Ứng dụng phương pháp điện di mao quản trong kiểm soát chất lượng thực phẩm bổ sung Amino Axit mạch nhánh

Khoa học Kỹ thuật và Công nghệ  
Ứng dꢀng phương pháp điện di mao quản  
trong kiểm soát chất lưꢁng  
thực phẩm bổ sung amino axit mạch nhánh  
Nguyễn Thanh Đàm, Vũ Minh Tuấn, Nguyễn Mạnh Huy,  
Dương Hồng Anh, Phạm Hùng Việt*  
Phòng thí nghiệm trọng điꢀm về Công nghệ phân tích phꢁc vꢁ Kiꢀm đꢂnh môi trường và An toàn thực phẩm,  
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội  
Ngày nhận bài 28/6/2018; ngày chuyển phản biện 3/7/2018; ngày nhận phản biện 30/7/2018; ngày chấp nhận đăng 6/8/2018  
Tóm tắt:  
Các amino axit mạch nhánh (BCAA) gồm L-valine (Val), L-leucine (Leu) và L-isoleucine (Ile) là những amino axit  
thiết yếu, đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển cơ bắp nên thường đưꢁc bổ sung trong các loại thực phẩm  
dùng cho vận động viên, người tập thể hình. Nghiên cứu này trình bày việc ứng dꢀng phương pháp điện di mao  
quản sꢂ dꢀng detector đo độ dẫn không tiếp xúc (CE-C4D) kết hꢁp với thiết kế thí nghiệm theo phương pháp mặt  
mꢀc tiêu sꢂ dꢀng mô hình lặp tâm (RSM-CCD) nhằm tối ưu hóa quy trình phân tích các BCAA trong thực phẩm  
bổ sung. Các điều kiện tối ưu đưꢁc xác định bao gồm dung dịch điện ly nền (BGE) là dung dịch axit citric 1,11M, bổ  
sung polyethylene glycol (PEG) 2,32%, điện thế tách -16,9 kV và thời gian bơm mẫu 45 giây. Quá trình thẩm định  
quy trình đưꢁc thực hiện thông qua việc xác định một loạt các thông số về giới hạn phát hiện (LOD), giới hạn định  
lưꢁng (LOQ), hệ số tương quan đường chuẩn (R2), độ đúng và độ chꢀm. Quy trình sau đó đã đưꢁc áp dꢀng để phân  
tích 4 mẫu thật, kết quả cho thấy sự phù hꢁp tương đối tốt giữa hàm lưꢁng BCAA đo đưꢁc bằng CE-C4D với thông  
tin đưa ra từ nhà sản xuất.  
Từ khóa: amino axit mạch nhánh, dinh dưỡng thể chất, điện di mao quản, kế hoạch hóa thực nghiệm.  
Chỉ số phân loại: 2.4  
mặt hàng này. Việc xác minh hàng giả, hàng nhái, ngoài  
các biện pháp quản lý còn có thể được thực hiện thông  
qua xác định hàm lượng của các thành phần chính trong  
(Val), L-leucine (Leu) và L-isoleucine (Ile) là các amino  
sản phẩm (như hàm lượng của Val, Leu và Ile). Tuy vậy,  
axit thiết yếu của cơ thể, thường được sử dụng nhiều trong  
hiện nay trong nước chưa có các công bố về xác định hàm  
sản xuất dược phẩm [1]. Trong lĩnh vực thực phẩm, các  
lượng các BCAA trong thực phẩm.  
Đꢀt vꢁn đꢂ  
Các amino axit mạch nhánh (BCAA) bao gồm L-valine  
BCAA được sử dụng rộng rãi trong đồ uống thể thao và  
Trên thế giới đã có một số nghiên cứu xác định hàm  
lượng của các amino axit trong thực phẩm nói chung và  
thực phẩm bổ sung nói riêng. Omar và cộng sự (2017)  
đã dùng thiết bị điện di mao quản (CE) kết hợp detector  
UV (CE-UV) để xác định 6 amino axit tự do (alanine,  
asparagine, glutamine, proline, serine và valine) trong  
thực phẩm với khoảng tuyến tính 2,5-40 mg/l [3]. Shigeki  
Akamatsu và cộng sự (2013) đã phân tích đồng thời  
16 amino axit tự do (bao gồm valine, tổng leucine và  
isoleucine) trong thực phẩm chức năng sữa ong chúa với  
thực phẩm dinh dưỡng, bao gồm thực phẩm bổ sung dùng  
cho các vận động viên [2]. Trong thời gian gần đây, tại  
nước ta, xu hướng tập thể hình nhằm nâng cao sức khoẻ  
và cải thiện vóc dáng đang rất phát triển, đặc biệt là trong  
giới trẻ. Với những lợi ích trong việc duy trì và xây dựng  
cơ bắp, các loại thực phẩm bổ sung BCAA cũng rất được  
ưu chuộng bởi những người tập thể hình. Rất nhiều sản  
phẩm bổ sung BCAA có mặt trên thị trường, bao gồm  
dạng viên nén, viên nang, dạng bột… Cùng với sự phát  
triển của thị trường tiêu thụ, các loại hàng giả, hàng nhái  
cũng bắt đầu xuất hiện. Bên cạnh đó, năng lực của người LOD từ 0,61-10,5 µg/g bằng CE ghép nối khối phổ (CE-  
tiêu dùng trong nước chưa thật sự cao, công tác quản lý thị MS) [4]. Dazhong Shen và cộng sự (2013) đã sử dụng CE  
trường chưa thật sự tốt. Thực trạng này đặt ra yêu cầu cần kết hợp detector độ dẫn không tiếp xúc cộng hưởng vi  
thiết phải có các biện pháp nhằm kiểm soát chất lượng của phân (CE-DRC4D) để phân tích 10 amino axit (bao gồm  
*Tác giả liên hệ: Email: [email protected]  
60(10) 10.2018  
34  
Khoa học Kỹ thuật và Công nghệ  
valine và leucine) với LOD từ 0,1-0,4 µM [5]. Trong các  
nghiên cứu trên, chỉ nghiên cứu của Akamatsu bao gồm cả  
3 amino axit mạch ngắn, trong đó không phân biệt leucine  
và isoleucine, kết quả đưa ra dưới dạng hàm lượng tổng  
của 2 amino axit này. Để tách biệt leucine và isoleucine,  
Ting Wang và cộng sự (2015) đã thực hiện dẫn xuất hoá  
bằng n-propyl clorofomat sử dụng phương pháp sắc ký  
lỏng hiệu năng cao ghép nối khối phổ 2 lần (HPLC-MS/  
MS) [6]. Đây là biện pháp tốn kém và khó thực hiện, yêu  
cầu trang thiết bị đắt tiền cũng như kỹ thuật cao.  
Application of capillary  
electrophoresis in quality  
control of branched-chain  
amino acid supplements  
Thanh Dam Nguyen, Minh Tuan Vu,  
Manh Huy Nguyen, Hong Anh Duong, Hung Viet Pham*  
Bên cạnh các phương pháp sắc ký truyền thống vốn  
có chi phí cao, CE với các ưu điểm như “xanh” hơn (ít sử  
dụng các dung môi hữu cơ độc hại), chi phí thấp hơn là  
một phương pháp nhiều tiềm năng trong phân tích thực  
phẩm nói chung và kiểm soát chất lượng thực phẩm bổ  
sung BCAA nói riêng. Ứng dụng CE trong phân tích hàm  
lượng các BCAA, thông qua đó kiểm soát chất lượng mặt  
hàng thực phẩm bổ sung BCAA là một hướng đi mới, thiết  
thực và khả thi. Bài báo này trình bày những kết quả đạt  
được khi sử dụng CE-C4D kết hợp với kế hoạch hóa thực  
nghiệm theo phương pháp mặt mục tiêu sử dụng mô hình  
lặp tâm (RSM-CCD) để phát triển quy trình phân tích  
kiểm định hàm lượng BCAA trong thực phẩm bổ sung.  
VNU Key Laboratory of Analytical Technology for Environmental  
Quality and Food Safety Control (KLATEFOS), VNU University of  
Science, Vietnam National University (VNU), Hanoi  
Received 28 June 2018; accepted 6 August 2018  
Abstract:  
Branched-chain amino acids (BCAAs) including  
L-valine (Val), L-leucine (Leu) and L-isoleucine (Ile)  
are essential amino acids, which play an important  
role in muscle development, and are often added in  
food for athletes or bodybuilders. This study presents  
the application of capillary electrophoresis using a  
contactless conductivity detector (CE-C4D) combined  
with the experimental design using the response surface  
methodology with central composite design (RSM-CCD)  
to optimize the analytical process of BCAAs in food  
supplements. The optimum conditions to be determined  
include the background electrolyte (BGE) as 1.11M  
citric acid solution added with 2.32% of PEG (m/v),  
-16.9 kV of applied voltage, and 45 seconds of injection  
time. Method validation is performed by defining limit of  
detection (LOD), limit of quantitation (LOQ), linearity  
(R2), trueness, and precision. The procedure was used to  
analyse four of real samples, which showed a quite good  
fit between the BCAAs content measured with CE-C4D  
and the information provided by the manufacturers.  
Vật liệu và phương pháp nghiên cứu  
Hóa chất  
Tất cả các hóa chất sử dụng trong nghiên cứu đều có  
độ tinh khiết phân tích và được đặt mua từ Sigma-Aldrich,  
Đức hoặc Tokyo Chemiscal Industry, Nhật Bản, ngoại trừ  
axit lactic (Lac) từ Guangdong, Trung Quốc. Dung dịch  
chuẩn gốc riêng lẻ nồng độ 1000 mg/l của L-Valine (Val),  
L-Leucine (Leu) và L-Isoleucine (Ile) được sử dụng để  
pha chế các dung dịch chuẩn hỗn hợp các chất phân tích.  
Các hóa chất được sử dụng để chuẩn bị các dung dịch điện  
ly nền (BGE) bao gồm: axit acetic, axit lactic, axit citric,  
axit succinic và polyethylene glycol (PEG) 10000.  
Keywords: branched-chain amino acids, capillary  
electrophoresis, design of experiments, physical  
nutrition.  
Thiết bị  
Hệ điện di mao quản một kênh vận hành bằng tay được  
sử dụng trong tất cả các thí nghiệm. Thiết bị này bao gồm  
một nguồn cao thế ±30 kV (Spellman, Anh), bộ ghi dữ liệu  
e-corder (eDAQ, Úc) và detector C4D (eDAQ, Úc). Mao  
quản sử dụng trên thiết bị là mao quản silica nóng chảy  
(BGB Analytik AG, Switzerland) có đường kính trong 25  
µm, chiều dài tổng 60 cm và chiều dài hiệu dụng là 49  
cm. Trước khi sử dụng lần đầu hoặc khi có sự thay đổi  
về BGE, mao quản được xử lý bằng cách đẩy dung dịch  
NaOH 1M đi qua trong 10 phút, sau đó tới nước deion và  
cuối cùng là dung dịch BGE. Nước deion được tạo ra từ  
thiết bị Simplicity UV (Millipore, USA) được sử dụng để  
pha chế mọi dung dịch và pha loãng mẫu.  
Classification number: 2.4  
35  
60(10) 10.2018  
Khoa học Kỹ thuật và Công nghệ  
Lấy mẫu và xử lý mẫu  
(-14÷-18 kV) và thời gian bơm mẫu (40÷60 giây); mỗi  
yếu tố được chia làm 5 mức độ (-2, -1, 0, +1, và +2). Theo  
đó, có tất cả 30 thí nghiệm cần tiến hành, bao gồm 16 thí  
nghiệm thuộc thiết kế yếu tố toàn phần, 8 thí nghiệm ở  
trục và 6 thí nghiệm ở tâm. Hàm mục tiêu được lựa chọn  
là độ phân giải giữa hai peak Ile và Leu với kỳ vọng độ  
phân giải càng lớn càng tốt. Bên cạnh đó, thời gian phân  
tích (tính theo thời gian xuất hiện của peak cuối cùng,  
Leu) cũng được sử dụng như một hàm mục tiêu thứ hai  
(tầm quan trọng thấp hơn) với yêu cầu thời gian di chuyển  
của Leu nằm trong khoảng 900-1200 giây.  
Trong nghiên cứu này, 4 sản phẩm thực phẩm bổ sung  
BCAA dạng bột đã được thu thập từ các cửa hàng chuyên  
cung cấp các sản phẩm cho người tập gym trên địa bàn  
thành phố Hà Nội. Các sản phẩm được ký hiệu như sau:  
M1 (Xtend BCAA 30 servings), M2 (Xtend Go BCAA 30  
servings), M3 (On-Gold Standard BCAA 30 servings) và  
M4 (USN BCAA 30 servings). Từ mỗi sản phẩm này, lấy  
chính xác 0,5 gam mẫu, chuyển vào bình định mức 50 ml,  
thêm nước deion đến vạch và lắc kỹ. Pha loãng (125 lần)  
dung dịch thu được này với nước deion và lọc qua màng  
lọc có kích thước lỗ 0,2 µm. Sau đó, 1 ml dung dịch sau  
khi lọc được sử dụng để bơm vào hệ CE-C4D. Để tránh sai  
số có thể mắc phải do sự trộn lẫn không đồng đều của sản  
phẩm (khối lượng cả sản phẩm khá lớn, còn khối lượng  
lấy mẫu tương đối nhỏ), mỗi sản phẩm được lấy mẫu 3  
lần, mỗi lần được phân tích lặp 3 lần, kết quả thu được là  
giá trị trung bình giữa các lần lặp khác nhau. Dung dịch  
sau khi hòa tan (nhưng chưa pha loãng) của lần lấy mẫu  
đầu tiên đối với mỗi sản phẩm (ký hiệu là M1.1, M2.1,  
M3.1 và M4.1 tương ứng) được phân tích đồng thời bằng  
phương pháp CE-C4D và HPLC-DAD.  
Kết quả thu được từ mô hình được đánh giá thông qua  
p-value hoặc F-value đối với các kiểm định F-test và Lack  
of fit test, đồng thời giá trị của các hàm mục tiêu tại điều  
kiện phân tích tối ưu mà mô hình dự đoán cũng được kiểm  
tra để đảm bảo sự dự đoán của mô hình là phù hợp với  
thực tế.  
Thẩm định phương pháp  
Phương pháp phân tích được đánh giá thông qua một  
loạt các thông số: giới hạn phát hiện (LOD), giới hạn định  
lượng (LOQ), độ tuyến tính (R2), khoảng tuyến tính, độ  
đúng và độ chụm. Độ tuyến tính và khoảng tuyến tính  
được đánh giá thông qua đường chuẩn thu được khi phân  
tích lặp lại ba lần đối với ba chất phân tích ở 5 mức nồng  
độ 5; 10; 15; 20 và 25 mg/l. Độ chụm được xác định bằng  
độ lặp lại (trong ngày) và độ tái lặp (giữa các ngày khác  
nhau) dưới dạng độ lệch chuẩn tương đối (RSD) của diện  
tích peak và thời gian di chuyển. Độ lặp lại (n=10) thu  
được từ kết quả phân tích trong một ngày dưới các điều  
kiện tối ưu, sử dụng dung dịch chuẩn nồng độ 10 mg/l  
của mỗi chất phân tích. Độ tái lặp được xác định với cùng  
dung dịch nhưng được thực hiện trong 10 ngày liên tiếp.  
Độ đúng được xác định thông qua hiệu suất thu hồi (trên  
nền nước deion và nền mẫu thật) ở hai mức nồng độ 7,5  
và 17,5 mg/l, đồng thời so sánh kết quả phân tích của một  
số mẫu trên CE-C4D với phương pháp HPLC-DAD. Các  
mẫu này được chuẩn bị như đã đề cập trong phần xử lý  
mẫu.  
Khảo sát điều kiện phân tích ban đầu  
Trước khi tiến hành tối ưu hóa bằng mô hình RSM-  
CCD, các khảo sát ban đầu được thực hiện bằng cách tối  
ưu từng nhân tố đơn lẻ nhằm xác định điểm ở tâm của mô  
hình cũng như khoảng biến thiên của các yếu tố cho phù  
hợp. Các điều kiện được khảo sát bao gồm: thành phần  
của BGE, nồng độ BGE, điện thế tách và thời gian bơm  
mẫu. Đối với thành phần BGE, 3 dung dịch axit ở hai  
nồng độ 0,5M và 1,0M đã được khảo sát, bao gồm: axit  
lactic, axit succinic và axit citric, mỗi dung dịch axit được  
bổ sung PEG nồng độ 2% (m/v) nhằm loại bỏ tương tác  
của nhóm silanol (-Si-OH) trên thành trong của mao quản  
với các amino axit.  
Sau khi lựa chọn được thành phần BGE phù hợp, các  
yếu tố nồng độ axit (0,1÷1,5M), nồng độ chất bổ trợ PEG  
(1÷4%), điện thế tách (-12÷-18 kV) và thời gian bơm mẫu  
(10÷60 giây) được khảo sát lần lượt nhằm tìm ra điều kiện  
phân tích tối ưu ban đầu. Các thông số được sử dụng để  
đánh giá các điều kiện phân tích bao gồm diện tích các  
peak và độ phân giải giữa hai peak cạnh nhau là Ile và  
Leu.  
Kết quả và bàn luận  
Kết quả khảo sát điều kiện phân tích ban đầu  
Kꢃt quả khảo sát thành phần BGE:  
Trong dung dịch trung tính, các BCAA (có điểm đꢀng  
điện pI~6,0) tồn tại chủ yếu dưới dạng muối nội không  
mang điện. Để có thể phân tích được bằng CE-C4D, điều  
kiện tiên quyết là cần chuyển các BCAA này về dưới dạng  
cation (pH<pKa1~2,4) hoặc dạng anion (pH>pKa2~9,6).  
Tối ưu hóa điều kiện phân tích dựa trên RSM-CCD  
Điều kiện phân tích tối ưu được xác định một cách  
chính xác hơn bằng cách sử dụng mô hình RSM-CCD với  
điểm ở tâm là điều kiện ban đầu đã tìm được. Mô hình  
xem xét sự ảnh hưởng của bốn yếu tố ảnh hưởng: nồng Tuy nhiên, việc phân tích trong điều kiện pH cao sẽ gặp  
độ BGE (0,5÷1,5M), nồng độ PEG (1÷3%), điện thế tách nhiều khó khăn do dòng điện di thẩm thấu (EOF) khá lớn,  
60(10) 10.2018  
36  
Khoa học Kỹ thuật và Công nghệ  
làm cản trở sự di chuyển của các anion cần phân tích. Vì  
vậy, trong nghiên cứu này, các BGE có môi trường axit  
được sử dụng, bao gồm axit lactic, axit succinic và axit  
citric, trong đó mỗi loại BGE được khảo sát ở hai nồng độ  
0,5M và 1,0M. Để hạn chế tương tác của các amino axit  
với nhóm silanol (-Si-OH) trên bề mặt thành mao quản,  
mỗi dung dịch axit được bổ sung PEG nồng độ 2% (m/v).  
Các điều kiện phân tích khác được giữ cố định, bao gồm:  
điện thế tách -15 kV, thời gian bơm mẫu 30 giây.  
Hình 2. Kết quả khảo sꢀt ảnh hưởng nồng độ BGE tới diện tích  
peak và độ phân giải. Ký hiệu trong hình: S_Val, S_Ile, S_Leu  
lần lượt là diện tích của các peak Valine, Isoleucine và Leucine;  
Rs_Ile/Leu là độ phân giải giữa hai peak Isoleucine và Leucine.  
Kꢃt quả khảo sát nồng độ PEG:  
Các amino axit nói chung và các BCAA nói riêng có  
khả năng tạo liên kết hydro với nhóm -Si-OH tự do ở  
thành trong của mao quản, làm cản trở khả năng tách chất  
trong CE. Nghiên cứu này sử dụng PEG nhằm loại bỏ ảnh  
hưởng nêu trên của nhóm silanol. Nồng độ PEG (m/v)  
được khảo sát trong khoảng 1-4 %, các điều kiện phân  
tích khác được giữ không đổi như trong khảo sát nồng  
độ BGE. Kết quả trên hình 3 cho thấy, nồng độ PEG ảnh  
hưởng tới cả độ lớn của diện tích peak lẫn độ phân giải  
giữa Ile/Leu. Diện tích peak của cả ba chất đều tăng khi  
tăng nồng độ PEG từ 1% lên 2%, sau đó giảm dần khi  
tiếp tục tăng PEG. Xu hướng này cũng diễn ra đối với độ  
Hình 1. Điện di đồ khảo sꢀt ảnh hưởng của thành phần BGE tới  
sự phân tꢀch của cꢀc chất phân tích.  
Kết quả thu được cho thấy, việc sử dụng các BGE có  
môi trường axit là thích hợp khi tất cả các dung dịch axit  
được khảo sát đều cho tín hiệu của cả ba đối tượng phân  
tích (hình 1). BGE với thành phần axit lactic cho diện tích  
peak lớn nhất nhưng độ phân giải giữa hai peak Ile và Leu  
lại nhỏ nhất. Trong hai axit còn lại, axit citric cho độ phân  
giải giữa Ile/Leu lớn hơn ở cả hai nồng độ, do đó, axit  
citric được lựa chọn làm BGE để phân tích các BCAA.  
Kꢃt quả khảo sát nồng độ BGE:  
Nồng độ axit citric trong BGE sau đó được tiến hành  
khảo sát trong khoảng 0,1-1,5M nhằm xác định nồng độ  
BGE thích hợp nhất. Các điều kiện khác được giữ cố định  
như trong thí nghiệm khảo sát về thành phần BGE. Hình  
2 thể hiện sự biến đổi diện tích peak của các chất phân  
tích và độ phân giải giữa Ile/Leu khi thay đổi nồng độ axit  
citric. Ở nồng độ citric cao hơn, sự tách chất diễn ra tốt  
hơn và độ phân giải giữa Ile/Leu tăng lên, mặc dù sự thay  
đổi này là không lớn. Ngược lại, khi tăng nồng độ axit  
citric, diện tích peak có xu hướng giảm dần và giảm khá  
nhanh khi nồng độ thay đổi từ 1,0M tới 1,5M. Lý do của  
sự biến đổi này là bởi ở nồng độ lớn, độ dẫn của BGE cao,  
làm cho sự chênh lệch tín hiệu giữa chất phân tích và nền  
giảm xuống. Vì vậy, nồng độ 1,0M của axit citric được lựa  
chọn là điều kiện thích hợp vì ở điều kiện này, cả diện tích  
peak (4 mV.s) và độ phân giải đều khá tốt (1,4) khi so với  
các điều kiện còn lại.  
Hình 3. Kết quả khảo sꢀt ảnh hưởng của nồng độ PEG tới diện  
tích peak và độ phân giải. Ký hiệu trong hình: S_Val, S_Ile, S_Leu  
lần lượt là diện tích của các peak Valine, Isoleucine và Leucine;  
Rs_Ile/Leu là độ phân giải giữa hai peak Isoleucine và Leucine.  
37  
60(10) 10.2018  
Khoa học Kỹ thuật và Công nghệ  
phân giải giữa Ile/Leu. Bên cạnh đó, sự có mặt của PEG tính. Giữa thời gian bơm mẫu 50 giây và 60 giây, sự thay  
còn làm tăng độ nhớt của BGE và làm giảm cường độ của  
dòng EOF, dẫn đến thời gian di chuyển của các chất phân  
tích tăng lên. Tương tự với thí nghiệm khảo sát nồng độ  
axit citric, điều kiện PEG 2% được lựa chọn do đáp ứng  
được cả về diện tích peak và độ phân giải, đồng thời thời  
gian phân tích không quá dài.  
đổi về diện tích các peak cũng như độ phân giải giữa Ile/  
Leu không nhiều, cho thấy lượng mẫu được bơm vào mao  
quản đã gần bão hòa. Vì vậy, giá trị 50 giây được lựa chọn  
làm điều kiện thời gian bơm mẫu.  
Kết quả từ kế hoạch hóa thực nghiệm  
Sau khi xác định được điều kiện phân tích ban đầu,  
việc tối ưu hóa được tiến hành bằng kế hoạch hóa thực  
nghiệm với mô hình RSM-CCD nhằm đạt được điều kiện  
phân tích chính xác hơn. Điều kiện phân tích được tìm  
thấy ban đầu (BGE là axit citric 1,0M bổ sung PEG 2%,  
điện thế tách -16 kV và thời gian bơm mẫu 50 giây) được  
sử dụng làm tâm của mô hình. Đồng thời, qua các khảo sát  
trên, khoảng biến đổi của các yếu tố ảnh hưởng cũng được  
xác định: nồng độ axit citric (X1) 0,5÷1,5M; nồng độ PEG  
(X2) 1,0÷3,0%; điện thế tách (X3) -14÷-18 kV và thời gian  
bơm mẫu (X4) 40÷60 giây. Mục tiêu được lựa chọn là độ  
phân giải giữa hai peak gần nhau Ile và Leu (Y1) với kỳ  
vọng giá trị của Y1 càng lớn càng tốt. Ngoài ra, để đáp ứng  
nhu cầu phân tích trong thực tế, thời gian phân tích không  
nên quá dài (<20 phút, tương đương với 1200 giây). Mặt  
khác, quá trình khảo sát ban đầu cũng cho thấy, thời gian  
di chuyển của peak cuối cùng (Leu) thường lớn hơn 900  
giây. Vì vậy, để đảm bảo độ chính xác cho mô hình, thời  
gian di chuyển của Leu được lựa chọn làm mục tiêu thứ  
hai (Y2) với kỳ vọng độ lớn của Y2 nằm trong khoảng 900-  
1200 giây (bảng 1).  
Kꢃt quả khảo sát điện thꢃ tách:  
Điện thế tách và thời gian bơm mẫu là hai thông số  
hoạt động của thiết bị đóng vai trò quan trọng đối với sự  
phân tách chất trong CE và cần được khảo sát một cách  
đầy đủ. Ở điện thế tách có độ lớn dưới 12 kV, thời gian  
phân tích thường khá dài, trong khi đó, độ lớn điện thế  
tách cao trên 18 kV có thể thiếu ổn định và gây ra nhiễu  
nền lớn. Trong nghiên cứu này, điện thế tách được khảo  
sát trong khoảng -12 kV tới -18 kV nhằm hạn chế những  
ảnh hưởng trên, các điều kiện khác được giữ cố định.  
Theo xu hướng chung, khi tăng điện thế tách, độ linh động  
của các ion lớn hơn, chúng di chuyển nhanh hơn, kéo theo  
đó là thời gian di chuyển ngắn hơn, diện tích peak giảm  
xuống và độ phân giải tăng lên. Các sự biến đổi này có thể  
thấy được trên hình 4. Mặc dù điện thế -18 kV có độ phân  
giải lớn nhất giữa hai peak cạnh nhau là Ile và Leu, nhưng  
điều kiện -16 kV được lựa chọn do có độ phân giải khá tốt  
(1,4) đồng thời đường nền ổn định hơn.  
Bảng 1. Cꢀc yếu tố ảnh hưởng trong mô hình và cꢀc mức nghiên  
cứu tương ứng.  
Mức nghiên cứu  
Ký  
hiệu  
Đơn  
vị  
Yếu tố ảnh hưởng  
-2 (-α)  
0,5  
1
-1  
0
+1  
+2 (+α)  
1,5  
Nồng độ axit citric  
Nồng độ PEG  
X1  
X2  
X3  
X4  
mol/l  
%
0,75  
1,5  
-15  
45  
1
1,25  
2,5  
-17  
55  
2
3
Điện thế tách  
kV  
s
-14  
40  
-16  
50  
-18  
60  
Thời gian bơm mẫu  
Hình 4. Kết quả khảo sꢀt ảnh hưởng của điện thế tꢀch tới diện  
tích peak và độ phân giải. Ký hiệu trong hình: S_Val, S_Ile, S_Leu  
lần lượt là diện tích của các peak Valine, Isoleucine và Leucine;  
Rs_Ile/Leu là độ phân giải giữa hai peak Isoleucine và Leucine.  
Mô hình dự đoán đối với các hàm mục tiêu đều có độ  
tin cậy thống kê cao khi các giá trị p-value của mô hình  
cho Y1 và Y2 đều nhỏ hơn 0,0001, đồng thời giá trị p-value  
cho phép thử lack-of-fit đều lớn hơn 0,1. Kết quả cũng  
cho thấy mối liên hệ giữa hàm mục tiêu và các yếu tố  
ảnh hưởng là các phương trình tuyến tính bậc nhất, trong  
đó, BGE có ảnh hưởng tới cả độ phân giải và thời gian di  
chuyển (thể hiện thông qua sự có mặt của nồng độ axit  
citric (X1) và nồng độ PEG (X2) trong phương trình). Các  
sự ảnh hưởng này đều có tác động dương, khi tăng nồng  
độ PEG thì độ phân giải và thời gian di chuyển cũng tăng  
Kꢃt quả khảo sát thời gian bơm mẫu:  
Thời gian bơm mẫu là yếu tố cuối cùng được khảo  
sát và được thay đổi từ 10-60 giây. Khi tăng thời gian  
bơm mẫu, lượng mẫu đi vào mao quản lớn hơn và diện  
tích peak tăng lên, góp phần đạt được LOD tốt hơn. Tuy  
nhiên, khi lượng chất phân tích lớn, quá trình khuyếch tán  
trong dung dịch diễn ra nhanh hơn, chân peak thường dãn  
rộng hơn và làm giảm độ phân giải cũng như tính tuyến lên. Ngược lại, tăng thời gian bơm mẫu (X4) sẽ làm giảm  
60(10) 10.2018  
38  
Khoa học Kỹ thuật và Công nghệ  
độ phân giải (Y1), còn tăng độ lớn điện thế tách (X3) sẽ của phương pháp nằm trong khoảng từ 0,82÷1,2 mg/l, đáp  
làm giảm thời gian di chuyển. Điều này là phù hợp với các ứng được yêu cầu kiểm soát chất lượng thực phẩm bổ  
phân tích ở trên. Bên cạnh đó, điện thế tách không có mặt sung BCAA do hàm lượng các amino axit trong các mẫu  
trong phương trình hàm mục tiêu của độ phân giải (Y1), thực tế đều rất cao, khoảng 100 mg/g - tương đương với  
còn thời gian bơm mẫu có mặt trong phương trình của thời khoảng 8 mg/l sau khi xử lý mẫu. Đường chuẩn thu được  
gian di chuyển (Y2). Sự không ảnh hưởng của thời gian dựa trên 5 điểm chuẩn trong khoảng 5÷25 mg/l với hệ số  
bơm mẫu tới thời gian di chuyển là dễ hiểu, trong khi sự tương quan R2 khá tốt, lớn hơn 0,991. Phương pháp cũng  
vắng mặt của điện thế tách trong phương trình của Y2 có cho thấy độ chụm tốt khi RSD đối với các thử nghiệm về  
thể lý giải là do sự thay đổi điện thế tách gây ra sự thay độ lặp lại và độ tái lặp đều tốt, nhỏ hơn 8% đối với diện  
đổi về cả khoảng cách giữa các peak lẫn độ rộng của từng tích peak và nhỏ hơn 3% đối với thời gian di chuyển.  
peak. Sự ảnh hưởng đồng thời theo cùng một chiều hướng  
Độ đúng của phương pháp được đánh giá thông qua  
này (tăng độ lớn của điện thế tách làm giảm khoảng cách  
hiệu suất thu hồi (trên nền nước deion và nền mẫu thật)  
peak cũng như thu hẹp chân peak) có thể dẫn tới sự ít thay  
cũng như so sánh với các kết quả thu được khi phân  
đổi của độ phân giải. Các phương trình của hàm mục tiêu  
tích đối chứng cùng một dung dịch bằng phương pháp  
được mô hình đưa ra như sau:  
HPLC-DAD. Hiệu suất thu hồi trên cả hai nền mẫu đối  
Y1=1,211+0,259X1+0,080X2–0,004X4  
Y2=2347,7+335,5X1+38,1X2+95,2X3  
với tất cả các chất phân tích đều tốt, nằm trong khoảng 90-  
110%. Bên cạnh đó, kết quả đối chứng về hàm lượng các  
BCAA trong 4 mẫu thực giữa hai phương pháp CE-C4D  
và HPLC-DAD khá tốt khi độ lệch giữa hai phương pháp  
chỉ nằm trong khoảng 10%, trừ nồng độ Val và Leu trong  
mẫu M1.1 sai khác lần lượt là 11,2% và 13,8% (bảng 3).  
Sự sai khác này là có thể chấp nhận được và cho thấy  
phương pháp CE-C4D đã phát triển hoàn toàn có khả năng  
thay thế HPLC-DAD với mục tiêu phân tích BCAA trong  
thực phẩm bổ sung.  
Từ các điều kiện trên, thu được các kết quả tối ưu từ  
mô hình như sau: nồng độ axit citric 1,11M, nồng độ PEG  
2,32%, điện thế tách -16,9 kV và thời gian bơm mẫu 45  
giây.  
Thẩm định quy trình phân tích  
Sau khi xác định được các điều kiện phân tích tối ưu,  
quy trình sẽ được thẩm định thông qua một loạt thông  
số bao gồm: LOD, LOQ, khoảng đường chuẩn và hệ số  
tuyến tính của đường chuẩn, độ lặp lại và độ tái lặp của  
diện tích peak và thời gian di chuyển cũng như hiệu suất  
thu hồi trên các nền mẫu khác nhau. Bảng 2 trình bày các  
kết quả thu được khi đánh giá quy trình phân tích. LOD  
Bảng 3. Kết quả đꢀnh giꢀ độ đúng của phương phꢀp thông qua  
phân tích đối chứng bằng HPLC.  
Hàm lưꢁng Val  
đo đưꢁc (mg/l)  
Hàm lưꢁng Ile đo đưꢁc  
(mg/l)  
Hàm lưꢁng Leu  
đo đưꢁc (mg/l)  
Mẫu  
HPLC-  
Sai  
HPLC- Sai  
CE-C4D  
CE-  
HPLC-  
DAD  
CE-C4D  
Sai kháca  
kháca  
DAD  
1272  
1440  
kháca  
C4D  
Bảng 2. Kết quả thẩm định quy trình phân tích qua cꢀc thông  
số thống kê.  
DAD  
1341  
1345  
M1.1 1491  
M2.1 1308  
11,2  
-2,8  
1385  
1285  
8,9  
2819  
2465  
2477  
2521  
13,8  
-2,2  
Chất phân tích  
LOD (mg/l)  
Val  
Ile  
Leu  
0,82  
2,7  
-10,8  
1,2  
1,0  
M3.1 1502  
M4.1 1157  
1387  
1188  
8,3  
1392  
1199  
1453  
1328  
-4,2  
-9,8  
2684  
2355  
2866  
2591  
-6,4  
-9,1  
LOQ (mg/l)  
4,1  
3,4  
-2,6  
Khoảng đường chuẩn (mg/l)  
R2  
5÷25  
0,996  
5÷25  
0,997  
5÷25  
0,991  
a: tính theo công thức (giá trị đo được theo CE - giá trị đo được theo  
HPLC)/giá trị đo được theo HPLC * 100 (%).  
Kết quả phân tích mẫu thực (hình 5)  
Độ lặp lại (10 mg/l, n=10)  
RSDa (%)  
Trong nghiên cứu này, 4 mẫu thực thuộc các nhãn hiệu  
khác nhau đã được đặt mua từ các cửa hàng chuyên cung  
cấp các sản phẩm thực phẩm bổ sung cho người tập thể  
hình (bảng 4). Kết quả phân tích cho thấy, hàm lượng theo  
công bố của nhà sản xuất khá phù hợp với giá trị đo được  
trong thực tế bằng CE-C4D với sự sai khác nhỏ hơn 10%,  
ngoại trừ hàm lượng Val trong mẫu M1 (16%) và mẫu  
M2 (18%). Điều này cho thấy thông tin về hàm lượng  
BCAA của các nhà cung cấp trong nghiên cứu tương đối  
đáng tin cậy. Ngoài ra, mặc dù chưa thật sự rõ ràng nhưng  
3,3  
0,5  
3,5  
0,5  
4,0  
0,4  
RSDb (%)  
Độ tái lặp (10 mg/l, n=10)  
RSDa (%)  
7,4  
5,6  
6,8  
RSDb (%)  
1,8  
2,1  
1,6  
H%  
94÷99  
91÷103  
93÷102  
RSDa: độ lệch chuẩn tương đối về diện tích peak; RSDb: độ lệch chuẩn  
tương đối về thời gian di chuyển.  
39  
60(10) 10.2018  
Khoa học Kỹ thuật và Công nghệ  
dường như các nhà sản xuất có xu hướng bổ sung nhiều hành phân tích đối chứng bằng phương pháp HPLC. Các  
kết quả thu được cho thấy phương pháp CE-C4D có độ tin  
cậy tốt, thời gian phân tích tương đối ngắn mà không cần  
quá trình xử lý mẫu bằng dẫn xuất hóa phức tạp. Dựa trên  
những cơ sở này, phương pháp CE-C4D có thể được ứng  
dụng nhằm góp phần kiểm soát chất lượng thực phẩm bổ  
sung BCAA nói riêng và các loại thực phẩm bổ sung nói  
chung trên thị trường.  
BCAA hơn khi hàm lượng BCAA xác định được của 3/4  
mẫu đều lớn hơn với hàm lượng ghi trên nhãn. Các kết  
quả thu được này cũng khꢀng định khả năng ứng dụng  
của phương pháp CE-C4D trong phân tích đối tượng thực  
phẩm bổ sung.  
LỜI CẢM ƠN  
Nghiên cứu này được tài trợ bởi Trường Đại học Khoa  
học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội thông qua đề tài  
mã số TN.17.22. Các tác giả xin trân trọng cảm ơn.  
TꢃI LIꢄꢅ ThaM KhẢo  
[1] M.Y. Piñer, R. Bauza, L.Arce (2011), “Thirty years of capillary  
electrophoresis in food analysis laboratories: Potential applications”,  
Electrophoresis, 32(11), pp.1379-1393.  
Hình 5. Điện di đồ phân tích mẫu chuẩn (15 mg/l) và 4 mẫu  
thực.  
[2] G. Bajotto, Y. Sato, et al. (2011), “Effect of BCAA  
supplementation during unloading on regulatory components of  
protein synthesis in atrophied soleus muscles”, European Journal of  
Applied Physiology, 111, pp.1815-1828.  
Bảng 4. Kết quả phân tích mẫu thật.  
Hàm lưꢁng Val  
Hàm lưꢁng Ile  
Hàm lưꢁng Leu  
[3] Mei Musa Ali Omar, Abdalla Ahmed Elbashir, Oliver  
J. Schmitz (2017), “Capillary electrophoresis method with UV-  
detection for analysis of free amino acids concentrations in food”,  
Food Chemistry, 214, pp.300-307.  
Ghi  
Đo được  
Đo được  
Ghi  
Đo được  
Mẫu  
Sai  
Ghi trên  
nhãna  
Sai  
Sai  
trên  
bằng CE-  
bằng CE-  
trên  
bằng CE-  
khácb  
khácb  
khácb  
nhãna  
C4Da  
C4Da  
nhãna  
C4Da  
M1  
M2  
M3  
M4  
1750  
1750  
1250  
1250  
2033±95  
1905±96  
1481±78  
1216±59  
16  
1750  
1750  
1250  
1250  
1819±76  
1843±92  
1365±67  
1199±95  
3,9  
5,3  
9,2  
-4,1  
3500  
3500  
2500  
2500  
3778±166  
3671±198  
2681±86  
7,9  
4,9  
7,2  
0,5  
[4] Shigeki Akamatsu, Takao Mitsuhashi (2013), “Development  
of a simple analytical method using capillary electrophoresis-tandem  
mass spectrometry for product identification and simultaneous  
determination of free amino acids in dietary supplements containing  
royal jelly”, Journal of Food Composition and Analysis, 30(1), pp.47-  
51.  
8,9  
18  
-2.7  
2514±116  
a: tính theo mg chất/1 liều dùng (khối lượng 1 liều dùng đối với từng mẫu:  
M1: 13,26 gam; M2: 14,6 gam; M3: 10 gam; M4: 11 gam).  
b: tính theo công thức (giá trị đo được theo CE - giá trị trên nhãn)/giá trị  
trên nhãn * 100 (%).  
[5]DazhongShen,YaolongLi, ZhenliZhang, PingZhang, QiKang  
(2013), “Determination of amino acids by capillary electrophoresis  
with differential resonant contactless conductivity detector”, Talanta,  
104, pp.39-43.  
Kết luận  
Bằng phương pháp CE-C4D kết hợp với việc kế hoạch  
hóa thực nghiệm theo mô hình RSM-CCD, nghiên cứu đã  
xây dựng được quy trình phân tích đồng thời các BCAA  
trong thực phẩm bổ sung. Quy trình đã được áp dụng  
trong thực tế để kiểm tra chất lượng sản phẩm thực phẩm  
[6] Ting Wang, Huiru Xie, Xu Chen, Xuehua Jiang, Ling Wang  
(2015), “Simultaneous determination of leucine, isoleucine and  
valine in Beagle dog plasma by HPLC-MS/MS and its application to  
a pharmacokinetic study”, Journal of Pharmaceutical and Biomedical  
bổ sung BCAA hiện có trên thị trường, đồng thời tiến Analysis, 114, pp.426-432.  
60(10) 10.2018  
40  
pdf 7 trang Mãnh Khiết 13/01/2024 17800 Free
Bạn đang xem tài liệu "Ứng dụng phương pháp điện di mao quản trong kiểm soát chất lượng thực phẩm bổ sung Amino Axit mạch nhánh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfung_dung_phuong_phap_dien_di_mao_quan_trong_kiem_soat_chat_l.pdf