009 (927,7 m3/s).  
Có sự thay đổi này bởi vì ở Quảng Nam mùa  
mưa bắt đầu vào tháng 9, đến tháng 10 thường  
có lũ nên lưu lượng dòng chảy tại thời điểm này  
tăng cao. Đến tháng 2 mùa khô bắt đầu, do đó  
có sự giảm mạnh về dòng chảy.  
b. Ảnh hưởng của thay đổi sử dụng đất đến lưu  
lượng dòng chảy  
Lưu lượng dòng chảy là đại lượng thể hiện  
lượng nước chảy qua một mặt cắt bất kỳ (sông,  
suối) trong thời gian một giây. Nghiên cứu này  
sử dụng các số liệu về lưu lượng dòng chảy tại  
cửa xả của lưu vực. Lưu lượng dòng chảy bề  
mặt phụ thuộc vào lượng mưa, độ che phủ của  
rừng trong lưu vực. Ở thời gian đầu hoàn toàn  
không sinh dòng chảy, khi mưa xuất hiện và  
cường độ tăng dần thì trên mặt đất xuất hiện  
Bảng 6. Bảng thống kê lưu lượng dòng chảy tại cửa ra của lưu vực ứng với 2 kịch bản (đơn vị tính: m3/s)  
KB 1  
Năm 2005  
35,16 33,43 160,6 139,9 80,15 73,62 124,5 110,4 209,6 185,3 89,63 81,23  
5,912 5,639 56,21 50,03 27,8 25,24 56,85 52,59 68,98 60,56 36,86 31,94  
12,52 12,49 28,96 26,76 19,46 18,68 65,81 61,92 39,77 36,66 8,611 7,436  
27,06 27,14 21,07 20,47 19,77 19,51 50,37 48,34 131,6 126,7 23,5 23,1  
KB 2  
KB1  
KB 2  
KB 1  
KB 2  
KB 1  
KB 2  
KB 1  
KB 2  
KB 1  
KB 2  
Tháng  
Năm 2006  
Năm 2007  
Năm 2008  
Năm 2009  
Năm 2010  
1
2
3
4
5
6
7
102,5 104,5 39,16 38,87 41,44 41,24 76,37 75,66 206,7 196,2 33,77 33,73  
33,33 32,99 24,85 24,61 45,33 46,95 44,54 43,39 91,79 86,82 49,39 49,92  
226,6 226,3 30,21 30,96 52,77 51,26 28,24 28,63 35,61 32,92 73,46 72,38  
8
9
10  
11  
12  
185,6  
347,3  
176 82,01 83,31 225,5 221,1 123,2 119,8 84,02  
330 236,1 229,2 269,7 255,7 286,5 276,4 927,7 920,7 571,2 549,2  
501 412,9 388,2 384,7 351,4  
80,4 377,9  
371  
281,7 260,8 255,4 237,1 688,3 663,5 521,9  
278,1 257,3  
248,6 224,4  
113 101,3 661,8  
113 106,7 281,4  
629 495,4 466,4 361,6 334,5 440,4 404,4  
251 278,5 251,2 159,7 139,4 228,6 200,9  
R2 (Krause, 2005) và chỉ số Nash-Sutcliffe  
(NSI) (Nash & Sutcliffe, 1970). Giá trị R2 nằm  
trong khoảng từ 0 đến 1, thể hiện mối tương  
quan giữa giá trị thực đo và giá trị mô phỏng.  
Chỉ số NSI có giá trị (-∞, 1) để đo lường sự phù  
hợp giữa giá trị thực đo và giá trị mô phỏng trên  
đường thẳng 1:1.  
4.3. Đánh giá mô hình  
Trong mô hình SWAT để đánh giá kết quả  
mô phỏng, độ tin cậy người ta dựa trên giá trị lưu  
lượng dòng chảy thực đo và dựa vào các chỉ số:  
giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, hệ số xác định  
N.T. Hồng và nnk. /Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Khoa học Tự nhiên và Công nghệ, Tập 30, Số 2S (2014) 80-91  
90  
2  
giá trị mô phỏng nhìn chung cao hơn giá trị  
thực đo (bảng 7, hình 13, hình 14).  
2
n
n
__   
__   
  
O P  
i   
i
O O P P  
i
  
  
i
i1  
i1   
R2   
NSI 1  
2   
n
__   
__ 2  
__ 2  
n
n
  
  
Bảng 7. Thống kê so sánh lưu lượng dòng chảy tháng  
tại tiểu lưu vực số 16 theo hai kịch bản 2005, 2010  
Tiểu lưu vực số 16  
O O  
  
i
O O  
P P  
i
i
i1   
i1   
i1   
__  
Trong đó, O là giá trị thực đo;  
là giá trị thực  
O
(105°50'0"E, 15°46'0"N)  
Thông số  
đo trung bình; n là số lượng giá trị tính toán; P là giá  
__  
KB1 (2005)  
155.367  
KB2 (2010)  
155.37  
trị mô phỏng; và P là giá trị mô phỏng trung bình.  
Giá trị thực đo  
trung bình  
Giá trị mô  
phỏng trung bình  
Hệ số xác định  
(R2)  
Chỉ số Nash-  
Sutcliffe (NSI)  
Trong nghiên cứu này, đánh giá lưu lượng  
dòng chảy trên lưu vực sông Vu Gia đã sử dụng  
số liệu quan trắc hàng tháng tại trạm thủy văn  
Thạnh Mỹ. Giữa giá trị thực đo và mô phỏng trên  
tiểu lưu vực 16 (đoạn qua trạm thủy văn Thạnh  
Mỹ) cho thấy kết quả mô phỏng tương đối tốt,  
26.6405  
31.4156  
0.72212244  
0.72116179  
-0.419711858 -0.338701738  
Hình 14. Phân bố lưu lượng dòng chảy thực đo và mô  
phỏng tại tiểu lưu vực 16 theo KB2  
Hình 13. Phân bố lưu lượng dòng chảy thực đo và  
mô phỏng tại tiểu lưu vực 16 theo KB1  
Kết quả trên cho thấy, mô hình SWAT là mô  
hình tích hợp, có thể mô phỏng các quá trình diễn  
ra trong môi trường đất và nước. SWAT xem xét  
nhiều mối quan hệ, nhiều biến khi giải quyết bài  
toán môi trường. Điều này giúp người sử dụng có  
thế đánh giá chất lượng nước và đất trong thời  
gian dài trên khu vực rộng lớn và phức tạp.  
5. Kết luận  
Trong giai đoạn 2005-2010, sự thay đổi sử  
dụng đất đã làm lưu lượng dòng chảy giảm 5,7%,  
dòng chảy ngầm (GW_Q) tăng 30,69%, lượng  
nước trong kênh (WYLD) tăng 26,48%, các  
thành phần dòng chảy trễ (LAT_Q) và lượng  
nước trong đất (SW) gia tăng khoảng 24%, thành  
phần dòng chảy mặt (SUR_Q) giảm 9,39%.  
Tài liệu tham khảo  
[1] Bosch J.M. and Hewlett J.D., 1982. A review of  
catchment experiments to determine the effect of  
vegetation changes on water yield and  
évapotranspiration. J. Hydrol. 55: 3-23.  
[2] Peck A.J. and Williamson D.R., 1987. Effects of forest  
clearing on groundwater. J. Hydrol. 94, 47–65.  
Như vậy với hệ thống tán che phủ của các  
loại rừng tăng sẽ làm lưu lượng dòng chảy giảm,  
từ đó lượng xói mòn của đất, lượng đất cuốn  
xuống lòng sông trong lưu vực cũng giảm. Thêm  
vào đó, dòng chảy mặt giảm, lượng nước hút  
xuống đất tăng làm lượng nước trong kênh và  
dòng chảy ngầm tăng.  
[3] Luft G., Morgenschweis G. and Vogelbacher A.,  
1982. The effects of large-scale terracing on  
N.T. Hồng và nnk. /Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Khoa học Tự nhiên và Công nghệ, Tập 30, Số 2S (2014) 80-91  
91  
hydrological processes. Presentation of first results of  
a study comparing two small experimental basins on  
the Kaiserstuhl-Mountain. Proc. Symp. Hydrol. Res.  
Basins, Sonderheft Landeshydrologie, Bern, 543-553  
[9] Huỳnh Thị Thanh Hạnh, 2010. Ứng dụng GIS và mô  
hình SWAT đánh giá tài nguyên đất và nước tại  
thượng nguồn lưu vực sông Srêpok tỉnh Đắklắk. Luận  
văn thạc sĩ, Đại học Bách Khoa TP.Hồ Chí Minh.  
[4] Ranzi R., Bochicchio M. and Bacchi B., 2002.  
Effects on floods of recent afforestation and  
urbanisation in the Mella River (Italian Alps).  
Hydrol. Earth Syst. Sci. 6, 239-253  
[5] Beighley R.E and Moglen G.E., 2002. Trend  
assessment in rainfall-runoff behavior in urbanizing  
watersheds. J. Hydrol. Eng. ASCE 7, 27–34  
[6] Costa M.H., Botta A. and Cardille J.A., 2003.  
Effects of large-scale changes in land cover on the  
discharge of the Tocantins River. Southeastern  
Amazonia. J.Hydrol. 283, 206–217.  
[7] Nguyễn Ý Như, Nguyễn Thanh Sơn, 2009. Ứng  
dụng mô hình SWAT khảo sát ảnh hưởng của các  
kịch bản sử dụng đất đối với dòng chảy lưu vực  
sông Bến Hải. Tạp chí khoa học Đại học Quốc gia  
Hà Nội số 3S (2009): 492 – 498.  
[10] Neitsch S.L., Arnold J.G., Kiniry J.R. and Williams  
J.R., 2005. Soil and Water Assessment Tool,  
Theoretical Documentation: Version 2005.  
Agricultural Research Service and Texas A & M  
Blackland Research Center, Temple, TX, USDA.  
[11] Luzio M.D., Srinivasan R. and Arnold J.G., 2002.  
Integration of Watershed Tools and the SWAT  
Model into BASINS. J. Am. Water Resour. Assoc.,  
38(4), 1127-1141.  
[12] Ban quản lý dựán rủi ro thiên tai, Bộ NN&PTNT, 2012  
[13] Arnold J.G., Allen P.M. and Morgan D.S., 2001.  
Hydrologic Model for Design and Constructed  
Wetlands. Wetlands 21 (2), 167-178.  
[14] Neitsch S.L. et al., 2009. Overview of Soil and Water  
Assessment Tool (SWAT) Model. In: Arnold, J et al.,  
eds. 2009. Soil and Water Assessment Tool (SWAT):  
Global Applications. Special Publication No. 4.,  
World Associatiom of Soil and Water Conservation,  
Bangkok: Funny Publishing, 3-23.  
[8] Tô Kiều Trang, 2009. Ứng dụng GIS và mô hình  
SWAT đánh giá tác động của thay đổi sử dụng đất tác  
động đến môi trường huyện Dĩ An tỉnh Bình Dương.  
Luận văn tốt nghiệp. Trường ĐH Nông Lâm TP.HCM.  
Effect of Land Use Change on Water Discharge  
in Vu Gia Watershed, Viet Nam using GIS and SWAT  
Nguyễn Thị Hồng1,*, Nguyễn Duy Liêm2, Nguyễn Thị Bích3, Lê Duy Bảo Hiếu2,  
Lê Hoàng Tú2, Nguyễn Kim Lợi2  
1Faculty of Geology, VNU University of Science, Vietnam National University, Hanoi  
2Ho Chi Minh City University of Agriculture and Forestry; 3Viet Nam Forestry University  
Abstract: The human impact via land-use activities is one of the main reasons which affect water  
discharge in watershed. The change of plant-canopy system caused by land-use activities makes a great  
contribution to change of surface flow, ground water as well as sedimentation in the watershed. The GIS  
and SWAT model was applied in this research to simulate water discharge using 2 scenarios of land use in  
2005 and 2010 for Vu Gia watershed. The result shown that the increase area covered by plant-canopy in  
the watershed made a decrease about 5,7% of surface flow and 9,39% of SUR_Q in the period of 2005 to  
2010. The change also increased 30,69% of GW_Q, 26,48% of WYLD, 24% of LAT_Q and SW in the  
period. The research result demonstrates that it is suitable to integrate of SWAT model in GIS for impact  
assessment of the land-use change to flow quantity in the Vugia watershed, Quangnam province. The  
integration can support effectively for management, land-use planning in the watershed for the need of  
socio-economic development as well as the requirement of natural-resources protection (soil, water, forest).  
Keywords: GIS, SWAT, Land use change, Vu Gia Watershed  
pdf 12 trang Mãnh Khiết 12/01/2024 16360 Free
Bạn đang xem tài liệu "Ứng dụng GIS và mô hình SWAT đánh giá ảnh hưởng thay đổi sử dụng đất đến lưu lượng dòng chảy lưu vực sông Vu Gia", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfung_dung_gis_va_mo_hinh_swat_danh_gia_anh_huong_thay_doi_su.pdf