Tâm linh và ma thuật: Tìm kiếm an ninh tinh thần trong giao thông ở Việt Nam đương đại
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 9&10 - 2016
27
NGUYỄN ĐĂNG HỰU*
TÂM LINH VÀ MA THUẬT: TÌM KIẾM AN NINH TINH
THẦN TRONG GIAO THÔNG Ở VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI
Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu những quan niệm và thực hành
tâm linh trong việc tìm kiếm an toàn giao thông của người Việt.
Bằng phương pháp tiếp cận nhân học tôn giáo và ma thuật đối
với vấn đề tâm linh trong đi lại của người Việt ở Miền Trung và
một vài địa phương khác, bài viết chỉ ra các cách thức tìm kiếm
an toàn và kiểm soát rủi ro trong bối cảnh giao thông phức tạp
ở Việt Nam. Từ đó, nghiên cứu làm rõ mục đích và động thái của
các hành vi tôn giáo và ma thuật đối với vấn đề rủi ro và tìm
kiếm an ninh tinh thần trong lĩnh vực giao thông ở Việt Nam
đương đại.
Từ khóa: Bất an, ma thuật, an ninh, giao thông, tâm linh, tinh thần.
1. Lịch sử nghiên cứu và lý thuyết
Báo cáo toàn cầu về an toàn giao thông đường bộ năm 2015 của tổ
chức Y tế Thế giới cho biết mỗi năm có hơn 1,2 triệu người chết vì tai
nạn giao thông đường bộ (WHO, 2015: ix). Cái chết do tại nạn giao
thông được xếp thứ 8 trong những nguyên nhân gây nên cái chết hàng
đầu trên toàn cầu (WHO, 2015: 1). Kết quả khảo sát của Bộ Giao
thông Vận tải cho biết mỗi năm Việt Nam có khoảng 35.000 người
chết vì tại nạn, trong đó tai nạn giao thông là nguyên nhân hàng đầu
với khoảng 15.000 chết/ năm1. Riêng năm 2015, theo số liệu công bố
của Tổng cục Thống kê, ở Việt Nam đã xảy ra 22.404 vụ tai nạn giao
thông, làm 8.671 người chết; 5.984 người bị thương và 14.572 người
bị thương nhẹ2.
Báo cáo về tai nạn giao thông của WHO cho rằng: các nước có thu
nhập thấp và trung bình là nơi có tỷ lệ tai nạn giao thông cao gấp hai
lần so với các nước có thu nhập cao (WHO, 2015: 4). Nguyên nhân
chính xuất phát từ tốc độ tăng nhanh của tình trạng cơ giới hóa và
* ThS., Đại học Duy Tân, Đà Nẵng.
28
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 9&10 - 2016
thiếu sự đầu tư chiến lược an toàn đường bộ và quy hoạch sử dụng đất
ở nhiều nước đang phát triển (WHO, 2013: 1). Con số tử vong do tại
nạn giao thông đường bộ gia tăng ở Việt Nam và một vài quốc gia
Đông Nam Á có quan hệ mật thiết với sự bùng nổ số lượng xe cơ giới
2 bánh và 3 bánh. (WHO, 2004: 73)
Những tổn thất to lớn về tài sản và nhân mạng do tai nạn giao
thông gây ra khiến cho vấn đề tai nạn giao thông trở thành mối quan
tâm thu hút sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu trong các lĩnh vực khác
nhau. Các nghiên cứu về tai nạn giao thông xe cơ giới thường tập
trung vào các vấn đề kỹ thuật xe và hành vi lái xe của người tham gia
giao thông (Covello, William J. Burns, 1984; Paul Slovic, 2012); hoặc
chú ý đến nhóm xã hội của người bị tai nạn (Tierney, 1999), hay tâm
lý của người tham gia giao thông (Talib Rothengatter, 1997), v.v.. Một
số nghiên cứu khác đã bắt đầu chú ý đến các yếu tố văn hóa trong tai
nạn và kiểm soát tai nạn (Roni Factor, David Mahalel, Gad Yair,2007;
Nordfjærna, Simsekoglu, Rundmo, 2014).
Trong vài thập niên qua, các vấn đề rủi ro và kiểm soát rủi ro cũng
là vấn đề quan tâm của các nhà nghiên cứu xã hội học và nhân học.
Nghiên cứu xã hội học của Roni Factor, Gad Yair và David Mahalel
đã chỉ ra rằng các yếu tố văn hóa ở các nhóm xã hội khác nhau có mức
độ liên quan khác nhau đến tai nạn giao thông (Roni Factor, Gad Yair,
David Mahalel, 2010). Nhóm nghiên cứu đưa ra lý giải rằng: một vụ
tại nạn chịu ảnh hưởng trực tiếp từ đặc điểm môi trường (thiết kế
đường, thời tiết…) và hành vi của lái xe - yếu tố mà vốn chịu ảnh
hưởng của các đặc điểm cá nhân và văn hóa (Roni Factor,David
Mahalel, Gad Yair, 2007: 918). Các nghiên cứu về rủi ro khác như
nghiên cứu của Bourdieu cũng chỉ ra mối quan hệ mật thiết giữa vấn
đề rủi ro với phong cách sống và đặc điểm tiêu thụ cá nhân (Bourdieu,
1984) hoặc chỉ mối quan hệ giữa rủi ro với nguồn lực kinh tế của một
nhóm xã hội (Tierney, 1999).
Những cách thức trấn an và kiểm soát rủi ro trong đời sống hằng
ngày vốn đã được các nhà nghiên cứu nhân học chú ý. Nghiên cứu của
Malinowski nhấn mạnh đến chức năng tâm lý của nghi lễ, theo đó
trong môi trường càng bất trắc và kết quả càng bấp bênh thì con người
có xu hướng cần đến lễ nghi, phù phép. Malinowski khi nghiên cứu
Nguyễn Đăng Hựu. Tâm linh và ma thuật...
29
các hành vi ma thuật cũng đã đưa ra quan điểm rằng: việc trấn an
trước rủi ro bằng các phương thức ma thuật và tôn giáo là một phương
thức ứng xử đặc biệt giúp con người nâng cao niềm tin chiến thắng
được sợ hãi, tự tin, kiên định và lạc quan (Malinowski,1954: 24-90).
Gần đây, có một số nghiên cứu đáng chú ý về động lực và phương
thức kiểm soát bất an và rủi ro bằng con đường tâm linh ở Việt Nam
đương đại. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hiền cho thấy các vấn đề rủi
ro sức khỏe không chỉ nảy sinh từ sự bất ổn về thể lý mà còn do một
tác lực tâm linh bên ngoài. Những triệu chứng này được gọi là bệnh
âm, bệnh lý này“được hiểu trong bối cảnh tôn giáo, văn hóa là khi
có những triệu chứng bệnh mà nguyên nhân mang tính tâm linh”3.
Dạng bệnh lý ấy chỉ được trị liệu hiệu quả thông qua các thực hành
tâm linh, tôn giáo (Nguyễn Thị Hiền, 2007, 2010). Vũ Hồng Thuật
tiếp cận các phương thức kiểm soát sự bất an thông qua các nghi lễ
ma thuật và bùa chú, hiệu quả của việc kiểm soát bất an này chỉ đạt
được khi chủ thể tuân theo đúng những quy trình thiêng và nguyên
tắc của hiện vật thiêng (Vũ Hồng Thuật, 2002, 2013). Nghiên cứu
của Philip Taylor chỉ ra vai trò của thực hành tôn giáo trong việc
giúp con người vượt qua được cảm giác bất lực trên thị trường vốn
được cho là do sự kiểm soát của các lực lượng vô hình (Taylor,
2004). Cùng quan điểm với Taylor, một số nhà nghiên cứu khác cũng
cho rằng những bất an do tình trạng bấp bênh của thị trường cũng là
động lực cho những thực hành tôn giáo ở Việt Nam đương đại (Lê
Hồng Lý, 2007; Nguyễn Thị Minh Ngọc, 2007). Những nghiên cứu
nhân học trên đã chỉ ra vai trò của các hành vi tôn giáo và ma thuật
trong việc kiểm soát và giải quyết các vấn đề rủi ro, bất an về thể lý,
tinh thần mà con người gặp phải.
Những ý tưởng lý thuyết an ninh con người (Human Security) của
Oscar Salemink và lý thuyết về ma lực (Agency) của Alfed Gell là nền
tảng để chúng tôi tiếp cận nghiên cứu các hành vi tìm kiếm an ninh
tinh thần trong giao thông đường bộ ở Việt Nam đương đại. Từ nền
tảng những lý thuyết trên kết hợp với các kết quả điền dã tại Lào Cai,
Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, bài viết này sẽ
làm rõ và động thái của những thực hành tôn giáo và ma thuật trong
mối tương quan với những đe dọa rủi ro và sự mưu cầu an toàn.
30
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 9&10 - 2016
Khi bàn về mối quan hệ giữa ma thuật và nghệ thuật trong nhân
học, Alfred Gell cho rằng các phương cách ứng xử trong bối cảnh của
các mối quan hệ xã hội cụ thể nào đó đều căn cứ trên những chỉ dẫn
(index). Đây là những thực thể mà từ nó người quan sát có thể suy
luận nhân quả về một cái gì đó, mà cụ thể trong giới hạn của ông đưa
ra là những quy kết cho “ma lực” và đặc biệt là “ma lực xã hội”. Gell
gọi chung đó là sự quy kết cho ma lực (the abduction of agency) thông
qua những chỉ dẫn hữu hình (Alfred Gell, 1998). Quan điểm của Gell
khá tương đồng với phương cách suy diễn của dân gian khi gặp phải
các vấn đề rủi ro, khi những rủi ro xảy ra con người thường quy gán
nguyên nhân cho một ma lực bên ngoài tác động. Từ những quan niệm
đó, cá nhân con người có những cách ứng xử tâm linh và ma thuật đặc
thù để tìm kiếm sự an toàn và kiểm soát rủi ro. Những ứng xử này như
là một nỗ lực dùng thần linh hoặc những phép màu để tác động vào tự
nhiên. Ma lực có thể gán vào những người hoặc vật, mà người hoặc
vật này khởi đầu một chuỗi hành động nhân quả của các sự kiện sinh
ra do tư duy, lý trí, hoặc dự định, chứ không phải là sự móc nối đơn
thuần vào nhau của các sự kiện tự nhiên…. “Ý định về ma lực như là
một khuôn mẫu được quy định bởi văn hóa nhằm nghĩ về một nguyên
nhân, khi cái gì đó diễn ra được cho là có ý định trước của một tác
nhân là người hay là vật”4. Lý thuyết của Gell nhìn nhận những hành
vi ma thuật ấy như là “một kỹ thuật “lý tưởng” định hướng cho kỹ
thuật thực hành và hệ thống hóa quy trình kỹ thuật ở mức độ ý nghĩa
biểu tượng”5.
Nếu những nghiên cứu của Gell chú ý đến những “ma lực” bên
ngoài thì Salemink xem nghi lễ và ma thuật như là một sự tìm kiếm
chủ động bên trong xuất phát từ những mưu cầu về an ninh của con
người. An ninh con người (Human Security) được hiểu là các cá nhân
và các cộng đồng được bảo vệ khỏi những mối đe dọa (Conmission on
Human Security, 2003: 3). Khái niệm này xem cá nhân là tâm điểm
chủ thể của an ninh, nó không chỉ được tham chiếu với nhưng đe dọa,
rủi ro hoặc xâm phạm mà còn được mở rộng thông qua những khái
niệm tích cực. Salemink nhìn nhận an ninh con người trên những khía
cạnh nhu cầu lo lắng, ham muốn, tham vọng và chủ đích mang tính
văn hóa xã hội (Salemik, 2007, 2010). Những khía cạnh đó được
Nguyễn Đăng Hựu. Tâm linh và ma thuật...
31
Salemink giải thích trong khái niệm an toàn hiện sinh (existential
security) như là một sự mở rộng cho khái niệm an ninh con người
truyền thống vốn được định nghĩa từ các khía cạnh kinh tế, chính trị,
thể lý hay sinh thái học trước đó (Salemink, 2010). Tập trung vào các
khía cạnh biểu tượng của nghi lễ đối với vấn đề an ninh con người,
ông đưa ra mối quan hệ giữa an toàn hiện sinh (existential security)
với an toàn thể lý (physical (heath) security) và an toàn kinh tế
(economic security). Tìm kiếm an ninh tinh thần trong việc đi lại
chính là một dạng thức tìm kiếm an toàn hiện sinh trong mối liên hệ
với mưu cầu an toàn về thể lý. Tìm kiếm an ninh tinh thần qua thực
hành tôn giáo và ma thuật thường được thực hiện khi những bất an
không giải quyết được bằng các phương thức khác.
Dưới lăng kính an ninh con người, Oscar Salemink nghiên cứu các
hành xử tôn giáo như là một sự xác lập bản sắc cá nhân ở Việt Nam.
Ông đưa đưa ra bốn dạng thức của sự bất an đòi hỏi cần có sự điều
chỉnh tinh thần, đó là: 1) Những vấn đề sức khỏe thể lý và tinh thần
(đòi hỏi chữa trị); 2) Bất an về kinh tế và rủi ro thị trường (tìm kiếm
vận may); 3) Những bất an hiện sinh liên quan đến cái chết; 4) Chủ ý
đón nhận rủi ro và quản lý rủi ro (Salemink, 2010: 263). Trong số
những dạng thức bất an này, vấn đề rủi ro và kiểm soát rủi ro trong
giao thông là dạng thức bất an đáng chú ý. Những thực hành tâm linh
nhằm tìm kiếm sự an ninh tinh thần trong đi lại là một chủ đề chưa
được chú ý nhiều trong nghiên cứu thực hành tôn giáo ở Việt Nam
đương đại.
2. Bối cảnh văn hóa của tai nạn và rủi ro
Người Việt vốn có truyền thống coi trọng sự ổn định trong cư trú,
“ít có nhu cầu đi lại, di chuyển; có đi thì đi gần nhiều hơn đi xa” (Trần
Ngọc Thêm, 2004: 935). Với bờ biển dài, hệ thống sông ngòi phân bố
dày khắp, phương tiện đi lại truyền thống của người Việt Nam xưa chủ
yếu là thuyền. Mạng lưới giao thông đường bộ và các phương tiện xe
cộ gắn với chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp chỉ bắt
đầu quen thuộc với người Việt từ đầu thế kỷ XX. Tuy nhiên, trong gần
2 thập niên gần đây, Việt Nam có bước phát triển nhanh chóng về
phương tiện đi lại, đặc biệt trong giao thông đường bộ. Nền kinh tế
quốc gia và đời sống kinh tế cá nhân phát triển đã thúc đẩy cho việc
32
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 9&10 - 2016
bùng nổ phương tiện đi lại. Sự chênh lệch giữa tốc độ gia tăng phương
tiện giao thông với cơ sở hạ tầng cũng như kỹ năng, ý thức về giao
thông của con người đã dẫn đến những hệ lụy về tai nạn và rủi ro
trong việc đi lại.
Sự phát triển nhanh chóng về phương tiện đi lại được cho là một
trong những nguyên nhân hàng đầu làm gia tăng số vụ tai nạn. Sự
bùng nổ này trở thành vấn đề nóng bỏng trong các quyết sách của Nhà
nước. Trước tình trạng tai nạn giao thông gia tăng nhanh chóng, cùng
với những chế tài xử phạt nhằm giảm thiểu tai nạn và thương vong,
Nhà nước đã có nhiều biện pháp tuyên truyền giáo dục người dân chấp
hành luật lệ giao thông, biết kiểm soát hành vi lái xe, tôn trọng tính
mạng bản thân và người khác, xây dựng hành vi văn hóa - văn minh
trong giao thông hiện đại. Thậm chí từ năm 2012, những nghi lễ tôn
giáo cầu siêu của chính quyền cho những người tử vong vì tai nạn
giao thông đã trở thành những hoạt động tâm linh phổ biến ở nhiều địa
phương. Sự kiện tâm linh vừa mới diễn ra trong năm an toàn giao
thông 2106 là Đại lễ cầu siêu cho các nạn nhân tử vong do tai nạn
giao thông được tổ chức vào ngày 13/11/2016 tại đền Yên Tử (Quảng
Ninh) cho thấy nỗ lực của Ủy ban An toàn Giao thông Quốc gia khi đã
5 lần liên tiếp tổ chức nghi lễ tưởng niệm các nạn nhân tử vong vì tai
nạn giao thông trên toàn quốc. Tuy nhiên, những nỗ lực của Nhà nước
trong việc tuyên truyền, giáo dục và kiểm soát số vụ tai nạn dường
như vẫn không dịch chuyển được quan niệm của người dân rằng tai
nạn giao thông như là sự rủi ro không tiên lượng trước được và nằm
ngoài tầm kiểm soát.
Nguyên nhân gia tăng tai nạn, rủi ro còn phụ thuộc phần lớn vào
hành vi cá nhân. Đặc tính này vốn được Bourdieu nêu ra trong nghiên
cứu về mối quan hệ giữa vấn đề rủi ro với phong cách sống, hành vi
sức khỏe và đặc điểm tiêu thụ6. Mối quan hệ giữa rượu bia và tai nạn
ở Việt Nam cho thấy rõ mối quan hệ giữa đặc điểm lối sống cá nhân
với rủi ro giao thông. Đặc điểm tiêu thụ cá nhân còn thể hiện rõ trong
việc lựa chọn phương tiện đi lại và các phương tiện bảo hộ. Việc xem
nhẹ các phương tiện bảo hộ và các tiêu chí an toàn của xe cộ là hiện
trạng khá phổ biến, nhất là ở nhóm xã hội có thu nhập thấp. Nghiên
cứu của Tierney cho thấy rằng những người có ít nguồn lực kinh tế có
Nguyễn Đăng Hựu. Tâm linh và ma thuật...
33
nguy cơ đối mặt cao nhất đối với các rủi ro và thảm họa (Tierney,
1999). Ở Việt Nam, nhóm xã hội này lại là những người có đời sống
tâm linh phong phú, phần lớn tập trung ở nông thôn - nơi vốn chịu ảnh
hưởng sâu sắc đời sống tôn giáo dân gian với nhiều hình thức cúng bái
và ma thuật trong đời sống. Và những bộ phận dân cư trải qua nhiều
rủi ro và dễ bị tổn thương về cá nhân, môi trường, vật lý và xã hội thì
mức mộ đạo cao và niềm tin tôn giáo mạnh mẽ (Norris, Inglehart,
2004). Điều đó lý giải phần nào sự nở rộ đời sống tâm linh về xe cộ ở
những cư dân Miền Trung hiện nay. Hiện tượng đó không những cho
thấy mối quan hệ giữa vấn đề giao thông và tôn giáo mà còn là một
biểu hiện khác về đời sống tâm linh phong phú của người Việt hiện đại.
3. Các phương thức tìm kiếm an ninh tinh thần
3.1. Chiếc xe và sự thiêng hóa
Đời sống kinh tế phát triển không chỉ làm bùng nổ các phương tiện
đi lại cá nhân, làm gia tăng mức độ rủi ro mà còn thúc đẩy sự trở lại
của nhiều hình thái tâm linh truyền thống liên quan đến xe cộ ở Việt
Nam. Những thực hành tâm linh liên quan đến các phương tiện đi lại
ngày càng phổ biến, các quan niệm và nghi lễ truyền thống được hồi
sinh dưới nhiều dạng thức mới. Mua một chiếc xe, dù mới hay cũ, vẫn
là một đại sự đối với số đông người Việt bởi chiếc xe không chỉ là một
tài sản lớn mà nó còn là phương tiện gắn với sinh mệnh của chủ nhân.
Vì vậy, trong bối cảnh văn hóa đặc thù nào đó nó thường được đặt
trong mối quan hệ cụ thể với vấn đề tâm linh. Những quan niệm tâm
linh gắn với chiếc xe luôn hiện hữu bởi những bất trắc không lường
trước được khi tham gia giao thông. Nắm rõ “lý lịch” của những chiếc
xe đã qua sử dụng như là một yếu tố đáng lưu tâm đầu tiên trong các
giao dịch mua bán xe cũ của người Việt ở Miền Trung Việt Nam. Việc
nắm rõ “lý lịch xe” giúp người mua an tâm hơn cả về mặt kỹ thuật lẫn
mặt tâm linh. Những chiếc xe đã từng gây ra tai nạn, bị tai nạn hay
chủ xe chết vì tai nạn thường bị cho là những chiếc “xe xui”, mua “xe
tai nạn” là hành động “dại dột”, “rước họa vào thân”.
Khác với việc mua cũ, việc mua chiếc xe mới thường được chuẩn bị
chu đáo hơn, từ việc chọn ngày tốt mua xe, chọn một “biển số đẹp”, tổ
chức lễ cúng xe, thiết tượng, đặt linh phù. Mua xe là sự kiện quan trọng
nên thường được xem ngày, chọn giờ cẩn thận. Tuổi của gia chủ được
34
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 9&10 - 2016
quy chiếu theo các quy tắc hung cát phức tạp trong thuật xem ngày
nhằm lựa chọn thời điểm phù hợp (ngày tốt, giờ hoàng đạo) để mang xe
về. Chiếc xe như một thực thể được thiêng hóa ngay từ đầu, mang xe về
nhà quan trọng như việc nhập trạch, di quan, động thổ hay thượng
lương trong các nghi thức cưới hỏi, tang ma, xây dựng nhà cửa vậy.
Biển số xe ở Miền Trung Việt Nam còn được xem là thứ thể hiện
địa vị, đẳng cấp của chủ nhân, và đặc biệt hơn, nó còn được gắn với
những ý nghĩa tâm linh đặc biệt. Biển số được tin rằng có mối quan hệ
với sự rủi ro hay hanh thông của chủ xe. Biển số xe thường được quy
về hệ quy chiếu trực (quy kết với chu kỳ đời người: sinh, lão, bệnh,
tử), ngũ hành (quy kết với mệnh) hay các quy tắc của dịch học vốn đã
rất thịnh hành trong quan niệm về số đếm của người Việt. Từ quan
niệm tâm linh đó, người ta thường tìm nhiều phương cách để có được
những con số vừa ý cho chiếc xe mới mua của mình có được cảm giác
an toàn, hanh thông.
Sau khi có biển số, Lễ cúng xe được xem là một thực hành tâm linh
quan trọng trong hệ thống lễ tiết gia đình. Lễ cúng có thể diễn ra hàng
ngày hoặc theo một chu kỳ tháng (các ngày 1, 14, 15, 30 âm lịch) hoặc
chu kỳ năm (cuối năm âm lịch). Những thực hành tôn giáo của người
cúng xe dù đơn giản với nén hương thắp trước đầu xe hay mâm cao cỗ
đầy với vàng mã và thầy cúng nhưng đều chung mục đích tìm kiếm an
toàn và phòng tránh rủi ro trong đi lại. Những nghi lễ cúng xe là hành
vi ma thuật mà hiệu quả của nó tuy không thể chứng minh bằng thực
tiễn và giá trị của nó không được kiểm chứng (Kendall, 2007), không
thể cân đo hay xác minh bằng thực chứng (Tambiah, 1990) nhưng rõ
ràng nó đem lại cho chủ xe sự an định tinh thần, niềm tin về ước vọng
an toàn, hanh thông trong việc đi lại trên những cung đường bất trắc.
3.2. Đề phòng bất trắc: tai nạn và những ma lực bên ngoài
Người Việt vốn xem những chuyến đi xa hay di chuyển trên những
địa hình nguy hiểm, thời tiết phức tạp hoặc sử dụng các phương tiện
giao thông tốc độ cao là những bối cảnh tiềm ẩn rủi ro. Đi lại trong
những hoàn cảnh đó họ thường cầu mong sự phù trợ từ thánh thần hay
các lực lượng siêu nhiên khác. “Nhiều người Việt Nam, khi phải đưa
ra các quyết định, khi bắt đầu một chuyến đi rủi ro - hoặc tham gia
Nguyễn Đăng Hựu. Tâm linh và ma thuật...
35
giao thông theo nghĩa đen, hoặc là theo nghĩa ẩn dụ - đều tìm đến
những ông thầy, bà thầy”7 để tiên đoán, xem ngày nhằm phòng tránh
rủi ro. Nói về sự bất an và tính rủi ro của giao thông Việt Nam,
Salemink nhận định: “Chỉ sống một ngày trong giao thông điên rồ ở
Việt Nam thì ý nghĩa của rủi ro sẽ trở nên sinh động rõ nét đối với
người ngoài, mặc dù công bằng mà nói quan niệm về rủi ro của chủ
thể và khách thể là khác nhau, và thường được cân bằng khi quy vào
“số phận”8. Một người tử vong vì tai nạn thường được quy vào số
mệnh như: “số chết đường”, “số chết oan”, “dòng chết oan”,….
Nguyên nhân của tai nạn còn được cho là do những ma lực bên ngoài
như: “Bà cô bắt”, “ma xô”, “ma bịt mắt”, “chiếc xe xui”…. Dường
như nguyên nhân tai nạn được nhận thức từ những nguyên nhân bên
ngoài, mang tính tâm linh hơn là từ những nguyên nhân tự thân bên
trong, nơi mà các yếu tố như điều kiện giao thông, phương tiện và
người tham gia giao thông đóng vai trò then chốt. Quan niệm đó
tương tự như nhận định của Gell rằng những ma lực bên ngoài như là
khung văn hóa để quy gán về nguyên nhân cho những sự việc tốt hay
xấu (Alfred Gell, 1998).
Cô hồn như là một thực thể thường được quy gán cho nguyên nhân
gây ra tai nạn. Vì thế đối tượng cầu cúng phổ biến trong nghi lễ cúng
xe hằng tháng hay cuối năm chính là cô hồn. Họ “khấn kẻ khuất mày
khuất mặt phù hộ độ trì cho chiếc xe được an toàn, hanh thông”
(phỏng vấn anh T.V.C, ngày 20/3/2015). “Kẻ khuất mày khuất mặt” ấy
đó là linh hồn xấu số chết trong những hoàn cảnh bất thường do tai
nạn giao thông, hay do chiến tranh, bạo bệnh, thiên tai…. Dân gian
quan niệm linh hồn những người chết oan, hay bất đắc kỳ tử thường
không vào được nhà, lang thang đói khát, không người thờ cúng nên
gọi đó là cô hồn hoặc oan hồn.
Những cái chết bất thường do tai nạn giao thông ảnh hưởng sâu sắc
đến quan niệm và thực hành tâm linh của người Việt. Sau mỗi vụ tai
nạn chết chóc, người ta thường tin rằng linh hồn người tử nạn sẽ
quanh quẩn nơi xảy ra vụ tai nạn, vậy nên vị trí xảy ra tai nạn làm chết
người thường trở thành nơi thờ cúng những vong hồn xấu số. Trong
tâm thức dân gian, những am thờ cô hồn nằm bên vệ đường như thế
thường được gắn với những câu chuyện tâm linh về ma quỷ, hay
36
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 9&10 - 2016
những nguyên nhân gây ra những vụ tai nạn giao thông xảy ra gần đó
về sau. Chính quan niệm tâm linh về sự may rủi trên đường đi gắn với
các lực lượng siêu nhiên bên ngoài mà đặc biệt là cô hồn, ma quỷ
khiến cho việc sùng bái những đối tượng này trở nên quan trọng đối
với người đi đường.
Nếu những am thờ bên vệ đường đánh dấu vị trí xảy ra những vụ
tai nạn chết người thường đem đến nỗi sợ thoáng qua nào đó thì
những miếu cô hồn thực sự là những nơi đáng sợ cho người lái xe.
Miếu cô hồn, nơi mà uy lực và sức mạnh của cô hồn được cho là
mạnh mẽ, đáng sợ hơn cả trở thành nơi thực hành những nghi lễ cầu
bình an của người đi đường. Những đợt điền dã tại miếu cô hồn trên
ngọn đèo nguy hiểm nhất Việt Nam - đèo Hải Vân đã cho chúng tôi
những câu chuyện thú vị về các phương thức tìm kiếm an ninh tinh
thần của những người lái xe. Sự nguy hiểm nổi tiếng của ngọn đèo,
những vụ tai nạn thảm khốc, những câu chuyện tâm linh đáng sợ
khiến ngôi miếu cô hồn này trở thành nơi lễ bái của rất nhiều người
mỗi khi qua đèo. Người có thời gian thì ghé vào miếu thắp hương cầu
khấn, những tài xế không có nhiều thời gian thì lễ bái gián tiếp bằng
việc ném số xe cho thủ nhang. Một mảnh giấy nhỏ ghi họ tên, biển số
xe và cuộn trong đó một ít tiền được tài xế ném xuống trước miếu để
nhờ người thủ nhang “khấn” giúp, cầu cho xe của họ “thượng lộ bình
an”. Dù lưu lượng xe qua đèo hiện nay khá ít do phần lớn xe lưu thông
qua hầm đường bộ Hải Vân, nhưng ngôi miếu vẫn là nơi cầu cúng của
nhiều người, đặc biệt là những chủ nhà xe ở các vùng Quảng Trị, Huế,
Đà Nẵng, Quảng Nam. Điều đó cho thấy mối liên đới giữa tai nạn và
cô hồn trong quan niệm về rủi ro và kiểm soát rủi ro của người Việt ở
Trung Bộ.
Cúng bái cô hồn trở thành phương thức phòng tránh rủi ro bởi cô
hồn được xem là lực lượng “nằm ngoài xã hội và mang tính cá thể”
(Wolf, 1974), vừa là đối tượng đáng thương vừa là đối tượng mà mỗi
người dân đều e sợ, bởi cô hồn thường lang thang, phá phách, “không
rõ ràng, mập mờ và nguy hiểm” (Mary Douglas, 1966). Tuy nhiên, với
quan niệm “cúng vong thì vong độ” vì cô hồn “sẽ chấp nhận mọi lời
cầu khấn” (Weller, 1994) nên việc cúng tế cho những cô hồn sẽ đem
lại cho người sống sự phù trợ tâm linh chẳng hạn như sự an toàn trong
Nguyễn Đăng Hựu. Tâm linh và ma thuật...
37
đi lại. Sự phù trợ này cũng được Philip Taylor lý giải rằng cô hồn “có
nhiều khao khát mà không được đáp lại, khao khát tình cảm, rất có
tâm trạng, đầy ắp ký ức và do vậy thường rất biết ơn những người đã
làm cho họ hài lòng”9.
3.3. Tìm kiếm sự bảo hộ: thần linh trong cabin và thần linh ngoài
biên giới
Trong khi cô hồn được xem là lực lượng phải đề phòng, sự an toàn
có được như là một kết quả của nghi lễ hay sự thờ phụng mang tính
bản chất trao đổi, thì thần linh là những đấng bảo hộ quảng đại, che
chở cho người đi đường qua lòng sùng kính và tín tâm. Hệ thống thần
linh trong tôn giáo dân gian và các tôn giáo được các tín chủ tìm kiếm
để đảm nhận chức năng trấn an, bảo hộ cho họ trên đường đi. Hệ
thống thần linh ấy có thể xuất hiện kín đáo trong những lời khấn niệm,
trong hệ thống văn sớ hay trực quan sinh động qua các tượng thờ đặt
trang trọng trong xe. Xét trên phương diện văn bản, đây là hệ thống
thần linh chằng chịt ảnh hưởng thần phả Đạo giáo dân gian. Chẳng
hạn, trong tờ sớ cúng xe được lưu hành phổ biến ở Huế, Đà Nẵng thì
thấy có các vị thần chung khắp trong 3 cõi: thiên tào, địa phủ, dương
gian và một vài danh hiệu thần linh cụ thể như: Ngũ phương, hành
phong, hành vũ, đạo lộ thần quan10.
Việc không tiên lượng được những bất trắc trong đi lại làm cho
người ta cần đến một lực lượng tâm linh bảo trợ trong những chuyến
đi. Xét trên phương diện thờ phụng thực tế, việc tìm kiếm sự bảo hộ
trong đi lại chủ yếu xoay quanh thống thần linh gần gũi trong đời sống
người Việt như: Phật, Bồ Tát, Chúa, Đức Mẹ, Thánh Mẫu,…. Trong
các hình thái thờ phụng ấy, Quan Thế Âm Bồ Tát và Đức Mẹ Maria là
những biểu tượng phổ biến hơn cả được thờ phụng để bảo trợ an toàn.
Cứu khổ cứu nạn như là một chức năng nổi trội, hình tượng Quan Âm
được sử dụng rộng rãi, hình ảnh vị bồ tát này được dán trước đầu xe
máy, được thiết trí trong cabin xe hơi như là một giải pháp tâm linh
phổ biến trong việc mưu cầu an toàn, phòng tránh rủi ro. Ảnh tượng
Quan Âm thường được thiêng hóa bằng nghi lễ khai quang trước đó ở
chùa hoặc ngay tại lễ an vị vào xe. Việc đặt ảnh tượng thường đi kèm
với một nghi lễ cúng xe được gia chủ xem ngày và tổ chức một cách
thành tín. Tương tự với những tín đồ Phật giáo, những người Công
38
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 9&10 - 2016
giáo cũng thiết trí linh tượng Đức Mẹ trên xe bởi họ tin rằng Đức Mẹ
là đấng thiêng liêng cứu giúp họ trên những cung đường. Thường
xuyên đi trên xe khách tuyến Đà Nẵng - Hồ Xá (Quảng Trị), chúng tôi
được tiếp xúc với những chủ xe người Công giáo, tương tự bên người
lương, tượng Đức Mẹ, thánh giá, chúa Jesus trên thánh giá đều được
linh mục khấn trước khi thiết trí vào xe11. Những biểu tượng của sự
che chở trong các tôn giáo luôn là những biểu tượng thường thấy trong
các điện thờ được thiết trí bên trong cabin xe. Các biểu tượng thiêng,
nơi mà người lái xe tin vào họ được bảo vệ, tránh được nguy hiểm có
thể xảy đến bất kỳ lúc nào trên đường đi giúp người lái xe có được sự
trấn an trên những cung đường đầy bất trắc.
Chiếc xe được thiêng hóa, không gian bên trong là một không gian
tôn giáo, đó còn là không gian của ma thuật. Các hình thái ma thuật phổ
biến là sử dùng linh phù, bùa hoặc linh vật đặt vào xe để trấn, “cầu an,
tránh rủi”. Việc lựa chọn một phương thức ma thuật nào đó tùy thuộc
niềm tin, sở thích và hoàn cảnh của mỗi cá nhân, trong các phương thức
ma thuật ấy phổ biến hơn cả là dùng linh phù hoặc bùa. Nghiên cứu của
Vũ Hồng Thuật về bùa chú cho biết những người hay đi lại trên đường
xa thường dùng bùa hộ thân để đi lại được an toàn, giải hung thành cát
(Vu Hong Thuat, 2008). Bùa mang theo người hay đặt trong xe thường
được làm thiêng bởi các pháp sư hoặc tu sĩ Phật giáo. Bùa xe ngày càng
được dùng phổ biến bởi được bán rộng rãi trên thị trường, tiện dụng, dễ
cất dấu không ảnh hưởng đến thẩm mỹ nội thất xe. Theo Malinowski
thì ma thuật được vận dụng để giải quyết những điều bấp bênh, bất
kiểm soát mà con người gặp phải trong cuộc sống. Ngày nay, những
thực hành mang tính tôn giáo và ma thuật “nở rộ” đúng vào thời điểm
nền kinh tế thị trường trong nước mở cửa hòa nhập với thế giới, cộng
với sức khỏe con người bất an do ảnh hưởng từ chế độ ăn uống dẫn đến
bệnh tật, sự bất an về môi trường sống, sự gia tăng về tai nạn giao
thông12. Sự “nở rộ” của những thực hành tâm linh và ma thuật ấy cho
thấy sự bất an sâu sắc trước những rủi ro giao thông nằm ngoài tầm
kiểm soát, khiến con người phải tìm kiếm thêm sự bảo hộ từ những lực
lượng bên ngoài để mưu cầu được an toàn.
Nền tảng tâm linh từ tôn giáo truyền thống và các hình thái nghi lễ,
ma thuật dân gian dường như không phải là khung văn hóa duy nhất
Nguyễn Đăng Hựu. Tâm linh và ma thuật...
39
để người Việt tìm kiếm an toàn tâm linh trong giao thông. Điền dã tại
Lào Cai, chúng tôi thấy rằng việc sử dụng bùa hay các linh vật cầu
may dùng cho xe cộ đã vượt ra khỏi ranh giới văn hóa và biên giới
quốc gia. Anh Nguyễn H. - chủ một nhà hàng ở Sapa cho chúng tôi
biết cái chuông xoay Tây Tạng đặt trong xe anh có nguồn gốc từ Hà
Khẩu, lá bùa vải anh đặt trước tay lái là do anh nhờ một người bạn đặt
mua và pháp sư “khai quang” tại Côn Minh, Trung Quốc. Theo anh H.,
việc anh dùng bùa xe mua từ Trung Quốc một phần do ở vùng Lào Cai
không có nhiều thầy pháp làm bùa xe, chỉ có bùa hộ thân chung chung,
sợ rằng công hiệu không cao nên anh nhờ một người bạn tìm mua lá
bùa Trung Quốc để đặt trong xe. Dùng bùa Trung Quốc như là việc
tìm đến một khuôn mẫu văn hóa khác trong việc tìm kiếm an toàn và
kiểm soát rủi ro, cái khuôn mẫu mà anh cho rằng có công hiệu hơn
khuôn mẫu văn hóa địa phương trong việc bảo hộ tính mạng và xe cộ.
Cũng là câu chuyện lựa chọn một khuôn mẫu văn hóa bên ngoài
ranh giới quốc gia, nhưng câu chuyện về anh Vương lại cho thấy một
động thái ngược lại. Anh Vương là một người Việt kiều gốc Hoa quê ở
Trà Vinh định cư ở California, làm việc cho một công ty lắp ráp đồ
điện tử, hằng ngày anh mất hơn 1 giờ lái xe đi làm. Trong 5 năm, từ
năm 2010 đến 2014, anh bị 3 vụ tai nạn xe hơi, sự bất thường đó khiến
vợ anh điện về Việt Nam tìm một thầy bói để tìm kiếm nguyên nhân.
Người cháu gái gọi vợ anh bằng cô ruột đã đến trình bày sự việc với
một tu sĩ Phật giáo nổi tiếng cao tay ấn ở Huế. Vị tu sĩ đó bảo rằng
anh Vương bị “Bà Cô” quở, phải “làm lễ tạ” mới hết. Tháng 8/2014,
anh trở về Việt Nam, ghé quê hương Trà Vinh viếng mộ tổ tiên và mộ
Bà Cô rồi sau đó ra Huế nhờ vị tu sĩ nọ làm lễ cúng. Một lễ tạ được cử
hành ngay tại thất của vị tu sĩ với vật phẩm chay và vàng mã. Cuối
buổi lễ, anh Vương đích thân tự tay đốt hết số vàng mã khá lớn để bày
tỏ lòng thành. Đầu tháng 7/2016, tôi liên lạc lại với anh Vương thì anh
nói rằng từ sau đợt về Việt Nam cúng lễ đến bây giờ anh chưa gặp lại
vụ tai nạn nào. Anh tin những thực hành tâm linh của anh ở Việt Nam
đã đem lại kết quả. Như vậy, mặc dù sinh sống ở Mỹ nhưng anh
Vương đã trở về khuôn mẫu văn hóa truyền thống của người Việt để
tìm kiếm nguyên nhân cho việc anh bị tai nạn liên tiếp và giải quyết
nó bằng một lễ “tạ đến nơi đến chốn” cho tổ tiên và thánh thần theo
40
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 9&10 - 2016
phương thức truyền thống. Tìm kiếm an ninh bằng sự trở về này được
Zygmunt Bauman gọi là “vòng tay ấm áp” của những mối liên hệ
mang đậm tính hoài niệm với “cộng đồng”13, nó cũng tương tự như
động thái tìm về tính nguyên bản trong thực hành tôn giáo của các ông
đồng bà đồng San Jose trong nghiên cứu về lên đồng xuyên quốc gia
của Nguyễn Thị Hiền. Như vậy, việc mưu cầu an toàn và kiểm soát rủi
ro về mặt tâm linh là hành vi tâm linh tự do và mang tính cá thể. Chủ
thể có thể tìm về các khuôn mẫu văn hóa có sẵn hoặc dịch chuyển
theo thiên hướng tâm linh cá nhân đi tìm một khuôn mẫu văn hóa khác
miễn sao những thực hành ấy giải quyết được sự bất an và giúp họ tìm
thấy an toàn về mặt tinh thần.
Có thể thấy rằng, cô hồn và thần thánh là hai đối trọng cơ bản trong
quan niệm về rủi ro và kiểm soát rủi ro của người Việt ở Miền Trung.
Cô hồn được xem như một thế lực đe dọa sự an toàn cần được cầu
cúng qua những nghi lễ mang tính trao đổi hai bên cùng lợi. Hệ thống
thần linh dân gian và các tôn giáo được toàn năng hóa để đáp ứng nhu
cầu tìm kiếm bảo hộ và phòng tránh rủi ro trong giao thông. Những
lực lượng tâm linh này được tìm kiếm ở nhiều khuôn mẫu văn hóa
khác nhau, nơi mà giới hạn về quyền năng, ranh giới về tôn giáo, hay
biên giới quốc gia được mở rộng.
4. Kết luận
Thông qua việc đề cập đến một số quan niệm, những thực hành tôn
giáo và ma thuật liên quan đến giao thông, tác giả đã chỉ ra một số
phương thức kiểm soát rủi ro và tìm kiếm an ninh tinh thần trong việc
đi lại của người Việt. Theo đó, khác với quan điểm của Tambiah rằng
khoa học và kỹ thuật xóa bỏ sự cần thiết và nhu cầu tôn giáo, nghi lễ.
Với người Việt đương đại, trong điều kiện phát triển của kỹ thuật ô tô,
xe máy và sự thống trị của tư duy khoa học trước ma thuật, thì việc
tìm kiếm an toàn và kiểm soát rủi ro trong giao thông vẫn tồn tại bằng
các nghi lễ tôn giáo hay hình thức ma thuật cổ xưa.
Động thái văn hóa của người Việt trong việc tìm kiếm an toàn và
kiểm soát rủi ro thực sự đa dạng và nhiều chiều kích về niềm tin cũng
như mẫu hình văn hóa. Sự bất an trong việc đi lại xuất phát từ việc đề
phòng những bất trắc không thể đoán trước và nằm ngoài tầm kiểm
soát đã khiến cho người Việt tìm đến sự bảo hộ của nhiều lực lượng
Nguyễn Đăng Hựu. Tâm linh và ma thuật...
41
siêu nhiên bằng thực hành tôn giáo, ma thuật đa dạng và tự do. Người
Việt tìm kiếm sự bảo hộ an toàn trong một phổ văn hóa tương đối rộng,
nơi mà trên cơ sở niềm tin tôn giáo họ có thể tự do lựa những khuôn
mẫu văn hóa riêng tìm kiếm các cảm giác an toàn về tinh thần trong
một thế giới bất an và không chắc chắn. Chủ thể của sự bảo hộ hiện
diện khắp nơi, từ những linh hồn lang thang trên đường đi, những vị
thần ngự trị trước đầu xe, trong cabin cho đến những lực lượng siêu
nhiên có quyền năng ở đâu đó bên ngoài biên giới quốc gia. Điều đó
cho thấy vẫn tồn tại một thế giới tâm linh sâu sắc, hiện hữu thường
trực trong đời sống thường nhật của người Việt đương đại. Nó vận
động, chuyển hóa mềm dẻo phù hợp và hài hòa trong bối cảnh xã hội
đang đổi thay hằng ngày. Dù được nhìn nhận đánh giá theo góc độ nào
thì những thực hành tâm linh vẫn luôn có những giá trị nhất định đối
với cá nhân hoặc một nhóm xã hội nào đó. Sự tồn tại của nó như là
một phần của văn hóa người Việt, vẫn rất cần thiết trong một xã hội
hiện đại. Như nhận định của Malinowski: văn hóa nhất thiết phải đáp
ứng nhu cầu của xã hội và những thành viên của nó trên bình diện văn
hóa và tâm lý, nghi thức tôn giáo có công dụng nhất định đối với xã
hội, đối với cá thể mà nói, ma thuật có thể giúp cá nhân thoát khỏi
khó khăn gặp phải trong những sinh hoạt trọng yếu hoặc trong những
thời khắc then chốt14./.
CHÚ THÍCH:
1
Lễ công bố kết quả khảo sát tại nạn thương tích ở Việt Nam, Hà Nội, 4/5/1012
Tổng cục Thống kê, “Thông cáo báo chí về tình hình kinh tế- xã hội năm 2015”.
2
3
Nguyễn Thị Hiền, “Bệnh âm: chẩn đoán và chữa bệnh trong lên đồng của người
Việt” trong Lương Văn Hy và các cộng sự (2010), Hiện đại và động thái của
truyền thống ở Việt Nam: Những cách tiếp cận nhân học, Tập 2, Nxb. Đại học
Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh: 37.
4
5
6
Alfred Gell (2007), “Nghệ thuật và ma lực: Một lý thuyết nhân học” trong Laurel
Kendall (tuyển chọn) Nguyễn Thị Hiền dịch, Hợp tuyển những phương pháp tiếp
cận nhân học về tôn giáo, nghi lễ và ma thuật, (Lưu hành nội bộ), Bảo tàng Dân
tộc học Việt Nam, Hà Nội: 149-150.
Alfred Gell (2007), “Kỹ thuật và ma thuật”, trong Laurel Kendall (tuyển chọn),
Nguyễn Thị Hiền dịch, Hợp tuyển những phương pháp tiếp cận nhân học về tôn
giáo, nghi lễ và ma thuật, (Lưu hành nội bộ), Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam,
Hà Nội: 77.
Dẫn theo: Roni Factor, Gad Yair, and David Mahalel (2010), “Who by Accident?
The Social Morphology of Car Accidents”, Risk Analysis, Vol. 30, No. 9: 1412
42
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 9&10 - 2016
7
8
9
Oscar Salemink (2010), “Tìm kiếm an toàn tinh thần trong xã hội Việt Nam
đương đại”, trong Hiện đại và động thái của truyền thống ở Việt Nam - Những
cách tiếp cận nhân học, quyển 2, Nxb. Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh: 15.
Oscar Salemink (2010), “Tìm kiếm an toàn tinh thần trong xã hội Việt Nam
đương đại”, trong Hiện đại và động thái của truyền thống ở Việt Nam - Những
cách tiếp cận nhân học, quyển 2, Sđd: 15.
Dẫn theo: Kirsten W. Endres (2010), “Với linh hồn người đã mất: lễ gọi hồn và
tạo dựng tính hiệu nghiệm qua lực ngôn hành”, trong Hiện đại và động thái của
truyền thống ở Việt Nam - Những cách tiếp cận nhân học, Sđd: 56.
10 Sớ Hoàn Nguyện vùng Huế cung thỉnh:
( thượng trung hạ phân tam giới thiên tào, địa phủ, dương gian tôn vị thánh
thần chiếu giám), cùng
,
(Ngũ phương, hành
phong, hành vũ, đạo lộ thần quan và thuộc hạ theo hầu).
11 Nhật ký điền dã, phỏng vấn chủ xe Hoàng Nam ngày 16/10/2015.
12 Vũ Hồng Thuật (2008), “Đời sống tâm linh của chiếc ván in bùa trấn trạch”,
trong Sự biến đổi của tôn giáo tín ngưỡng ở Việt Nam hiện nay, Nxb. Thế giới,
Hà Hội: 231.
13 Oscar Salemink (2010), “Tìm kiếm an toàn tinh thần trong xã hội Việt Nam
đương đại” trong Hiện đại và động thái của truyền thống ở Việt Nam - Những
cách tiếp cận nhân học, Sđd: 15.
14
.:
.
.
2001: 86.
(Malinowski, “Văn hóa luận”, Phí Hiếu Thông dịch, Hoa Hạ xuất bản xã, Bắc
Kinh, 2001, tr. 86)
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Alfred Gell (1998), “Nghệ thuật và ma lực: một lý thuyết nhân học” trong
Laurel Kendall (tuyển chọn) Nguyễn Thị Hiền dịch, Hợp tuyển những phương
pháp tiếp cận nhân học về tôn giáo, nghi lễ và ma thuật, (Lưu hành nội bộ), Bảo
tàng Dân tộc học Việt Nam, Hà Nội, 2007: 140-153
2. Bronislaw Malinowski (1925, 1954), Magic, Science and Religion and other
Essays, Doubleday Anchor, New York.
3. Conmission on Human Security (2003), Human Security Now, New York.
4. Elizabeth F.Vann (2010), “Năm xe máy Trung Quốc” trong Lương Văn Hy và
các cộng sự, Hiện đại và động thái của truyền thống ở Việt Nam - Những cách
tiếp cận nhân học, Quyển 1, Nxb. Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh.
5. J. Barrow (2008), Một chuyến du hành đến xứ Nam Hà (1792 - 1793), Nxb. Thế
giới, Hà Nội.
6. Kirsten W. Endres (2010), “Với linh hồn người đã mất: lễ gọi hồn và tạo dựng
tính hiệu nghiệm qua lực ngôn hành”, trong Nhiều tác giả, Hiện đại và động thái
của truyền thống ở Việt Nam - Những cách tiếp cận nhân học, Nxb. Đại học
Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh.
7. Laurel Kendall (tuyển chọn), Nguyễn Thị Hiền dịch, Hợp tuyển những phương
pháp tiếp cận nhân học về tôn giáo, nghi lễ và ma thuật, (Lưu hành nội bộ) ,
Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, Hà Nội, 2007.
Nguyễn Đăng Hựu. Tâm linh và ma thuật...
43
8. Le Hong Ly (2007), “Praying for Profit: The Cult of the Lady of the Treasury”.
Journal of Southeast Asian Studies, Vol. 38, No.3.
9. Nguyễn Đăng Hựu,
-
- 2014 (Nghiên cứu nghi lễ Bạt Độ Giải Oan ở Việt Nam đương đại, Viện
nghiên cứu Dân tộc, Đại học Vân Nam, Trung Quốc, 2014).
10. Nguyễn Thị Hiền (2010), “Bệnh âm: chẩn đoán và chữa bệnh trong lên đồng của
người Việt” trong Lương Văn Hy và cộng sự, Hiện đại và động thái của truyền
thống ở Việt Nam: Những cách tiếp cận nhân học, Quyển 2, Nxb. Đại học Quốc
gia Tp. Hồ Chí Minh, 2010.
11. Nguyễn Thị Hiền (2008), “Nghiên cứu tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam đương
đại” trong Nhiều tác giả, Sự biến đổi của tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam hiện
nay, Nxb. Thế giới, Hà Nội.
12. Oscar Salemink (2010), “Ritual Efficay, Spiritual Security and Human Security:
Spirit Mediumship in Contemporary Vietnam” in Thomas Hylland Eriksen,
Ellen Bal and Oscar Salemink (ed): A word of Insecurity-Anthropological
Perspectives On Human Security, Pluto Press, New York: 262-289.
13. Oscar Salemink (2010), Tìm kiếm an toàn tinh thần trong xã hội Việt Nam
đương đại, trong Hiện đại và động thái của truyền thống ở Việt Nam-Những
cách tiếp cận nhân học, Quyển 2, Nxb. Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh.
14. Roni Factor, Gad Yair, David Mahalel (2010), “Who by Accident? The Social
Morphology of Car Accidents”, Risk Analysis, Vol. 30, No. 9.
15. Roni Factor, David Mahalel, Gad Yair (2007), “The social accident: A
theoretical model and a research agenda for studying the influence of social and
cultural characteristics on motor vehicle accidents,” Accident Analysis &
Prevention, Vol. 39, No. 5.
16. Pippa Norris, Ronald Inglehart (2011), Sacred and Secular Religion and
Politics Worldwide, Cambridge University, (second edition published).
17. Tierney KJ. (1999), “Toward a critical sociology of risk”, Sociological Forum,
14(2): 215-242.
18. Tổng cục Thống kê, “Thông cáo báo chí về tình hình kinh tế- xã hội năm 2015”
19. Trần Ngọc Thêm (2004), Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb. Tổng hợp Tp.
Hồ Chí Minh.
20. Vu Hong Thuat (2008a), “Amulets and the Marketplace”, Asian Ethnology, Vol.
67, No.2: 237-255.
21. Vũ Hồng Thuật (2008b), “Đời sống tâm linh của chiếc ván in bùa trấn trạch”,
trong Sự biến đổi của tôn giáo tín ngưỡng ở Việt Nam hiện nay, Nxb. Thế giới,
Hà Nội.
22. Vu Hong Thuat,“
2012
(Một số đặc điểm văn hóa
bùa chú của người Kinh ở miền Bắc Việt Nam, trong Nghiên cứu Bách Việt, tập
3 (Trương Nhất Bình, Ngô Xuân Minh chủ biên), Nxb. Tế Nam, 2012).
23. World Health Organization, Global Status Report on Road Safety 2013:
Supporting a decade of action, WHO Library Cataloguing-in-Publication Data,
WHO Press, 2013.
44
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 9&10 - 2016
24. World Health Organization, Global Status Report on Road Safety 2015, WHO
Library Cataloguing-in-Publication Data, WHO, 2015.
25. World Health Organization, World Report on Road Traffic in Jury Prevention,
WHO Press, 2004
26.
.:
.
.
2001:86.
(Malinowski, “Văn hóa luận”, Phí Hiếu Thông dịch, Hoa Hạ xuất bản xã, Bắc
Kinh, 2001.
Abstract
SPIRITUALITY AND MAGIC:
SEARCH FOR SPIRITUAL SECURITY IN TRAFFIC
OF CONTEMPORARY VIETNAM
The paper examines spiritual conceptions and practices in the
search for traffic safety of Vietnamese. Based on anthropological
approaches to religion, the author researches magic towards
spirituality in traveling of Vietnamese in the Centre and points out the
search for safety and risk control in the condition of complex traffic.
Then, the author clarifies the purpose and behaviour of religious
activities and magic towards risk and search for spiritual security in
transport in contemporary Vietnam.
Keywords: Insecurity, magic, traffic, spirituality.
Bạn đang xem tài liệu "Tâm linh và ma thuật: Tìm kiếm an ninh tinh thần trong giao thông ở Việt Nam đương đại", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
tam_linh_va_ma_thuat_tim_kiem_an_ninh_tinh_than_trong_giao_t.pdf

