Nghiên cứu đồng trùng hợp ghép Axit Acrylic lên tinh bột sắn dây và tinh bột bình tinh khơi mào bằng (NH₄)₂S₂O₈

ISSN 1859-1531 - TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG, SỐ 3(112).2017-Quyển 1  
115  
NGHIÊN CỨU ĐỒNG TRÙNG HỢP GHÉP AXIT ACRYLIC LÊN TINH BỘT SẮN  
DÂY VÀ TINH BỘT BÌNH TINH KHƠI MÀO BẰNG (NH4)2S2O8  
GRAFT COPOLYMERIZATION OF ACRYLIC ACID ONTO PUERUARIA THOMSONI  
BENTH ROOT STARCH AND ARROWROOT (MARANTA ARUNDIANCAE L.) STARCH  
INITIATED BY (NH4)2S2O8  
Trần Mạnh Lục1, Trần Thị Ngọt2  
1Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng; [email protected]  
2Học viên Cao học K19, Chuyên ngành Hóa Hữu cơ, Đại học Đà Nẵng  
Tóm tắt - Đồng trùng hợp ghép axit acrylic (AA) lên tinh bột sắn  
dây và tinh bột bình tinh trong môi trường nước và trong khí quyển  
nitơ được nghiên cứu với việc sử dụng chất khơi mào  
amonipersulfat (APS). Điều kiện tối ưu của quá trình đồng trùng  
hợp ghép là: thời gian = 60 phút; nhiệt độ 50oC; thể tích H2O 50ml;  
nồng độ dung dịch amonifersulfat = 0,1%; pH = 3; lượng axit  
acrylic/tinh bột = 1,5ml/3,0g; tinh bột sắn đã qua hồ hóa trong thời  
gian 5 phút ở 70oC. Các thông số của quá trình ghép đối với tinh  
bột sắn dây là: hiệu suất ghép (%GY) = 8,90%; hiệu quả ghép  
(%GE) = 18,77% và phần trăm chuyển hóa (%TC) = 91,52%, còn  
đối với tinh bột bình tinh là: hiệu suất ghép (%GY) = 7,34%;  
hiệu quả ghép (%GE) = 14,05% và phần trăm chuyển hóa  
(%TC) = 90,30%. Đặc tính hóa lý của các mẫu tinh bột và của  
copolyme ghép được đánh giá qua ảnh SEM, phổ IR và phổ  
DTA/TG.  
Abstract - Graft copolymerization of acrylic acid (AA) onto  
Pueruaria Thomsoni Benth root starch and arrowroot (Maranta  
arundiancae L.) starch initiated by amonium persulfate (APS) in  
aqueous medium and in nitrogen atmosphere has been studied.  
The optimal conditions for graft copolymerization are: duration 60  
minutes; temperature = 50oC; H2O volume= 50 ml; amonium  
persulfate concentration = 0.1%; pH = 3; rate acrylic acid /starch =  
1,5ml/3,0g; pasted starch for 5 minutes at the temperature of 70oC.  
Optimizing the necessary parameters can attain Pueruaria  
Thomsoni Benth with percentage of graft yield (%GY) of = 8.90%,  
graft efficiency (%GE) = 18.77%; percentage of total convercion  
(%TC) = 91.52%. For starch of Maranta arundiancae L. the  
percentage of graft yield (%GY) is = 7.34%, graft efficiency  
(%GE)is = 14.05% and the percentage of total convercion (%TC)  
is = 90.30%. The chemical and physical characteristics of the  
starchs and of graftcopolymers are shown in the SEM image, IR  
spectrum, and spectrum DTA/TG.  
Từ khóa - đồng trùng hợp ghép; axit acrylic; tinh bột sắn dây; tinh  
bột bình tinh; copolyme ghép.  
Key words - graft copolymerization; acrylic acid; Pueruaria  
Thomsoni Benth root starch; Maranta arundiancae L.) starch; graft  
copolymers.  
1. Đặt vấn đề  
Tinh bột bình tinh: Độ ẩm: max 12,86%; Tro :  
max  
Tinh bột là một polysaccarit rất phổ biến trong tự nhiên, 0,14%; Độ axit: 0,68 ml/100 g mẫu; Tạp chất – xơ: 0,06%;  
là chất dinh dưỡng dự trữ của thực vật, do cây xanh quang  
hợp tạo nên. Tinh bột được thực vật tích trữ trong các mô  
thực vật dưới dạng không hòa tan trong nước ở các bộ phận  
của cây như hạt, củ và quả [1], [5]. Mặc dù có vai trò quan  
trọng trong nhiều lĩnh vực, nhưng ở dạng tự nhiên, tinh bột  
vẫn còn một số nhược điểm làm hạn chế khả năng ứng dụng  
của nó. Đã có nhiều công trình nghiên cứu biến tính tinh  
bột nhằm nâng cao khả năng sử dụng của chúng [2], [3],  
[4], [7], [10], [11]. Trong công trình này, chúng tôi trình  
bày một số kết quả thu được khi nghiên cứu phản ứng đồng  
trùng hợp ghép axit acrylic (AA) lên tinh bột sắn dây và  
tinh bột bình tinh, sử dụng tác nhân khơi mào (NH4)2S2O8  
nhằm tìm ra các điều kiện thích hợp cho quá trình ghép,  
góp phần tạo ra vật liệu với các đặc tính mới từ các loại  
tinh bột này.  
Protein: max 0,22%; Hàm lượng kim loại nặng: không có.  
2.1.2. Hóa chất  
Axit acrylic (Merck), KI (Merck), I2 (Merck),  
hydroquinol (Merck), HgCl2 (Merck), Epiclohydrin (TQ),  
(NH4)2S2O8 (TQ), NaOH (TQ); Na2S2O3 (TQ), khí N2 (Nhà  
máy dưỡng khí Đà Nẵng, Việt Nam).  
2.1.3. Thiết bị  
Ảnh kính hiển vi điện tử quét (SEM) được chụp trên  
máy JSM 6409-JEOL-Japan.  
Phổ hồng ngoại (IR) được ghi trên máy GX-  
PerkinElmer-USA trong vùng 4000 - 600 cm-1.  
Phổ phân tích nhiệt vi phân (DGA/TG) được ghi trên  
máy Shimadzu TGA-50 từ nhiệt độ phòng đến 800oC trong  
khí quyển N2, tốc độ gia nhiệt 10oC/phút.  
2. Thực nghiệm  
2.2. Quá trình đồng trùng hợp ghép  
2.1. Nguyên liệu, hóa chất, thiết bị  
2.1.1. Nguyên liệu  
Quá trình đồng hợp ghép được tiến hành trong bình cầu  
loại 250ml. Cho một lượng tinh bột và một thể tích H2O  
ứng với điều kiện đang khảo sát, nâng nhiệt độ lên 70oC  
(giữ trong 5 phút) để hồ hóa hoàn toàn tinh bột. Sau đó,  
giảm nhiệt độ xuống nhiệt độ phản ứng và giữ không đổi.  
Sục khí N2 vào hỗn hợp phản ứng để đuổi lượng oxy hòa  
tan. Tiếp tục cho (NH4)2S2O8 và axit acrylic vào. Hỗn hợp  
được khuấy đều để các chất phản ứng tiếp xúc tốt. Dừng  
Tinh bột sắn dây và tinh bột bình tinh được cung cấp  
bởi cơ sở chế biến và sản xuất tinh bột tại Kim Môn - Hải  
Dương có các đặc tính hóa lí sau:  
Tinh bột sắn dây: Độ ẩm: max 12,91%; Tro: max  
0,13%; Độ axit: 1,06 ml/100 g mẫu; Tạp chất – xơ: 0,04%;  
Protein: max 0,26%; Hàm lượng kim loại nặng: không có;  
116  
Trần Mạnh Lục, Trần Thị Ngọt  
phản ứng lại bằng cách thêm 1ml hydroquinol 1% và để 2.4. Xác định các thông số đồng trùng hợp ghép  
nguội về nhiệt độ phòng. Hỗn hợp sau phản ứng được rót  
Các thông số đánh giá quá trình đồng hợp ghép bao gồm  
vào 300ml etanol, lọc lấy kết tủa và tiếp tục đem chiết  
hiệu suất ghép GY (%), hiệu quả ghép GE (%) và độ chuyển  
soxhlet với etanol trong 24h để loại bỏ homopolyme ra  
hóa TC (%) được tính theo các công thức (2), (3), (4).  
khỏi sản phẩm ghép. Cuối cùng đem sấy ở 600C đến khối  
Hiệu suất ghép GY (%): là phần trăm khối lượng axit  
lượng không đổi thu được copolyme ghép [2], [7].  
acrylic ghép vào tinh bột so với lượng tinh bột ban đầu.  
2.3. Xác định lượng axit acrylic chưa phản ứng  
m2 − m  
1 .100  
Công thức tính: GY (%) =  
(2)  
2.3.1. Chuẩn bị dung dịch ICl  
m1  
Dung dịch ICl được chuẩn bị theo phương pháp Hip  
(Hubl):  
Hiệu quả ghép GE (%): là phần trăm khối lượng axit  
acrylic được ghép vào tinh bột so với tổng lượng axit  
acrylic đã phản ứng. Công thức tính: GE (%) =  
Phản ứng trong dung dịch phương pháp Hip:  
HgCl2 + I2 → HgICl + ICl  
m2 − m  
m4 − m3  
1 .100  
ICl có màu đỏ thẩm, dưới tác dụng của không khí ẩm  
bị thủy phân tạo ra I2O5 bám trên thành bình.  
(3)  
Độ chuyển hóa TC (%): là phần trăm lượng axit acrylic  
đã phản ứng so với lượng axit acrylic ban đầu. Công thức  
m4 − m  
Phản ứng vào liên kết đôi:  
3 .100  
tính: TC (%) =  
(4)  
ICl  
C
C
+
C
C
m4  
I
Cl  
Trong đó: m1, m2, m3, m4 lần lượt là khối lượng tinh  
bột, khối lượng copolyme ghép, khối lượng axit acrylic dư  
và khối lượng axit acrylic ban đầu.  
2.3.2. Chuẩn bị dung dịch Hip  
Hòa tan 25g I2 trong etanol, 30g HgCl2 trong 500ml  
etanol. Hai dung dịch này 500ml giữ riêng trong 2 bình  
thủy tinh sẫm màu có nút nhám. Trước khi tiến hành thử  
48h trộn lẫn hai dung dịch trên với thể tích bằng nhau,  
trường hợp có lắng phải lọc.  
3. Kết quả và thảo luận  
3.1. Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình ghép.  
3.1.1. Ảnh hưởng của nhiệt độ đến quá trình ghép  
2.3.3. Chuẩn bị dung dịch KI 10%  
Để nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ, phản ứng được  
tiến hành ở các điều kiện: tinh bột: 3g; H2O: 50ml;  
(NH4)2S2O8 0,1%: 2,5ml; AA: 1,5ml; pH = 3; thời gian: 60  
phút; nhiệt độ thay đổi từ 30oC đến 80oC. Kết quả được  
trình bày trong các hình 1 (đối với tinh bột sắn dây) và hình  
2 (đối với tinh bột bình tinh).  
Cân 2g KI trên cân phân tích, cho vào cốc thủy tinh  
150ml, sau đó cho 18ml nước cất khuấy đều, ta được dung  
dịch KI 10%. Dung dịch KI phải trong suốt, không màu,  
nếu có màu hơi vàng thì thêm từng giọt Na2S2O3 0,001N  
cho đến khi mất màu hoàn toàn.  
2.3.4. Phương pháp chuẩn độ nối đôi xác định lượng axit  
acrylic dư  
120  
100  
80  
TC(%)  
Lấy 5ml mẫu (hỗn hợp sản phẩm phản ứng) vào bình  
tam giác 250ml nút nhám có tẩm dung dịch KI, sau đó cho  
vào bình 15ml dung dịch Hip, đậy kín, để trong bóng tối  
khoảng 1 giờ và cứ khoảng 15 phút lắc một lần. Tiếp theo  
cho thêm vào bình 25ml KI 10%, lắc đều và lại để trong  
bóng tối khoảng 10 phút. Sau đó mang ra chuẩn độ với  
Na2S2O3 0,1N đến khi dung dịch không màu thì dừng. Ghi  
thể tích Na2S2O3 đã dùng.  
60  
40  
20  
0
GY(%)  
GE(%)  
30  
40  
50  
60  
70  
80  
Nhiệt độ (o C)  
Hình 1. Ảnh hưởng của nhiệt độ đến quá trình ghép AA lên tinh  
bột sắn dây  
120  
Phản ứng chuẩn độ:  
100  
80  
KI + ICl → KCl + I2  
TC(%)  
60  
40  
20  
0
GY(%)  
GE(%)  
I2 + 2Na2S2O3 → 2NaI + Na2S4O6  
Mẫu trắng không có sản phẩm phản ứng làm tương tự  
như trên. Ghi thể tích Na2S2O3 0,1N đã dùng.  
30  
40  
50  
60  
70  
80  
Nhiệt độ (0 C)  
Khối lượng axit acrylic chưa phản ứng trong 5ml mẫu  
được tính theo công thức (1):  
Hình 2. Ảnh hưởng của nhiệt độ đến quá trình ghép AA lên tinh  
bột bình tinh  
(V0 −V ).N.72  
Về cơ bản, khi nhiệt độ tăng thì tốc độ của các phản ứng  
hóa học tăng theo quy luật mô tả bởi phương trình  
Arrhenius. Trong quá trình ghép, xảy ra sự cạnh tranh để  
có được gốc tự do giữa mạch polyme ghép đang phát triển  
với monome, homopolyme của monome, dung môi và  
những tác nhân khác. Để đặc trưng cho sự cạnh tranh này  
m =  
(1)  
1000.2  
N: nồng độ Na2S2O3.  
V0: thể tích (ml) Na2S2O3 dùng trong mẫu trắng.  
V: thể tích (ml) Na2S2O3 dùng trong mẫu phân tích.  
ISSN 1859-1531 - TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG, SỐ 3(112).2017-Quyển 1  
117  
người ta dùng hằng số chuyển mạch C và được xác định 500C; nồng độ (NH4)2S2O8 thay đổi từ 0,05% đến 0,15%.  
bằng tỷ số: C = kc/kp.  
Kết quả được trình bày trong các hình 5 (đối với tinh bột  
sắn dây) và hình 6 (đối với tinh bột bình tinh).  
kc: hằng số tốc độ của quá trình chuyển mạch.  
kp: hằng số tốc độ của phát triển mạch.  
120  
100  
Quá trình chuyển mạch từ gốc tự do lên polyme ảnh  
hưởng lớn đến hiệu suất ghép. Nó thể hiện ở bản chất của  
chất khơi mào và độ hoạt động của gốc tạo thành.  
80  
TC(%)  
60  
40  
20  
0
GY(%)  
GE(%)  
Khi nhiệt độ tăng thì hiệu suất ghép tăng do năng lượng  
hoạt hóa của phản ứng chuyển mạch cao hơn so với phản  
ứng ngắt mạch. Hiệu suất còn tăng khi tăng tốc độ phản ứng  
phân hủy của chất khơi mào, và giảm nồng độ tác nhân  
chuyển mạch trọng lượng phân tử thấp do có sự cạnh tranh  
gốc tự do với nhau. Trong trường hợp đang xét, hiệu suất  
ghép tăng khi tăng nhiệt độ là do các gốc tự do được tạo  
thành nhiều hơn và năng lượng hoạt hóa của phản ứng  
chuyển mạch cao hơn so với phản ứng ngắt mạch. Đây có  
thể là nguyên nhân chính thúc đẩy quá trình phản ứng làm  
tăng hiệu suất ghép. Tuy nhiên, hiệu suất ghép chỉ tăng đến  
một giới hạn nhất định (50oC) bởi sau đó thì tốc độ phản ứng  
ngắt mạch trở nên ngang bằng với tốc độ phản ứng phát triển  
mạch, dẫn đến hiệu suất ghép tăng không đáng kể.  
0,05  
0,07  
0,1  
0,12  
0,15  
Nồng độ APS (C%)  
Hình 5. Ảnh hưởng của nồng độ APS đến quá trình ghép AA lên  
tinh bột sắn dây.  
120  
100  
80  
TC(%)  
60  
40  
20  
0
GY(%)  
GE(%)  
0,05  
0,07  
0,1  
0,12  
0,15  
Nồng độ APS (C%)  
Hình 6. Ảnh hưởng của nồng độ APS đến quá trình ghép AA lên  
tinh bột bình tinh.  
3.1.2. Ảnh hưởng của thời gian đến quá trình ghép  
Khi tăng nồng độ APS, quá trình tạo gốc tự do trên đại  
phân tử tinh bột tăng làm tăng cường quá trình ghép. Hiệu suất  
ghép giảm khi tiếp tục tăng nồng độ APS trên 0,1% có thể do  
sự giảm sút của bản thân các gốc đại phân tử tinh bột bởi phản  
ứng của chúng với chất khơi mào. Sau quá trình ngắt mạch  
các gốc đại phân tử trên tinh bột, tác nhân khơi mào làm tăng  
sự hình thành homopolyme do lượng monome sẵn có trong hệ  
phản ứng. Điều này được khẳng định bởi kết quả trên đồ thị  
cho thấy ở nồng độ APS lớn hơn 0,1%, mặc dù hiệu suất ghép  
giảm nhưng phần trăm chuyển hóa vẫn tăng.  
Để nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian, phản ứng được  
tiến hành ở các điều kiện: tinh bột: 3g; H2O: 50ml;  
(NH4)2S2O8 0,1%: 2,5ml; AA: 1,5ml; pH = 3; nhiệt độ:  
50oC; thời gian thay đổi từ 30 đến 180 phút. Kết quả được  
trình bày trong các hình 3 (đối với tinh bột sắn dây) và hình  
4 (đối với tinh bột bình tinh).  
120  
100  
TC(%)  
80  
GY(%)  
60  
40  
20  
0
GE(%)  
3.1.4. Ảnh hưởng của lượng dung môi đến quá trình ghép  
Để nghiên cứu ảnh hưởng của lượng dung môi (nước),  
phản ứng được tiến hành ở các điều kiện: tinh bột: 3 g;  
(NH4)2S2O8 0,1%: 2,5 ml; AA: 1,5 ml; pH = 3; thời gian:  
60 phút; nhiệt độ: 50oC; thể tích H2O thay đổi từ 30 đến 70  
ml. Kết quả được trình bày trong các hình 7 (đối với tinh  
bột sắn dây) và hình 8 (đối với tinh bột bình tinh).  
30  
60  
90 120  
Thời gian (phút)  
150  
180  
Hình 3. Ảnh hưởng của thời gian đến quá trình ghép AA lên  
tinh bột sắn dây  
120  
100  
120  
80  
TC(%)  
100  
GY(%)  
GE(%)  
60  
40  
20  
0
80  
TC(%)  
60  
40  
20  
0
GY(%)  
GE(%)  
30  
60  
90  
120  
150  
180  
Thời gian (phút)  
30  
40  
50  
60  
70  
Thể tích nước ( ml  
)
Hình 4. Ảnh hưởng của thời gian đến quá trình ghép AA lên  
tinh bột bình tinh  
Hình 7. Ảnh hưởng của thể tích H2O đến quá trình ghép AA lên  
tinh bột sắn dây  
Thời gian đầu, hiệu suất ghép tăng nhanh theo thời gian  
phản ứng bởi sự gia tăng quá trình phân hủy của chất xúc  
tác, tạo ra nhiều gốc tự do thúc đẩy quá trình phản ứng. Quá  
trình này tiếp tục đến 60 phút và sau đó là sự cạn kiệt của  
các tác nhân tham gia phản ứng nên phản ứng tăng thêm  
không đáng kể.  
120  
100  
80  
TC(%)  
60  
40  
20  
0
GY(%)  
GE(%)  
3.1.3. Ảnh hưởng của nồng độ chất khơi mào (NH4)2S2O8  
đến quá trình ghép  
30  
40  
50  
60  
70  
Thể tích nước (ml)  
Để nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ chất khơi mào,  
phản ứng được tiến hành ở các điều kiện: tinh bột: 3g; H2O:  
50ml; AA: 1,5ml; pH = 3; thời gian: 60 phút; nhiệt độ:  
Hình 8. Ảnh hưởng của thể tích H2O đến quá trình ghép AA lên  
tinh bột bình tinh  
118  
Trần Mạnh Lục, Trần Thị Ngọt  
Khi tăng lượng nước từ 30ml đến 50ml thì hiệu suất ghép cạnh tranh này nồng độ monome cao giúp monome khuếch  
tăng, và khi tăng lượng nước hơn nữa thì lượng nước lại tán tốt hơn vào gốc đại phân tử, hiệu suất ghép tăng.  
giảm. Điều này có thể là do ban đầu khi tăng lượng nước thì  
Quá trình ghép tăng khi tăng nồng độ của monome,  
tạo được môi trường thuận lợi cho phản ứng, làm tăng khả  
nhưng có một giới hạn, vượt quá giới hạn này thì quá trình  
năng linh động, khả năng va chạm với tinh bột, gốc tự do  
ghép không thuận lợi, do quá trình tạo homopolyme tăng.  
trên tinh bột của các chất tham gia phản ứng như monome,  
Khi nồng độ monome quá cao sẽ làm tăng vận tốc phản  
chất khơi mào, do vậy tăng hiệu suất ghép. Còn khi tăng  
ứng chuyển mạch sang monome, tạo homopolyme làm cản  
lượng nước lên quá 50ml thì làm loãng hỗn hợp phản ứng,  
trở sự khuếch tán của monome lên bề mặt tinh bột.  
giảm khả năng va chạm dẫn đến giảm hiệu suất ghép.  
3.1.6. Ảnh hưởng của pH đến quá trình ghép  
3.1.5. Ảnh hưởng của lượng monome đến quá trình ghép  
Để nghiên cứu ảnh hưởng của độ axit, phản ứng được  
Để nghiên cứu ảnh hưởng của tỷ lệ tinh bột/AA, phản  
tiến hành ở các điều kiện: tinh bột: 3g; H2O: 50ml;  
ứng được tiến hành ở các điều kiện: tinh bột: 3g; H2O:  
(NH4)2S2O8 0,1%: 2,5ml; AA: 1,5ml; thời gian: 60 phút;  
nhiệt độ: 50oC; pH thay đổi từ 1 đến 6. Kết quả được trình  
bày trong các hình 11 (đối với tinh bột sắn dây) và hình 12  
(đối với tinh bột bình tinh).  
50ml; (NH4)2S2O8 0,1%: 2,5ml; pH = 3; thời gian: 60 phút;  
nhiệt độ: 50oC; lượng AA thay đổi từ 1,0 đến 3,0ml. Kết  
quả được trình bày trong các hình 9 (đối với tinh bột sắn  
dây) và hình 10 (đối với tinh bột bình tinh).  
120  
120  
100  
100  
80  
TC(%)  
80  
60  
40  
20  
0
GY(%)  
GE(%)  
TC(%)  
60  
40  
20  
0
GY(%)  
GE(%)  
1
2
3
4
5
6
pH  
1
1,5  
2
2,5  
3
Lượng AA (ml)  
Hình 11. Ảnh hưởng của pH đến quá trình ghép AA lên tinh bột  
sắn dây  
Hình 9. Ảnh hưởng của lượng AA đến quá trình ghép AA lên  
tinh bột sắn dây  
120  
100  
120  
80  
TC (%)  
100  
60  
40  
20  
0
GY (%)  
GE (%)  
80  
TC(%)  
60  
40  
20  
0
GY(%)  
GE(%)  
1
2
3
4
5
6
pH  
Hình 12. Ảnh hưởng của pH đến quá trình ghép AA lên tinh bột  
1
1,5  
2
2,5  
3
Lượng AA ( ml )  
bình tinh  
Quá trình đồng trùng hợp ghép các vinyl monome lên  
các vật liệu polysaccarit phụ thuộc rất lớn vào pH của môi  
trường phản ứng. Ảnh hưởng này không chỉ phụ thuộc  
nồng độ axit mà còn phụ thuộc bản chất của axit được sử  
dụng. Tùy thuộc vào bản chất của chất khơi mào, monome  
mà pH làm tăng hoặc giảm quá trình ghép. Ngoài ra, bản  
chất axit ảnh hưởng rất lớn đến quá trình ghép. Các axit có  
tính oxy hóa mạnh có thể làm giảm quá trình ghép bởi  
chúng có thể oxy hóa chất khơi mào, biến chất khơi mào  
thành chất khác và không còn vai trò khơi mào cho phản  
ứng ghép.  
Hình 10. Ảnh hưởng của lượng AA đến quá trình ghép AA lên  
tinh bột bình tinh  
Qua kết quả ở hình 9 và hình 10 cho thấy hiệu suất ghép  
tăng khi tăng tỷ lệ tinh bột/AA đến 2, sau đó lại giảm. Quá  
trình khơi mào đồng trùng hợp ghép liên quan đến sự tương  
tác giữa chất khơi mào, tinh bột và monome. Hiệu quả của  
quá trình này phụ thuộc vào nồng độ của monome có mặt  
trong hệ, khi nồng độ monome càng lớn thì sự tạo phức  
càng thuận lợi, hiệu suất ghép tăng. Khi đánh giá ảnh  
hưởng của nồng độ monome tới quá trình ghép thì có thể  
thông qua hiệu ứng gel, xuất hiện do độ tan của polyme  
đồng nhất trong bản thân monome. Đóng góp của hiệu ứng  
này sẽ là, khi nồng độ monome cao hơn rõ rệt, kết quả là  
tốc độ ngắt mạch sẽ giảm. Mặt khác, hiệu ứng gel giúp làm  
trương tinh bột, thuận lợi cho quá trình khuếch tán của  
monome vào các trung tâm hoạt động trên bộ khung tinh  
bột, hiệu suất ghép tăng.  
Các kết quả thu được ở các hình 11 và hình 12 cho thấy  
hiệu suất ghép tăng khi tăng pH và đạt cực đại tại pH = 3,  
sau đó giảm khi tiếp tục tăng pH. Điều này là do pH thấp,  
quá trình tạo gốc đại phân tử tinh bột tăng do đó làm tăng  
hiệu suất ghép. Khi pH cao hơn làm giảm số lượng gốc tự  
do hydroxyl nên phản ứng đồng trùng ghép diễn ra khó  
khăn hơn. Khi pH quá thấp thì ion S2O82- bền nên phản ứng  
tạo gốc tự do hydroxyl khó xảy ra hơn, do đó hiệu suất ghép  
cũng không cao.  
Tại một số điều kiện nhất định, trong hệ xuất hiện chất  
“bắt gốc”. Chất này bắt gốc đại phân tử được hình thành trên  
bộ khung tinh bột gây ức chế quá trình ghép. Trong trường  
hợp đó, quá trình ghép sẽ được xác định nhờ sự cạnh tranh  
giữa sự tiếp cận của chất bắt gốc và monome với các trung  
tâm gốc tự do của bộ khung. Về bản chất, trong quá trình  
3.1.7. Ảnh hưởng trạng thái ban đầu của tinh bột đến quá  
trình ghép  
Để nghiên cứu ảnh hưởng của trạng thái ban đầu, phản  
ISSN 1859-1531 - TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG, SỐ 3(112).2017-Quyển 1  
119  
ứng được tiến hành ở các điều kiện: tinh bột: 3g; H2O: 3.2. Đặc tính hóa lý của tinh bột và của copolyme ghép  
50ml; (NH4)2S2O8 0,1%: 2,5ml; AA: 1,5ml; pH = 3; thời  
Một số đặc tính hóa lý của các mẫu tinh bột ban đầu và  
gian: 60 phút; nhiệt độ: 50oC; thực hiện phản ứng với tinh  
của copolyme ghép được đánh giá bằng cách chụp ảnh  
bột hồ hóa và tinh bột không hồ hóa. Kết quả được trình  
SEM, ghi phổ IR và phổ DTA/TG.  
bày trong các hình 13 (đối với tinh bột sắn dây) và hình 14  
3.2.1. Ảnh SEM của tinh bột và của copolyme ghép  
(đối với tinh bột bình tinh).  
Hình thái học bề mặt của các mẫu tinh bột và của  
120  
copolyme ghép được quan sát bằng cách chụp ảnh SEM.  
100  
Kết quả được thể hiện trên các hình 15 và hình 16.  
80  
Hồ hóa  
60  
Không hồ hóa  
40  
20  
0
TC(%)  
GY(%)  
GE(%)  
Hình 13. Ảnh hưởng của trạng thái ban đầu của tinh bột đến  
quá trình ghép AA lên tinh bột sắn dây  
120  
100  
80  
Hình 15. Ảnh SEM của tinh bột sắn dây ban đầu và của sản  
phẩm ghép AA lên tinh bột sắn dây  
Hồ hóa  
60  
Không hồ hóa  
40  
20  
0
TC(%)  
GY(%)  
GE(%)  
Hình 14. Ảnh hưởng của trạng thái tinh bột đến quá trình ghép  
AA lên tinh bột bình tinh  
Qua kết quả ở hình 13 và hình 14 cho thấy, trong hai  
trường hợp tiến hành phản ứng đồng trùng hợp ghép thì với  
tinh bột hồ hóa cho hiệu suất ghép cao hơn. Khi hồ hóa, các  
liên kết hydro giữa các phân tử amylozơ và amylopectin bị  
phá vỡ, tạo điều kiện tốt cho các phân tử monome tiếp xúc  
tốt hơn với các phân tử này, còn trong trường hợp không  
hồ hóa thì các phân tử monome chỉ tiếp xúc trên bề mặt hạt  
tinh bột, diện tích tiếp xúc nhỏ hơn nhiều. Hơn nữa, lúc này  
hệ trở thành hệ dị thể, nên tiếp xúc giữa các pha không tốt  
bằng hệ đồng thể như trong trường hợp có hồ hóa nên hiệu  
suất ghép giảm.  
Hình 16. Ảnh SEM của tinh bột bình tinh ban đầu và sản phẩm  
ghép AA lên tinh bột bình tinh  
Tinh bột dự trữ trong cây dưới dạng hạt. Phụ thuộc vào  
loại cây trồng, điều kiện canh tác, quá trình sinh trưởng của  
cây mà hạt tinh bột thu được có hình dáng, kích thước và  
cấu tạo khác nhau. Hạt tinh bột có dạng hình tròn, hình bầu  
dục hay hình đa giác. Cùng một hệ thống tinh bột, hình  
dáng và kích thước của tất cả các hạt cũng không phải  
giống nhau. Kích thước khác nhau ứng với các loại hạt  
khác nhau ngay trên cả một loại hạt [1]. Kích thước các hạt  
khác nhau cũng sẽ dẫn đến những tính chất cơ lý khác nhau  
như: nhiệt độ hồ hóa, khả năng hấp thụ xanh metylen.  
Tóm lại: Các điều kiện thích hợp cho quá trình ghép đối  
với cả hai loại tinh bột sắn dây và tinh bột bình tinh có sự  
tương đồng nhau, cụ thể là: tinh bột = 3g; AA = 1,5ml, thể  
tích H2O = 50ml; tinh bột đã được hồ hóa (70oC trong 5  
phút) trước khi ghép; nồng độ (NH4)2S2O8 = 0,1%; pH = 3;  
thời gian = 60 phút; nhiệt độ = 500C.  
Sự khác nhau về hình dạng và kích thước hạt tinh bột  
sắn dây (hình 15) và hạt tinh bột bình tinh (hình 16) cho  
thấy hạt tinh bột sắn dây có kích thước nhỏ hơn (2 - 10µm),  
bề mặt hạt lồi lõm và dễ vỡ, trong khi đó các hạt tinh bột  
bình tinh có kích thước lớn hơn (15 - 30µm), bề mặt trơn  
láng và hầu như không bị vỡ, mẻ. Điều này được giải thích  
bởi trong thành phần của tinh bột bình tinh có hàm lượng  
amylozơ cao (tức là số mạch thẳng nhiều) nên có khả năng  
tạo sợi tạo màng bao tốt hơn so với tinh bột sắn dây. Tỉ lệ  
amylozơ cao nên có khả năng liên kết chặt chẽ với nhau  
bên trong cấu trúc hạt. Hơn nữa amylozơ sắp xếp thành  
chùm song song được định hướng chặt chẽ hơn  
amylopectin nên các hạt ít bị phá vỡ, đồng thời điều này  
cũng làm cho nhiệt độ hồ hóa của tinh bột bình tinh cao  
hơn của tinh bột sắn dây.  
Các thông số của quá trình ghép khi tiến hành phản ứng  
ở các điều kiện vừa nêu được trình bày trên bảng 1.  
Bảng 1. Các thông số đánh giá quá trình ghép axit acrylic lên  
tinh bột sắn dây và tinh bột bình tinh  
Thông số ghép  
GE (%)  
Tinh bột sắn dây Tinh bột bình tinh  
18,77%  
8,90%  
14,05%  
7,34%  
GY (%)  
TC (%)  
91,52%  
90,23%  
Quá trình đồng trùng hợp ghép axit acrylic lên tinh bột  
Ảnh SEM của tinh bột sau khi ghép là một khối hình  
sắn dây cho kết quả tốt hơn tinh bột bình tinh, điều này thái cấu trúc, khác hẳn với tinh bột lúc ban đầu là những  
được quyết định chủ yếu bởi sự khác biệt về thành phần (tỷ hạt rời rạc, chứng tỏ trong sản phẩm ghép tồn tại các liên  
lệ amylozơ và amylopectin) và hình thái cấu trúc hạt giữa kết ngang giữa các phân tử, làm tăng độ trùng hợp và tạo  
hai loại tinh bột này.  
ra cấu trúc bề mặt lồi lõm, cấu trúc mao quản [2], [10].  
120  
Trần Mạnh Lục, Trần Thị Ngọt  
3.2.2. Phổ IR của tinh bột và của copolyme ghép  
Phổ IR của tinh bột và của copolyme ghép được thể  
hiện trên các hình 17 và hình 18.  
BO MON HOA VAT LIEU-KHOA HOA-TRUONG DHKHTN  
BO MON HOA VAT LIEU-KHOA HOA-TRUONG DHKHTN  
Ten may: GX-PerkinElmer-USA  
Resolution: 4cm-1  
Date: 4/28/2011  
Nguoi do: Phan Thi Tuyet Mai DT:01684097382  
TTNGOT-M SAN DAY BAN DAU  
Ten may: GX-PerkinElmer-USA  
Date: 4/28/2011  
Nguoi do: Phan Thi Tuyet Mai DT:01684097382  
TTNGOT-BINH TINH DONG TRUNG-GHEP ACRYLIC.sp  
Resolution: 4cm-1  
0.600  
0.55  
0.50  
0.45  
0.40  
0.35  
0.30  
0.25  
0.20  
0.15  
0.10  
0.05  
0.000  
0.600  
0.55  
0.50  
0.45  
0.40  
0.35  
0.30  
0.25  
0.20  
0.15  
0.10  
0.05  
0.000  
1017  
3439  
1079  
3353  
1154  
A
A
2922  
1022  
1110  
1641  
Hình 20. Phổ phân tích nhiệt vi sai của tinh bột bình tinh ban  
đầu và của sản phẩm ghép AA lên tinh bột bình tinh  
1389  
2927  
1360  
1260  
1648  
720  
765  
4000.0  
3600  
3200  
2800  
2400  
2000  
1800  
cm-1  
1600  
1400  
1200  
1000  
800  
600.0  
4000.0  
3600  
3200  
2800  
2400  
2000  
1800  
cm-1  
1600  
1400  
1200  
1000  
800  
600.0  
Trên phổ DTA/TG của tinh bột sắn dây ngoài hiệu ứng  
mất nước hấp phụ tại 143,3oC (độ giảm khối lượng  
12,15%) còn có hiệu ứng phân hủy cấu trúc tinh bột tại  
vùng 283,4oC (độ giảm khối lượng 68,94%). Trên phổ  
DTA/TG của tinh bột sắn dây ghép axit acrylic, hiệu ứng  
mất nước hấp phụ chuyển dịch lên 145,6oC (độ giảm khối  
lượng chỉ còn 6,87%); hiệu ứng phân hủy cấu trúc tinh bột  
tại vùng 291,0oC (độ giảm khối lượng 41,35%); hiệu ứng  
tại vùng 405,0oC (độ giảm khối lượng 17,17%) có thể là sự  
phân hủy cấu trúc của copolyme ghép.  
Hình 17. Phổ IR của tinh bột sắn dây ban đầu và của sản phẩm  
ghép AA lên tinh bột sắn dây  
BO MON HOA VAT LIEU-KHOA HOA-TRUONG DHKHT  
N
BO MON HOA VAT LIEU-KHOA HOA-TRUONG DHKHT  
N
T
en may: GX-PerkinElmer-USA  
Nguoi do: Phan  
T
hi  
T
uyet Mai DT:01684097382  
T
en may: GX-PerkinElmer-USA  
Nguoi do: Phan  
T
hi  
T
uyet Mai DT:01684097382  
RUNG.sp  
Resolution: 4cm-1  
Date: 4/28/2011  
T
T
NGOT-BINH  
T
INHBAN DAU.sp  
Resolution: 4cm-1  
Date: 4/28/2011  
T
T
NGOT-BINH  
T
INHDONG  
T
0.700  
0.65  
0.60  
0.55  
0.50  
0.45  
0.40  
0.35  
0.30  
0.25  
0.20  
0.15  
0.10  
0.05  
0.000  
0.700  
0.65  
0.60  
0.55  
0.50  
991  
3445  
1651  
0.45  
0.40  
0.35  
1163  
1557  
1127  
3735  
1389  
A
A
3301  
1003  
3563  
0.30  
0.25  
3854  
2925  
1255  
1
4
4
4
1
3
6
4
893  
2929  
722  
0.20  
0.15  
1660  
765  
0.10  
0.05  
0.000  
4000.0  
3600  
3200  
2800  
2400  
2000  
1800  
cm-1  
1600  
1400  
1200  
1000  
800  
600.0  
4000.0  
3600  
3200  
2800  
2400  
2000  
1800  
cm-1  
1600  
1400  
1200  
1000  
800  
600.0  
Hình 18. Phổ IR của tinh bột bình tinh ban đầu của sản phẩm  
ghép AA lên tinh bột bình tinh  
Trên phổ DTA/TG của tinh bột bình tinh có hiệu ứng  
mất nước hấp phụ tại 135,0oC (độ giảm khối lượng  
12,12%), hiệu ứng phân hủy cấu trúc tinh bột tại vùng  
261,0oC – 288,3oC (độ giảm khối lượng 42,87%). Trên phổ  
DTA/TG của tinh bột bình tinh ghép axit acrylic, hiệu ứng  
mất nước hấp phụ ở vùng 135oC; hiệu ứng phân hủy cấu  
trúc tinh bột thu gọn lại tại vùng 254,0oC - 276,0oC (độ  
giảm khối lượng 73,63%); ngoài ra, ta còn có thêm hiệu  
ứng về sự phân hủy cấu trúc của copolyme ghép tại vùng  
trên 400,0oC với cường độ yếu.  
Trên các phổ IR ta thấy xuất hiện các pic đặc trưng cho  
các nhóm chức trong tinh bột, chẳng hạn như: pic vùng 3120  
- 3353cm-1 ứng với dao động hóa trị của nhóm OH trong  
CH2-OH; pic 2927cm-1 ứng với dao động hóa trị của liên  
kết C-H trong CH-OH; các pic ở 1360cm-1 và 1364cm-1  
ứng với dao động hóa trị của liên kết C-C của vòng benzen;  
các pic 1022cm-1 - 1163cm-1 ứng với dao động hóa trị của  
liên kết C-OH; pic 1017cm-1 ứng với C-C ht); pic ở  
991cm-1 ứng với dao động biến dạng của liên kết C-H và  
pic 765cm-1 dao động biến dạng của liên kết C-H của vòng  
benzen. Ta thấy vùng pic đặc trưng cho dao động hóa trị  
ứng với OH trong CH2-OH của tinh bột dịch chuyển về tần  
số thấp và tù hơn so với OH tự do, là do giữa các nhóm OH  
trong tinh bột có liên kết hydro liên phân tử [6], [9].  
4. Kết luận  
Đã tiến hành nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quá  
trình đồng trùng hợp ghép axit acrylic lên tinh bột sắn dây  
và tinh bột bình tinh trong môi trường nước và trong khí  
quyển nitơ với việc sử dụng tác nhân khơi mào  
amonipersulfat. Điều kiện thích hợp cho quá trình đồng  
trùng hợp ghép đối với cả hai loại tinh bột sắn dây và bình  
tinh là: tinh bột = 3g; AA = 1,5ml, thể tích H2O = 50ml;  
tinh bột đã được hồ hóa (70oC trong trong 5 phút) trước khi  
ghép; nồng độ (NH4)2S2O8 = 0,1%; pH = 3; thời gian = 60  
phút; nhiệt độ = 50oC.  
Về cơ bản, phổ hồng ngoại của tinh bột trước và sau khi  
ghép không khác nhau nhiều. Tuy nhiên trên phổ hồng  
ngoại của tinh bột sau khi ghép xuất hiện một pic nhỏ có  
tần số khoảng 1641cm-1 (tinh bột sắn dây) và 1651cm-1  
(tinh bột bình tinh) là đặc trưng cho dao động hóa trị của  
nhóm C=O trong axit acrylic. Điều đó chứng tỏ có tồn tại  
sản phẩm ghép.  
Các thông số của quá trình ghép đối với tinh bột sắn  
dây là: hiệu suất ghép (%GY) = 8,90%; hiệu quả ghép  
(%GE) = 18,77%; phần trăm chuyển hóa (%TC) = 91,52%.  
Các thông số của quá trình ghép đối với tinh bột bình tinh  
là: hiệu suất ghép (%GY) = 7,34%; hiệu quả ghép (%GE)  
= 14,05%; phần trăm chuyển hóa (%TC) = 90,30%.  
3.2.3. Phổ DTA/TG của tinh bột và của copolyme ghép  
Phổ TGA/TG của các mẫu được ghi từ nhiệt độ phòng  
đến 8000C trong khí quyển N2, tốc độ gia nhiệt 10oC/phút.  
Kết quả được trình bày trong các hình 19 (tinh bột sắn dây  
và copolyme ghép với axit acrylic) và hình 20 (tinh bột  
bình tinh và copolyme ghép với axit acrylic).  
Đặc tính hóa lý của các mẫu tinh bột và của copolyme  
ghép được đánh giá qua ảnh SEM, phổ IR và phổ DTA/TG.  
Tuy có sự khác biệt nhưng không lớn giữa quá trình đồng  
trùng hợp ghép axit acrylic lên tinh bột sắn dây và tinh bột  
bình tinh.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Lê Ngọc Tú, Lưu Duẩn, Đặng Thị Thu, Lê Thị Cúc, Lâm Xuân  
Thanh và Phạm Thu Thủy, Biến hình sinh học: các sản phẩm từ hạt,  
Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, 2000.  
Hình 19. Phân tích nhiệt vi sai của tinh bột sắn dây ban đầu và  
sản phẩm ghép AA lên tinh bột sắn dây  
[2] Nguyễn Thanh Tùng, Nguyễn Văn Khôi, Nguyễn Trung Đức, Đỗ  
Công Hoan, “Tổng hợp polyme siêu hấp phụ nước trên cơ sở một số  
copolyme ghép tinh bột”, Tạp chí Hóa học, 49(2), 177-180 (2011).  
ISSN 1859-1531 - TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG, SỐ 3(112).2017-Quyển 1  
121  
[3] B.N. Vedhs Hari, T. Praneetha, T. Prathyusha, K. Mounika, D.  
Ramya Devi, “Development of starch gelatin complex  
polyacrylic acid hydrogels”, Nuclear Science and techniques, 18(2),  
82-85 (2007).  
–
microspheres as sustained release delivery system”, Journal of  
Advanced Pharmaceutical Technology &Research, 3(3), (2012).  
[8] Jaspreet Singh, Lovedeep Kaur and O.J. McCarthy, “Factors  
influencing the physic-chemical, morphological, thermal and  
rheological properties of some chemically modified starches for  
food application – A review”, Food Hydrocoloids, 2007, 21: 1 – 22.  
[4] Boonwatcharapan Y, Srisuk P, Palladino P, Sutthiparinyanont S,  
Chitropas P, “Preparation and evaluation of alcohol-alkaline-treated  
rice starch as a tablet disintegrant, Trop J Pharm Res, 15(2), 221-  
229 (2016).  
[9] Jose mina, Alex valadez-gonzalez, Pedro Herreza-Franko, Fabio  
Zuluaga, Silvio Delvasto, “Physicochemical characterization of  
natural and acetylated thermoplastic cassava sarch”, Dyna  
rev.fac.nac.minas, 78(166), (2011).  
[5] Cui S. W., S. V. Xie and Q. Liu, Chapter 8. Starch Modoffication  
and application, Food carbohydrate: Chemistry, physical, properties  
and application, CRC Press, 2005.  
[10] Seung Hyun Koo, Kwang Yeon Lee and Hyeon Gyu Lee, “Effect of  
cross - linking on the physcochemical and physiological properties  
of corn starch”, Food Hydrocolloid, 2010, 24: 619 – 625.  
[6] Kizil R., Irudayaraj J., Seetharaman K, “Characterization of  
irradiated starches by using FT-Raman and FTIR spectroscopy”, J  
Agric Food Chem 50(3): 3912-3918 (2002).  
[11] Woo. K. S. and P. A. Seib, “Cross - linked resistant starch:  
[7] Yang Mingcheng, “Radiation synthesis and characteration of  
Preparation and properties”, Cereal Chemistry, 2002, 79: 819 - 825.  
(BBT nhận bài: 03/03/2017, hoàn tất thủ tục phản biện: 28/03/2017)  
pdf 7 trang Mãnh Khiết 13/01/2024 23420 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu đồng trùng hợp ghép Axit Acrylic lên tinh bột sắn dây và tinh bột bình tinh khơi mào bằng (NH₄)₂S₂O₈", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_dong_trung_hop_ghep_axit_acrylic_len_tinh_bot_san.pdf