Thành lập bản đồ lúa vùng đồng bằng sông Cửu Long sử dụng tư liệu viễn thám Radar Terrasar-X

34(2), 185-191  
Tạp chí CÁC KHOA HỌC VỀ TRÁI ĐẤT  
6-2012  
THÀNH LẬP BẢN ĐỒ LÚA VÙNG  
ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG SỬ DỤNG TƯ LIỆU  
VIỄN THÁM RADAR TERRASAR-X  
LÂM ĐẠO NGUYÊN, HOÀNG PHI PHỤNG  
Trung tâm Viễn thám và Hệ thông tin Địa lý - Viện Địa lý Tài nguyên Tp. Hồ Chí Minh  
Ngày nhận bài: 12 - 3 - 2012  
1. Mở đầu  
Việt Nam là một trong những nước xuất khẩu  
gạo lớn và đứng thứ hai trên thế giới với sản lượng  
xuất khẩu đạt 4.735.170 tấn vào năm 2008 (Nguồn:  
hưởng đến chất lượng ảnh thu được từ các vệ tinh  
viễn thám quang học. Viễn thám radar khắc phục  
được nhược điểm này và có thể thu nhận ảnh vào  
bất kỳ thời điểm nào trong ngày và trong năm.  
Các nghiên cứu trước đã sử dụng bộ cảm radar  
ngày 05/08/2011), và vùng Đồng bằng sông Cửu cho thấy có sự biến đổi theo thời gian của hệ số tán  
Long chiếm hơn phân nửa sản lượng gạo của cả xạ ngược với các kênh X, C, L và góc tới khác  
nước với 20.483.400 tấn (năm 2009). Trong đó, sản nhau theo các thời kỳ phát triển cây lúa [5, 6, 14].  
lượng lúa gạo cả năm của tỉnh An Giang Giám sát sự tăng trưởng của lúa sử dụng kênh L có  
(3.383.600 tấn vào năm 2009) và Kiên Giang luôn một vài khó khăn như sự thay đổi của tán xạ kênh  
đứng đầu cả nước trong nhiều năm qua (nguồn: L bị ảnh hưởng bởi độ thẳng hàng và hướng gieo  
mid=3, truy cập ngày 05/08/2011).  
xạ của lúa [4], và khoảng thay đổi tán xạ ngược  
của kênh L (ALOS-PALSAR) nhỏ hơn so với kênh  
C và X [14]. Trong giám sát lúa sử dụng kênh C  
với phân cực đơn như ERS-1&2 và RADASAT-1,  
thì phương pháp phân loại là dựa vào sự biến đổi  
theo thời gian của cường độ tán xạ ngược trích xuất  
từ ảnh đa thời gian [3, 7, 11]. Việc sử dụng hai  
phân cực HH và VV của ảnh ENVISAT-ASAR  
(kênh C) cho kết quả phân loại tốt hơn trong khi  
chỉ sử dụng ảnh đơn [1, 8, 9]. Hệ số tán xạ ngược  
kênh X có mối tương quan khá tốt với trọng lượng  
khô của hạt lúa, trong khi ở kênh C có mối tương  
quan cao với chiều cao cây và chỉ số diện tích lá  
[5]. Nghiên cứu này tập trung vào việc sử dụng ảnh  
Hiện nay, để ước lượng diện tích trồng lúa và  
sản lượng lúa trên một khu vực, các nhà quản lý  
thường sử dụng phương pháp thống kê số liệu.  
Việc thu thập các số liệu này đòi hỏi nhiều công  
sức và tốn kém, mà kết quả thu được vẫn còn chứa  
nhiều sai số khách quan và chủ quan do việc thu  
thập lượng lớn số liệu trên một vùng rộng. Điều  
này gây khó khăn cho các nhà quản lý trong việc  
phân tích, đánh giá, lập kế hoạch phát triển và có  
một cái nhìn khách quan cho từng vùng và cho  
cả nước.  
Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, radar thế hệ mới thu nhận ở chế độ StripMap (độ  
công nghệ viễn thám cung cấp công cụ giám sát, phân giải không gian 3m) từ vệ tinh TerraSAR-X  
đánh giá mùa vụ trên phạm vi rộng. Trên thế giới (kênh X, góc tới từ 34,9° đến 36,5°) của Đức được  
đã có nhiều nghiên cứu sử dụng ảnh vệ tinh (quang đưa vào quỹ đạo giữa năm 2007 để tìm hiểu về  
học và radar) để giám sát mùa vụ lúa. Việt Nam là tương tác của tán xạ ngược kênh X với ruộng lúa  
một nước nằm trong khu vực nhiệt đới nên thường theo thời gian nhằm giám sát và lập bản đồ lúa ở  
bị mây che phủ (đặc biệt trong mùa mưa) làm ảnh mức chi tiết cao hơn dựa vào ảnh có độ phân giải  
185  
không gian cao. TerraSAR-X cung cấp nguồn dữ  
liệu tốt nhất trong ba loại dữ liệu SAR (ENVISAT-  
ASAR, ALOS-PALSAR) theo thời gian để giám  
sát lúa [14]. Vệ tinh này có chu kỳ lặp lại là 11  
ngày, điều này giúp cho quá trình giám sát lúa diễn  
ra một cách liên tục hơn các loại vệ tinh mang bộ  
cảm radar đa phân cực khác như ENVISAT-ASAR  
(khoảng 30-35 ngày).  
Bảng 1. Hệ thống mùa vụ lúa ở An Giang  
Tên vụ lúa  
Tháng gieo sạ  
Tháng thu hoạch  
Đông Xuân (ĐX)  
Hè Thu (HT)  
Thu Đông (TĐ)  
Mùa (M)  
11 - 12  
4 - 5  
3 - 4  
7 - 8  
7 - 9  
11 -12  
11 - 1  
7 - 9  
2.2. Dữ liệu viễn thám  
2. Khu vực nghiên cứu và dữ liệu sử dụng  
2.1. Khu vực nghiên cứu  
Ảnh TerraSAR-X (kênh X với bước sóng 3,1  
cm và tần số 9,65 GHz) là ảnh radar độ phân giải  
cao thu ảnh toàn bộ Trái Đất ở độ cao 514km  
truy cập 06/08/2011). Tư liệu ảnh TerraSAR-X  
được sử dụng trong nghiên cứu với chế độ chụp  
StripMap (SM) có độ phân giải không gian là 3m  
và kích thước phần tử ảnh (pixel) là 3,75m, bề rộng  
và dài của một ảnh là 30km × 50km, có hai phân  
cực HH và VV, góc tới từ 34,9° đến 36,5°, hướng  
chụp từ dưới đi lên (ascending). Nghiên cứu sử dụng  
các ảnh vệ tinh radar đã được thu nhận trong vụ Thu  
Đông năm 2010 cho huyện Chợ Mới và Đông Xuân  
2011 cho Chợ Mới và cả huyện Thới Lai, thành phố  
Cần Thơ như được trình bày ở bảng 2.  
Huyện Chợ Mới (hình 1) thuộc tỉnh An Giang  
là một vùng đất cù lao được bao bọc bởi hai nhánh  
sông Tiền và sông Hậu, phía Tây Bắc giáp huyện  
Phú Tân, phía Bắc giáp huyện Thanh Bình (tỉnh  
Đồng Tháp), phía Đông giáp thị xã Cao Lãnh (tỉnh  
Đồng Tháp), phía Tây Nam giáp thành phố Long  
Xuyên, phía Tây giáp huyện Châu Thành và huyện  
Châu Phú. Dân số toàn huyện là 369.443 người với  
mật độ dân số 1.000 người/km2 (nguồn: Niên giám  
thống kê tỉnh An Giang năm 2007).  
Bảng 2. Danh sách dữ liệu ảnh TerraSAR-X SM  
thu thập cho vùng Chợ Mới và Thới Lai  
Mùa vụ  
Ngày thu nhận ảnh  
Chợ Mới  
Thới Lai  
30/08/2010  
10/09/2010  
24/10/2010  
04/11/2010  
15/11/2010  
18/12/2010  
29/12/2010  
31/01/2011  
11/02/2011  
22/02/2011  
16/03/2011  
27/03/2011  
Thu Đông  
2010  
Đông  
Xuân 2011  
Đông  
Xuân 2011  
2.3. Dữ liệu mặt đất và bản đồ  
Hình 1. Vị trí huyện Chợ Mới thuộc tỉnh An Giang  
Dữ liệu mặt đất được thu thập thông qua đo đạc  
và lấy mẫu lúa ở 17 thửa ruộng mẫu tại huyện Chợ  
Mới và 19 ruộng mẫu tại huyện Thới Lai (hình 2).  
Các thông số lúa được đo đạc và lấy mẫu thực địa  
chẳng hạn như: ngày sạ/cấy, chiều cao cây, sinh  
khối, chỉ số diện tích lá,... Vị trí của các ruộng mẫu  
được xác định từ thiết bị thu GPS cầm tay  
(GARMIN-GPSMAP 76S, độ chính xác khoảng  
10m) và từ bản đồ giải thửa được thu thập của khu  
vực nghiên cứu. Ngoài ra, bản đồ địa giới theo đơn  
vị hành chính cấp xã của huyện Chợ Mới cũng  
được thu thập.  
Lượng mưa hằng năm ở khu vực Đồng bằng  
sông Cửu Long là 1600-2000mm. Mùa mưa vào  
khoảng tháng 5 đến tháng 11 và mùa khô từ tháng  
12 đến tháng 4 năm sau. Tùy theo điều kiện tự  
nhiên và vị trí địa lý của từng vùng mà địa phương  
trồng lúa một vụ, hai vụ hoặc ba vụ (bảng 1).  
Riêng đối với huyện Chợ Mới thì phần lớn diện  
tích trồng lúa ba vụ do có hệ thống đê bao tránh lũ.  
Các giống lúa được sử dụng có chu kỳ sinh trưởng  
trong khoảng 80-105 ngày.  
186  
(a)  
(b)  
Hình 2. Vị trí các ruộng mẫu được chọn ở (a) Chợ Mới (An Giang) và (b) Thới Lai (Cần Thơ)  
3. Phương pháp  
Dựa vào phương pháp lập bản đồ lúa đã được  
3.1. Tiền xử lý ảnh  
Dữ liệu ảnh TerraSAR-X với chế độ chụp  
phát triển trước đây sử dụng ảnh ENVISAT-ASAR StripMap ở level 1B được sử dụng. Các dữ liệu này  
APP [10] và trên cơ sở phân tích hệ số tán xạ được hiệu chỉnh theo góc tới trung tâm của bức xạ  
ngược của hai phân cực HH và VV của dữ liệu radar; định chuẩn dữ liệu với hệ số định chuẩn  
TerraSAR-X StripMap, bản đồ lúa (vùng trồng lúa (calibration factor) Ks; lọc nhiễu đóm (speckle  
và không trồng lúa) trong vùng nghiên cứu được filter) bằng bộ lọc Enhanced Frost [12, 13] và  
thành lập thông qua các bước tiền xử lý ảnh; phân chuyển đổi ảnh giá trị số (digital number) thành  
tích thay đổi theo thời gian của hệ số tán xạ ngược ảnh hệ số tán xạ ngược σo dưới dạng linear (nguồn:  
trong các giai đoạn phát triển của cây lúa; và phát http://www.infoterra.de/asset/cms/file/tsxx-itd-tn-  
triển thuật toán phân loại ảnh thành lập bản đồ 0049-radiometric_calculations_i1.00.pdf, truy cập  
vùng trồng lúa.  
ngày 23/05/2011) (hình 3).  
Sử dụng công cụ trong  
ENVI:  
- Hiệu chỉnh ảnh radar  
Ảnh TerraSAR-X StripMap  
(Digital number)  
File ảnh với  
giá trị tán  
xạ ngược  
σo (linear)  
Lọc  
nhiễu  
đốm  
với góc tới trung tâm  
- Định chuẩn dữ liệu  
- Chuyển thành sigma  
naught (σo)  
* Góc tới trung tâm  
* Hệ số định chuẩn (Ks)  
Hình 3. Các bước tiền xử lý ảnh TerraSAR-X chế độ chụp StripMap  
3.2. Sự biến đổi của tán xạ ngược theo các giai bị thu GPS, kết hợp với bản đồ giải thửa để xác  
đoạn tăng trưởng của cây lúa  
định vị trí các thửa ruộng này trên ảnh và tiến hành  
rút trích hệ số tán xạ ngược trung bình của các  
Tọa độ các ruộng mẫu được định vị bằng thiết ruộng mẫu trên các dữ liệu ảnh TerraSAR-X đa  
187  
thời gian thu được trong từng mùa vụ. Qua đó, tìm tới khoảng 40 ngày tuổi thì bắt đầu giảm nhẹ (hình  
hiểu và phân tích thay đổi theo thời gian hệ số tán 4a) và ở phân cực VV thì hệ số tán xạ ngược giảm  
xạ ngược của các phân cực HH, VV của dữ liệu tương đối mạnh hơn cho đến khoảng 65 ngày tuổi  
TerraSAR-X và tỷ số HH/VV với quá trình tăng thì bắt đầu tăng trở lại (hình 4b). Do đó, tỷ số phân  
trưởng của cây lúa.  
cực HH/VV cũng tăng đáng kể tương ứng trong  
giai đoạn từ 20 đến 65 ngày tuổi (hình 4c). Điều  
này là do cơ chế tán xạ của hai phân cực HH và  
VV lên ruộng lúa là khác nhau. Có thể được giải  
thích là do phân cực HH tán xạ với cấu trúc thẳng  
đứng của cây lúa cao hơn [6] nên hệ số tán xạ  
ngược HH cao hơn là VV (từ ngày 20 trở đi). Điều  
này cũng xảy ra ở kênh C với các bộ cảm  
RADASAT, ERS-1, ERS-2, ASAR APP [1, 3,  
7-11].  
Trong giai đoạn đầu phát triển của cây lúa  
(khoảng 20 ngày đầu) dễ nhận thấy hệ số tán xạ  
ngược của hai phân cực HH và VV gần như tương  
đương nhau nên tỷ số phân cực HH/VV không thay  
đổi nhiều. Vào thời điểm sạ/cấy, nước thường được  
rút ra khỏi đồng ruộng, nên tán xạ radar của HH và  
VV chủ yếu do bề mặt gồ ghề của đất ẩm (từ -8 dB  
đến -12 dB); khoảng 10 ngày sau khi sạ/cấy, nước  
lại được cho vào đồng ruộng, nên hệ số tán xạ của  
các ruộng ngập nước lúc này có giá trị tán xạ (từ -  
17 dB đến -27 dB ở cả hai phân cực) gần với tán xạ  
của bề mặt nước.  
Sau đó, khoảng 65 đến 80 ngày tuổi (giai đoạn  
trổ bông) hệ số tán xạ ngược của phân cực HH và  
VV tiến lại gần nhau (phân cực HH giảm nhẹ và  
VV tăng). Cuối cùng, từ 80 ngày tuổi cho đến lúc  
thu hoạch, hệ số tán xạ HH và VV gần như không  
đổi và tỷ số HH/VV cũng ổn định (từ 0 đến 4 dB)  
tương ứng với giai đoạn lúa chín.  
Khoảng 20 ngày tuổi trở đi cùng với sự tăng  
trưởng của cây lúa (cả về chiều cao cây và sinh  
khối) hệ số tán xạ ngược HH và VV có sự thay đổi  
khác nhau, ở phân cực HH hệ số tán xạ tăng nhẹ  
0.0  
-5.0  
0.0  
-5.0  
14.0  
12.0  
10.0  
8.0  
-10.0  
-15.0  
-20.0  
-25.0  
-30.0  
-10.0  
-15.0  
-20.0  
-25.0  
-30.0  
TĐ2010_CM  
ĐX2011_CM  
ĐX2011_TL  
6.0  
4.0  
TĐ2010_CM  
ĐX2011_CM  
ĐX2011_TL  
TĐ2010_CM  
ĐX2011_CM  
ĐX2011_TL  
2.0  
0.0  
-2.0  
-4.0  
-6.0  
0
10 20 30 40 50 60 70 80 90 100 110  
0
10  
20 30 40 50  
60 70 80 90 100 110  
0
10 20 30 40 50 60 70 80 90 100 110  
a
b
c
Số ngày sau sạ/cấy  
Số ngày sau sạ/cấy  
Số ngày sau sạ/cấy  
Hình 4. Biến đổi hệ số tán xạ ngược của (a) HH, (b) VV, và (c) tỷ số HH/VV trong vụ Thu Đông 2010 ở Chợ Mới (CM)  
và vụ Đông Xuân 2011 ở Chợ Mới và Thới Lai (TL)  
Như phân tích trên, biến đổi tỷ số phân cực kể theo các giai đoạn tăng trưởng của cây lúa, điều  
HH/VV tăng nhanh theo sự tăng trưởng của cây lúa này làm cơ sở cho phương pháp phân loại vùng  
(chiều cao và sinh khối) ở giai đoạn từ 20 đến 65 trồng lúa và không trồng lúa. Hình 4c và hình 5 cho  
ngày và sau đó giảm xuống. Điều này khác với các  
lớp phủ mặt đất (land cover) khác như: đô thị, nông  
thôn, cây hàng năm, sông ngòi có hệ số tán xạ  
ngược tương đối ổn định theo thời gian và không  
tăng đáng kể như trường hợp của lúa. Trường hợp  
đối với sông rạch có giá trị tỷ số phân cực nhiễu  
động khá nhiều trong khoảng rộng có thể do sóng  
radar kênh X (bước sóng 3,1cm) tỏ ra nhạy cảm  
với các nhiễu động bề mặt nước trên sông (sóng  
gió hoặc sóng tàu) (hình 5).  
3.3. Lập bản đồ lúa  
Hình 5. Biến đổi của tỷ số HH/VV của lúa và các  
đối tượng thảm phủ/sử dụng đất khác  
Kết quả phân tích trên cho thấy phân cực VV  
và tỷ số HH/VV của ảnh radar có sự thay đổi đáng  
188  
thấy giá trị tỷ số phân cực của một thời điểm ảnh  
có thể được sử dụng để lập bản đồ lúa trong  
khoảng thời gian sau khi sạ/cấy từ 35 đến 70 ngày.  
Giá trị ngưỡng thích hợp để phân loại lúa với các  
đối tượng khác là 5 dB trong giai đoạn giữa mùa  
vụ để đạt được độ chính xác trên 95%.  
Nhơn Mỹ, Mỹ Hiệp, Bình Phước Xuân, còn các xã  
An Thạnh Trung, Hòa Bình, Hòa An, Hội An có  
ngày sạ sớm hơn các xã ở phía Bắc Chợ Mới hoặc  
có vùng chỉ trồng hoa màu. Tổng diện tích trồng  
lúa của các xã còn lại được tính ở bảng 4 cho thấy  
phương pháp lập bản đồ lúa này khá chính xác với  
sai số là -10,2 % và 4,6 % so với dữ liệu thống kê  
diện tích lúa cho vụ Thu Đông 2010 và Đông Xuân  
2011 tương ứng.  
Phương pháp phân loại dựa trên cơ sở tỷ số  
phân cực đã được kiểm tra trên các ảnh được thu  
nhận vào giữa mùa vụ Thu Đông 2010 và Đông  
Xuân 2011 ở huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Việc  
xác định giá trị ngưỡng của tỷ số phân cực là dựa  
vào phân tích thống kê tán xạ radar tại các vùng  
ruộng mẫu. Bản đồ phân bố vùng trồng lúa được  
thiết lập với giá trị ngưỡng được chọn là 5 dB và  
đạt trên 95 % số pixel là lúa trong ruộng mẫu (xem  
bảng 3).  
Bảng 3. Thống kê giá trị ngưỡng của ảnh tỷ số HH/VV  
TerraSAR-X ngày 24/10/2010 và ngày 22/02/2011 ở các  
ruộng mẫu tại Chợ Mới  
Số pixel trong ruộng mẫu (%)  
Giá trị ngưỡng (dB)  
Vụ Thu Đông 2010 Vụ Đông Xuân 2011  
3,0  
4,0  
5,0  
6,0  
7,0  
99,6  
98,1  
95,4  
89,4  
80,5  
99,7  
99,3  
98,2  
95,4  
91,4  
Hình 6. Bản đồ phân bố lúa trong vụ Thu Đông 2010 tại  
Chợ Mới thành lập từ ảnh TerraSAR-X ngày 24/10/2010  
(giá trị ngưỡng là 5 dB)  
4. Kết quả và thảo luận  
Thành lập bản đồ lúa từ ảnh đơn TerraSAR-X  
thu nhận vào khoảng giữa mùa vụ (từ 35 đến 70  
ngày sau khi sạ/cấy) như ảnh ngày 24/10/2010  
trong vụ Thu Đông 2010 và ngày 22/02/2011 trong  
vụ Đông Xuân 2011 ở Chợ Mới. Kết quả các bản  
đồ phân bố lúa được trình bày ở hình 6 và 7. Theo  
kết quả thống kê giá trị tỷ số phân cực HH/VV ở  
bảng 3 tại các ruộng mẫu, ta nhận thấy đối với  
trường hợp giá trị ngưỡng là 5 dB thì có số lượng  
pixel chiếm là 95,4 % (Thu Đông 2010) và 98,2 %  
(Đông Xuân 2011), tức là nếu chọn giá trị ngưỡng  
này thì có thể xác định được chính xác trên 95 %  
diện tích lúa của các ruộng mẫu.  
Để đánh giá kết quả của phương pháp phân loại  
lúa, diện tích lúa vụ Thu Đông 2010 và Đông Xuân  
2011 ở Chợ Mới thu được từ ảnh TerraSAR-X  
(hình 6, 7) được so sánh với số liệu thống kê diện  
tích lúa gieo xạ của Phòng Nông nghiệp và Phát  
triển Nông thôn huyện Chợ Mới. Ảnh radar không  
phủ hết diện tích các xã Kiến An, Mỹ Hội Đông,  
Hình 7. Bản đồ phân bố lúa trong vụ Đông Xuân 2011 tại  
Chợ Mới thành lập từ ảnh TerraSAR-X ngày 22/02/2011  
(giá trị ngưỡng là 5 dB)  
189  
Bảng 4. So sánh diện tích lúa vụ Thu Đông 2010 và  
Đông Xuân 2011 trích từ ảnh TerraSAR-X ngày  
24/10/2010 và ngày 22/02/2011 với số liệu thống kê ở  
các xã của huyện Chợ Mới  
applications in imaging radar. New York: Wiley,  
381-406.  
[3] Ribbes, F. and Le Toan, T., 1999: Rice  
field mapping and monitoring with RADARSAT  
data, International Journal of Remote Sensing,  
20(4), 745-765.  
Diện tích lúa  
trích từ ảnh  
Diện tích lúa  
theo số liệu tương đối  
Sai số  
Vụ lúa  
TerraSAR-X (ha) thống kê (ha)  
(%)  
-10,2  
4,6  
Thu Đông 2010  
Đông Xuân 2011  
5890  
7040  
6556  
6732  
[4] Rosenqvist. A., 1999: Temporal and  
spatial characteristics of irrigated rice in JERS-1  
L-band SAR data. International Journal of Remote  
Sensing 20(8), 1567-1587.  
5. Kết luận  
Hệ số tán xạ ngược của hai phân cực HH và  
VV có sự thay đổi khác nhau theo các giai đoạn  
tăng trưởng của cây lúa, đặc biệt là tỷ số phân cực  
HH/VV tăng cao vào giai đoạn giữa mùa vụ. Do  
đó, có thể dựa vào tỷ số phân cực của ảnh  
TerraSAR-X thu nhận tại một thời điểm vào giữa  
vụ lúa và sử dụng phương pháp ngưỡng để thành  
lập bản đồ phân bố lúa. Việc sử dụng ảnh radar hai  
phân cực để giám sát và thành lập bản đồ lúa cho  
kết quả khá tốt khi so sánh với số liệu thống kê  
diện tích trồng lúa của Phòng Nông nghiệp và Phát  
triển Nông thôn huyện Chợ Mới. Ảnh TerraSAR-X  
có độ phân giải không gian cao nên có thể thành  
lập bản đồ lúa chi tiết và chính xác hơn các ảnh  
radar phân cực luân phiên khác như ENVISAT  
ASAR-APP [10].  
[5] Kim, Y.H., Hong, S.Y., Choe, E.Y, and  
Lee, H.Y., 2010: Monitoring of the Paddy Rice  
Growth by Radar Scatterometer Characteristics.  
The 9th International of the East and SouthEast  
Asia Federation of soil science societies, 638-639.  
[6] Kim, Y.H., Hong, S.Y. and Lee, H., 2008:  
Radar Backscattering Measurement of a Paddy  
Rice Field using Multi-frequency (L, C and X) and  
Full-polarization. Geoscience and Remote Sensing  
Symposium, IGARSS 2008. IEEE International.  
Volume: 4, IV, 553-556.  
[7] Lam Dao, N., Le Toan, T. and Floury, N.,  
2005: The Use of SAR Data for Rice Crop  
Monitoring - A Case Study of Mekong River Delta  
- Vietnam, The 26th Asian Conference on Remote  
Sensing, Ha Noi, Vietnam.  
Lời cảm ơn: Nghiên cứu này được thực hiện  
trong khuôn khổ nhiệm vụ RICEMAN - Nghiên  
cứu giám sát lúa và rừng ngập mặn bằng công nghệ  
viễn thám ở khu vực phía Nam Việt Nam. Đây là  
nhiệm vụ hợp tác quốc tế về KH&CN theo Nghị  
định thư giữa Chính phủ Cộng hòa Liên bang Đức  
(đại diện bởi Bộ Nghiên cứu và Giáo dục CHLB  
Đức - BMBF) và Chính phủ Cộng hòa Xã hội Chủ  
nghĩa Việt Nam (đại diện bởi Bộ Khoa học và  
Công nghệ - MOST).  
[8] Lam Dao, N., Apan, A., Young, F., Le  
Van, T., Le Toan, T. and Bouvet, A., 2007: Rice  
monitoring using ENVISAT ASAR data:  
Preliminary results of a case study in the Mekong  
River Delta, Vietnam, The 28th Asian Conference  
on Remote Sensing, Kurla Lumpur, Malaysia.  
[9] Lam Dao, N., Le Toan, T., Bouvet, A.,  
Apan, A., Young, F. and Le Van, T., 2008: Rice  
crop mapping in the Mekong River Delta using  
multi-temporal ENVISAT ASAR data, Tuyển tập  
Viện Địa lý Tài nguyên Tp. Hồ Chí Minh.  
TÀI LIỆU DẪN  
[1] Bouvet, A., Le Toan, T., Tan, B., Bingbai,  
L., Wei, H. and Pingping, Z., 2005: Assessment of  
ENVISAT ASAR alternating polarisation data for  
rice mapping in Jiangsu province, China, The 2005  
Dragon Symposium "Mid-Term results", Santorini,  
Greece.  
[10] Lam Dao, N., 2009: Rice crop monitoring  
using new generation synthetic aperture radar  
(SAR) imagery, University of Southern  
Queensland, Australia.  
[11] Le Toan, T., Ribbes, F., Wang, L. F.,  
Floury, N., Ding, K. H., Kong, J. A., Fujita, M. and  
Kurosu, T., 1997: Rice crop mapping and  
monitoring using ERS-1 data based on experiment  
[2] Brisco, B, and Brwon, R. J., 1998:  
Agricultural applications with radar. In: F. M.  
Henderson & A. J. Lewis (Eds), Principles and  
190  
and modelling results, IEEE Trans. Geosci.  
Remote Sensing, 35, 41-56.  
[13] Shi, Z. and Fung, K. B., 1994: A  
Comparison of Digital Speckle Filters, IGARSS 94.  
[12] Lopes, A., Touzi, R. and Nezry, E., 1990:  
[14] Suga, Y. and Konishi, T., 2008: Rice crop  
Adaptive speckle filters and scene heterogeneity, monitoring using X, C and L band SAR data.  
IEEE Trans. Geosci. Remote Sensing, 28, Remote Sensing for Agriculture, Ecosystems, and  
992-1000.  
Hydrology X. Proc. of SPIE Vol. 7104, 710410.  
SUMMARY  
Rice crop mapping in the Mekong River Delta using TerraSAR-X radar remote sensing data  
Vietnam is one of the biggest rice exporting country in the world in which the Mekong Delta accounts for over half of  
the country's rice production. Rice is the dominant plant grown in Vietnam and Asia. Therefore, it becomes necessary to  
monitor and estimate rice acreage in a large area for the management and planning of the managers.  
The advantage of radar data is small dependence on atmospheric conditions and penetrating cloud cover. Use of  
imaging radars is independent of solar radiation so that imagery can be obtained at any time during day and night for  
continuous monitoring rice crops. The study used radar remote sensing data TerraSAR-X with dual polarisation HH&VV  
(band X, wavelength of 3.1 cm) and StripMap mode with very high spatial resolution (3 m) for monitoring and mapping  
distribution of rice-growing areas in Cho Moi district of An Giang province. The relationship between backscattering  
coefficient of TerraSAR-X images with the growth of rice plants was analysed in this research study. The backscattering  
coefficients of the two polarisations HH and VV change in the rice growing stages. Backscattering coefficient of HH  
polarisation is higher than VV polarisation from 20 days after sowing. In the last stage of rice crop, backscattering  
coefficients of HH and VV polarisation is close to each other and relatively stable. Especially, in the middle stage of crop,  
backscattering coefficient of VV was significantly reduced and then increased again, thus the polarisation ratio of HH/VV  
increased highly in this stage. Using the single-date HH&VV ratio image acquired in the middle of the crop and  
thresholding method, the distribution of rice-growing areas are mapped in order to support for crop monitoring and  
management precisely and detailed at district and commune levels. The study used dual-polarisation TerraSAR-X  
imagery for monitoring and mapping of rice provided good results when compared to statistics of rice area in Cho Moi  
District.  
191  
pdf 7 trang Mãnh Khiết 12/01/2024 18400 Free
Bạn đang xem tài liệu "Thành lập bản đồ lúa vùng đồng bằng sông Cửu Long sử dụng tư liệu viễn thám Radar Terrasar-X", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfthanh_lap_ban_do_lua_vung_dong_bang_song_cuu_long_su_dung_tu.pdf