Chiết xuất SiO₂ tinh khiết từ tro nhà máy nhiệt điện than

26  
Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Mỏ - Địa chất Tập 60, Kỳ 1 (2019) 26 - 33  
Chiết xuất SiO2 tinh khiết từ tro nhà máy nhiệt điện than  
Vũ Đình Hiếu 1,*, Bùi Hoàng Bắc 2  
1 Khoa Mỏ, Trường Đại học Mỏ - Địa chất, Việt Nam  
2 Khoa Khoa học Địa chất, Trường Đại học Mỏ - Địa chất, Việt Nam  
THÔNG TIN BÀI BÁO  
TÓM TẮT  
Quá trình:  
Trong nghiên cứu này, SiO2 tinh khiết được chiết xuất từ tro nhà máy nhiệt  
điện sau khi tổng hợp alumino-silicate. Các điều kiện tối ưu để thu được SiO2  
tinh khiết là nhiệt độ 200oC, tỷ lệ tro/NaOH là 1:30, thời gian phản ứng là 24  
giờ. Việc chiết xuất thành công SiO2 từ tro thải là một cách hiệu quả để tận  
dụng nguồn tro thải và bảo vệ môi trường.  
Nhận bài 14/11/2018  
Chấp nhận 20/12/2018  
Đăng online 28/02/2019  
Từ khóa:  
Tro thải  
Chiết suất  
SiO2  
© 2019 Trường Đại học Mỏ - Địa chất. Tất cả các quyền được bảo đảm.  
rất cần thiết và hữu ích. Mặt khác, các vật liệu xốp  
có cấu trúc nano với các chức năng tiên tiến có  
1. Mở đầu  
Hiện nay, cả nước có 19 nhà máy nhiệt điện  
đang hoạt động, với công suất phát điện gần  
14.500 MW, mỗi năm thải khoảng 15 triệu tấn tro,  
trong đó lượng tro bay chiếm 75%. Dự kiến sau  
năm 2020, với 43 nhà máy, sẽ thải ra hơn 30 triệu  
tấn tro/năm, hầu hết các nhà máy chỉ có bãi thải  
chứa trong khoảng 5 năm và chủ yếu là chôn lấp.  
Hiện nay, tái sử dụng tro thải chủ yếu phục vụ cho  
các ngành như phụ gia sản xuất xi măng, sản xuất  
bê tông, gạch không nung, vật liệu làm đường, vật  
liệu san lấp. Tuy nhiên, tái sử dụng tro để sản xuất  
các vật liệu có giá trị kinh tế cao còn hạn chế. Do  
các thành phần chính của tro bay chủ yếu là SiO2,  
Al2O3 nên một số phương pháp đã được thực hiện  
để giảm thiểu tác động môi trường từ tro bay cũng  
như tái chế 2 loại ôxit này một cách hiệu quả để  
chế tạo thành các vật liệu xốp có cấu trúc nano là  
kích thước lỗ đồng đều, diện tích bề mặt lớn và kết  
nối đã tìm thấy nhiều ứng dụng như tinh chế, xúc  
tác, hấp phụ, hỗ trợ, thiết bị điện tử và cảm biến  
(Misran, 2007; El-Safty, 2011; Kumar, 2001;  
Adjdir, 2009) và kiểm soát độ ẩm (Vu, 2011), nó  
cũng được sử dụng để hấp thụ các hợp chất hữu  
cơ dễ bay hơi (VOC) từ không khí, nitrobenzene,  
phenol, và hấp thụ kim loại từ nước thải (Minmin,  
2013).  
Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã xem xét  
cách chiết xuất dung dịch SiO2 tinh khiết một cách  
hiệu quả từ tro thải sau khi hong nước tổng hợp  
aluminosilicate. Một số nhà nghiên cứu đã cố gắng  
chiết xuất SiO2 tinh khiết từ tro bay than để tổng  
hợp zeolite (Nam, 2014; Huyền, 2012), nhưng  
không lấy SiO2 tinh khiết làm sản phẩm cuối cùng.  
Do đó, mục tiêu của nghiên cứu này là thiết lập  
điều kiện tối ưu cho chiết xuất SiO2 tinh khiết và  
xác định các yếu tố, kiểm soát độ tinh khiết và số  
lượng của SiO2 được chiết xuất. Các kết quả có thể  
được áp dụng để tái chế hiệu quả một lượng lớn  
_____________________  
*Tác giả liên hệ  
E - mail: vudinhhieu@humg. edu. vn  
Vũ Đình Hiếu, Bùi Hoàng Bắc/Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Mỏ - Địa chất 60 (1), 26 - 33  
27  
tro thải từ các nhà máy nhiệt điện đốt than.  
Tro thải  
Nghiền, qua mắt sàng <200  
2. Vật liệu và thí nghiệm  
2.1. Vật liệu ban đầu  
Điều kiện chiết xuất SiO2  
- Nồng độ NaOH: 1 - 2M  
- Tỷ lệ Tro/NaOH: 1/10 – 1/30 g/ml  
- Nhiệt độ: 100 – 200oC  
Các mẫu tro thải trong nghiên cứu này được  
thu thập từ nhà máy nhiệt điện Uông Bí tại thành  
phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh. Tại nhà máy, tro  
thải có 2 phương pháp làm mát sau khi đốt và  
được chia làm 2 loại (loại một được làm lạnh  
nhanh bằng nước - WCS, loại 2 được làm mát bằng  
không khí - ACS). Nhóm nghiên cứu lấy mẫu của  
cả 2 loại, sau đó mẫu được nghiền thành các hạt  
nhỏ bằng cách sử dụng máy nghiền bi trong 15  
phút và trộn kỹ. Bột có kích thước hạt dưới 75 µm  
được sử dụng để tổng hợp vật liệu xốp và để tách  
SiO2 trong các bước tiếp theo. Bên cạnh đó, mẫu  
tro bay của nhà máy nhiệt điện Cẩm Phả, thành  
phố Cẩm Phả, Quảng Ninh cũng được lấy để so  
sánh.  
- Thời gian: 1 - 9 ngày  
Lọc  
Rửa và sấy khô  
Sản phẩm (Aluminosilicates)  
Kiểm tra tính chất vật liệu  
Hình 1. Sơ đồ khối triết xuất SiO2 từ tro thải.  
trong vật liệu (BET).  
2.2. Chiết xuất SiO2  
Thí nghiệm được hình thành bởi 25 loại bột  
tro thải, mỗi loại khoảng từ 3,3~30g và dung dịch  
NaOH được trộn theo các tỷ lệ xác định (1:10, 1:20  
và 1:30) được đưa vào nung ở các nhiệt độ khác  
nhau (100oC, 150oC và 200oC) trong thời gian  
phản ứng khác nhau (1~9 ngày) trong hệ thống  
nồi hấp. Nồng độ của dung dịch NaOH cũng được  
thử nghiệm với các trường hợp khác nhau 1,2 và  
5 M. Dung dịch sau phản ứng sau đó được lọc qua  
màng 0,45. Các sản phẩm thu được bao gồm dư  
lượng rắn và dung dịch giàu Si còn lại. Dư lượng  
chất rắn chứa Si và Al được rửa bằng nước cất  
nhiều lần và sấy khô ở nhiệt độ 100oC trong 1  
ngày. Nồng độ của Si và Al trong dung dịch được  
xác định bằng cách sử dụng phương pháp quang  
phổ tử ngoại (UV) để kiểm tra độ tinh khiết và  
lượng Si và Al trong dung dịch. Sơ đồ thí nghiệm  
cho quá trình chiết xuất SiO2 được trình bày trong  
Hình 1.  
Các mẫu nhiễu xạ của tro thải và vật liệu cũng  
được đo bằng máy đo nhiễu xạ bột mô hình Mac  
Science MXP-3 với bức xạ Cu-Kα ở 40 kV và 30  
mA. Tất cả các mẫu được quét từ 2 đến 70°C với tỷ  
lệ 20 min. Các pha tinh thể của vật liệu trình bày  
trong mẫu được xác định bằng cách sử dụng phần  
mềm hỗn hợp tiêu chuẩn nhiễu xạ bột (JCPDS). Tỷ  
lệ phần trăm tương đối của các khoáng chất tổng  
hợp được tính bằng phương pháp FULLPAT cho  
các mẫu XRD. Các đặc tính hình thái và các yếu tố  
chính của của tro thải và sản phẩm được kiểm tra  
bằng kính hiển vi điện tử quét (SEM) với quang  
phổ tia X phân tán năng lượng (EDX, JMS 5800).  
Phổ FT-IR cho các khoáng chất tổng hợp thu được  
ở chế độ truyền trên các viên có chứa hỗn hợp ép  
khoảng 1,5 mg mẫu và 100 mg KBr. Phổ IR được  
ghi lại trongphạm vi từ4000đến 400cm-1 (Perkin  
Elmer) với 200 lần quét. Diện tích bề mặt cụ thể  
của các sản phẩm có chứa zeolit được đo từ sự hấp  
phụ khí N2 ở 77 K bằng cách sử dụng dụng cụ  
NOVA 3200 BET.  
2.3. Đặc điểm thí nghiệm  
Các đặc tính của tro thải và vật liệu chiết xuất  
được xác định bằng cách sử dụng các kỹ thuật  
khác nhau như phân tích nhiễu xạ tia X (XRD),  
kính hiển vi điện tử (SEM), quang phổ tia X phân  
tán năng lượng (EDX), Hồng ngoại biến đổi quang  
phổ (FT- IR), và đo diện tích bề mặt, tỷ lệ lỗ rỗng  
3. Kết quả và đánh giá  
3.1. Đặc điểm tro thải  
28  
Vũ Đình Hiếu, Bùi Hoàng Bắc/Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Mỏ - Địa chất 60 (1), 26 - 33  
Thành phầnhóa học của2 mẫu tro xỉ làm lạnh  
bằng không khí (ACS) và làm lạnh bằng nước  
(WCS) được trình bày trong Bảng 1. Kết quả cho  
thấy rằng thành phần chính chủ yếu là SiO2 (45,68  
~ 47,07%), Al2O3 (10,25 ~ 12,40%), CaO (10,80 ~  
16,14%) và một ít oxit Fe, Mg, Na, Mg, K, P, Ti, v.v  
... Hàm lượng CaO cao có thể là do thêm vôi vào  
trong quá trình đốt lò. Một số khác biệt về thành  
phần khối lượng giữa ACS và WCS có lẽ là do tính  
không đồng nhất của than được đưa vào lò. Tro  
bay được đặc trưng bởi SiO2 tương đối cao (49,97  
wt.%) và hàm lượng CaO thấp (3,59 wt.%).  
Hình 2. Kết quả XRD từ vật liệu đầu vào (a) Tro  
xỉ làm lạnh từ không khí, (b) Tro xỉ làm lạnh từ  
nước, (c) tro bay.  
Bảng 1. Thành phần hoá học của tro xỉ và tro  
bay từ nhà máy nhiệt điện than.  
Tro xỉ (wt. %)  
Làm lạnh bằng Làm lạnh  
Thành  
phần  
Tro bay  
(wt. %)  
không khí  
45.68  
0.66  
bằng nước  
47.07  
0.33  
3.2. Đặc điểm của sản phẩm  
SiO2  
TiO2  
Al2O3  
FeO*  
MgO  
MnO  
CaO  
Na2O  
K2O  
P2O5  
V2O5  
Cr2O3  
NiO  
49.97  
1.38  
21.64  
8.35  
1.42  
0.23  
3.59  
0.56  
2.83  
3.64  
0.49  
2.01  
0.74  
2.39  
0.77  
Các loại tinh thể và tỷ lệ phần trăm của từng  
loại trong sản phẩm thu được đã được xác định  
bằng phân tích XRD và được coi là các yếu tố tiềm  
năng để kiểm soát độ tinh khiết và số lượng của  
dung dịch SiO2 chiết xuất, các dư lượng này được  
xác định trong hình 3 và 4. Các thành phần chính  
trong sản phẩm là tobermorite (Ca5(OH)  
2Si6O16•4H2O), pectolite-1A (NaCa2HSi3O9), Na-P1  
hydroxycancrinite (Na14Al12Si13O51•6H2O) và  
Hydroxysodalite (4Na2O•3Al2O3•6SiO2•H2O), tỷ lệ  
phần trăm của các khoáng chất này được liệt kê  
trong Bảng 2. Trong đó:Tobermorite làsilicat giàu  
Ca, được quan sát là thành phần chính trong hầu  
hết sản phẩm khi điều chế cho cả ACS và WCS (7,8  
~ 38,5%), ngoại trừ các điều kiện ở 200oC trong  
72 giờ đối với WCS (số 22 và 24 trong Bảng 2).  
Tiếpđó pectolite-1A, một silicatgiàu Ca khác được  
xác định là thành phần chính (20,6 ~ 31,7%), giải  
thích cho vấn đề này, có khả năng tobermorite đã  
được chuyển thành pectolite-1A bằng cách tăng  
thời gian phản ứng ở 200oC. Sự xuất hiện của các  
thành phần giàu Ca được giải thích là do quá trình  
đốt than đã cho thêm đá vôi vào để làm tăng độ tro  
của than, tăng khả năng giữ nhiệt cho than. Thêm  
vào đó, Hydroxysodalite (8,6 ~ 22,2%) và zeolite  
Na-P1 hydroxycancrinite (3,9 ~ 12,4%) được tìm  
thấy trong hầu hết các các sản phẩm ở điều kiện  
nhiệt độ phản ứng là 100oC, trong khi Na-P1  
hydroxycancrinite chỉ được xác định là thành  
phần chính trong điều kiện ở 200oC cho cả hai ACS  
(24,4 ~ 41,9%) và WCS (12,4 ~ 31,2%) (Hình 3, 4  
10.25  
6.20  
12.40  
3.13  
2.80  
0.28  
3.66  
0.78  
16.14  
7.56  
10.80  
9.07  
0.99  
4.65  
0.34  
1.24  
0.52  
1.87  
0.80  
0.75  
5.01  
0.64  
0.85  
1.34  
1.55  
1.33  
ZnO  
PbO  
* Thành phần Fe được tính như FeO.  
Hình 2a và 2b cho thấy sự hiện diện của một  
lượng lớn các cấu trúc vô định hình trong mẫu  
(không có đỉnh trong hình) ACS và WCS. Tuy  
nhiên, mẫu XRD của tro thải cho thấy một đỉnh cao  
trong khoảng từ 20 đến 35 của Quarts, và một số  
đỉnh thấp hơn của Mullite trong tro bay (Hình 2c),  
điều này khẳng định sự tồn tại của thạch anh  
(SiO2) và mullite (3Al2O3•2SiO2) là các pha tinh thể  
chính trong mẫu (Hình 2c). Hàm lượng SiO2 cao  
trong thành phần hóa học và sự xuất hiện của một  
lượng lớn aluminosilic vô định hình trong các mẫu  
khẳng định mạnh mẽ rằng tro bay, tro xỉ (ACS và  
WCS) là nguồn tiềm năng lớn có thể làm nguyên  
liệu tái chế hiệu quả thông qua tổng hợp  
aluminosilicate và chiết xuất SiO2 tinh khiết.  
Vũ Đình Hiếu, Bùi Hoàng Bắc/Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Mỏ - Địa chất 60 (1), 26 - 33  
29  
và Bảng 2).  
Từ Bảng 2 cho thấy, ở nhiệt độ 200oC (mẫu  
ở nhiệt độ 100 - 150oC cho thấy rằng sự hoà tan  
và kết tinh phản ứng hoạt động mạnh hơn nhiều ở  
nhiệt độ 200oC. Khi xét về tỷ lệ tro thải và NaOH  
trong sản phẩm (1:10; 1:20; 1:30) cho thấy không  
có nhiều sự khác biệt về giá trị cấu trúc tạo thành.  
Trong tất cả các mẫu thí nghiệm, chỉ có tro bay  
(mẫu 25) hình thành H4 (Hydroxycancrinite, PDF  
31-1270) ở giá trị lớn nhất với 71,6% tương ứng  
với một lượng Tobermorite (7,8%) ở 200oC, 24  
giờ, tỷ lệ 1:30, và NaOH 2M, đây có thể là do có  
12-15 đối với ACS và 22-25 đối với WCS) tất cả các  
mẫu thí nghiệm đều xuất hiện H4  
(hydroxycancrinite, PDF 31-1270) với giá trị từ  
24,4 ~ 39,1% đối với ACS và 12,4 ~ 31,2% đối với  
WCS. Trong đó, tại mẫu thí nghiệm số 14 của ACS  
(có điều kiện 200oC, tỷ lệ 1:10, 36 giờ, NaOH 5M)  
cógiá trị H4 (hydroxycancrinite, PDF31-1270) lớn  
nhất với giá trị là 41,9%. Khi so sánh với các giá trị  
Hình 3. Kết quả XRD của các loại sản phẩm với các điều kiện khác nhau của tro xỉ làm lạnh từ không khí.  
Hình 4. Kết quả XRD của các loại sản phẩm với các điều kiện khác nhau của tro xỉ làm lạnh từ nước.  
30  
Vũ Đình Hiếu, Bùi Hoàng Bắc/Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Mỏ - Địa chất 60 (1), 26 - 33  
sự khác biệt về thành phần khối của tro bay và tro  
xỉ. Hầu hết các mẫu XRD cho thấy một đỉnh nhỏ  
trong khoảng từ 20 đến 35, điều này khẳng định  
rằng một lượng đáng kể các cấu trúc vô định hình  
vẫn luôn tồn tại trong sản phẩm.  
(Hydroxysodalite) xuất hiện lớn nhất ở mẫu số 3  
trong Bảng 2 và Hình 5b với điều kiện ở 100oC, tỷ  
lệ 1:10, 24 giờ và NaOH 2M cho ACS. T2  
(Tobermorite) là một loại Aluminosilicate giàu Ca  
ở mẫu số 23 trong Bảng 2 và Hình 5a với điều kiện  
ở 200oC, tỷ lệ 1:30, 24 giờ, và NaOH 2M cho WCS.  
H4 (Hydroxycancrinite) xuất hiện ở mẫu số 14 và  
25 trong Bảng 2 và Hình 5c với điều kiện 200oC, tỷ  
lệ 1:10, 36 giờ, và NaOH 5M đối với ACS. Nhìn  
chung, hầu hết các vật liệu tổng hợp thu được cho  
thấy các dạng tinh thể với kích thước khác nhau,  
nhưng không điển hình, và lượng chất thải rắn  
Cấu trúc và hình dạng thành phần trong vật  
liệu sản phẩm cũng được nhận biết bằng kính hiển  
vi điện tử (SEM) và dữ liệu nhận biết hoá học  
(EDX). Kết quả từ Hình 5 cho thấy 3 loại cấu trúc  
nổi bật được nhận biết đó là HS1  
(Hydroxysodalite), T2 (Tobermorite), và H4  
(Hydroxycancrinite).  
Trong  
đó,  
HS1  
Bảng 2. Tổng hợp điều kiện thí nghiệm, phần trăm sản phẩm và lượng SiO2 thu được. 1 Hydroxysodalite  
(PDF 41-0009), 2 Tobermorite (PDF 19-0050, 19-1364), 3 Zeolite Na-P1 (PDF 39-0219), 4 Hydroxy-  
cancrinite (PDF 46-1457) hoặc Unnamed zeolite (PDF 31-1270), và 5 Pectolite-1A (PDF 33-1223).  
Điều kiện thí nghiệm  
Nhiệt độ-Mẫu-Tỷ lệ  
-Thời gian- NaOH  
Thành phần sản phẩm  
Nồng độ dung dịch  
Si Al  
(mg/l) (mg/l)  
SiO2  
Hiệu suất  
(%)  
TT  
HS1  
T2  
N3  
H4  
P5  
[(°C)-(g)-(g/ml)-(h)-(M)] (%)  
(%)  
(%)  
(%)  
(%)  
I. Tro xỉ làm lạnh bằng không khí (ACSs)  
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10  
11  
12  
13  
14  
15  
100-10-1:10-6-2  
100-10-1:10-12-2  
100-10-1:10-24-2  
100-10-1:10-48-2  
100-10-1:10-96-2  
100-10-1:10-192-2  
100-20-1:30-24-2  
100-3.3-1:30-96-2  
100-3.3-1:30-168-2  
100-3.3-1:30-216-2  
150-25-1:20-48-1  
200-30-1:10-12-2  
200-30-1:10-24-2  
200-30-1:10-36-5  
200-10-1:30-12-2  
-
-
8.99  
11.35  
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
745.0  
728.3  
774.9  
716.7  
770.3  
581.5  
491.6  
888.9  
456.0  
452.6  
1203.0  
1056.0  
845.7  
584.3  
988.7  
59.5  
48.0  
20.2  
19.4  
8.3  
3.1  
56.9  
4.3  
8.4  
4.3  
9.7  
2.4  
3.4  
-
3.94  
3.85  
4.09  
3.79  
4.07  
3.07  
7.79  
14.23  
7.30  
7.24  
12.70  
5.58  
4.47  
3.09  
15.67  
22.16 14.54  
12.31 13.11 3.86  
8.59  
-
-
15.36 15.17  
20.01 15.17  
8.58 22.15 8.72  
9.5  
5.9  
14.77 12.37  
8.45  
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
13.64 8.86  
27.93  
17.55  
7.8  
-
-
-
-
39.12  
24.37  
41.87  
28.44  
28.81  
5.3  
II. Tro xỉ làm lạnh bằng nước (WCSs)  
16  
17  
18  
19  
20  
21  
22  
23  
24  
100-10-1:10-24-2  
100-20-1:30-24-2  
100-3.3-1:30-48-2  
100-3.3-1:30-96-2  
100-3.3-1:30-144-2  
150-25-1:20-48-1  
200-30-1:10-72-2  
200-10-1:30-24-2  
200-10-1:30-72-2  
-
-
-
-
-
-
-
-
-
14.99 8.84  
10.11  
15.71 7.93  
14.76 8.96  
14.48 10.11  
11.64 8.84  
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
1433.5  
1166.4  
1056.1  
1043.2  
910.5  
3.5  
5.3  
11.6  
7.2  
2.0  
3.8  
4.8  
6.2  
3.9  
6.81  
16.60  
15.20  
15.00  
13.10  
14.00  
8.33  
-
1467.1  
-
38.5  
-
-
-
-
31.16 31.69 1751.3  
12.43 1709.2  
22.00 20.62 1612.4  
-
24.40  
23.00  
III. Tro bay  
7.82  
25  
200-10-1:30-24-2  
-
-
71.66  
-
1174.1  
4.7  
13.90  
Vũ Đình Hiếu, Bùi Hoàng Bắc/Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Mỏ - Địa chất 60 (1), 26 - 33  
31  
Hình 5. Kết quả SEM và EDX của thành phần sản phẩm; (a) tobermorite, (b) hydroxysodalite, (c)  
hydroxycancrinite.  
đáng kể vẫn còn tồn tại trong các dư lượng đã  
phản ứng. Từ đó khẳng định các phản ứng hòa tan  
và kết tinh không được diễn ra hoàn toàn trong  
các điều kiện kiềm nhất định.  
Diệntích lỗ rỗng là đại lượng thểhiện cấu trúc  
xốp của vật liệu, diện tích lỗ rỗng càng lớn thì vật  
liệu càng xốp và càng tiệm cận cấu trúc nano. Đối  
với các vật liệu được tạo thành trong thí nghiệm  
này, mẫu 15 (Bảng 2) cho ACS có giá trị diện tích  
lỗ rỗng là 41 m2/g và mẫu 25 cho tro bay có giá trị  
diện tích lỗ rỗng là 54 m2/g, 2 mẫu này cho giá trị  
cao nhất và có cấu trúc xốp tốt nhất.  
(6,81 ~ 24,40) thường cao hơn so với ACS (3.07 ~  
15,67). Trong cùng loại mẫu (từ mẫu 1-5) chúng  
ta thấy các điều kiện giống nhau chỉ thay đổi về  
thời gian phản ứng. Nồng độ Al giảm dần từ 59,5  
mg/l xuống còn 3,1 mg/l khi thời gian phản ứng  
tăng từ 6 giờ đến 192 giờ. Điều này chỉ ra rằng, khi  
thời gian tăng lên thì phản ứng của Al vào cấu trúc  
aluminosilicattăng lên do đó khôngcòn nguyên tử  
Al đơn chất và thành phần Al trong sản phẩm giảm  
đi. Ảnh hưởng của nồng độ NaOH cũng được thấy  
rõ khi ở tỷ lệ nồng độ 1:10 hiệu suất của SiO2 chỉ  
đạt (3,1 ~ 5,6%) (mẫu 12 ~ 14 trong Bảng 2)  
nhưng khi tăng tỷ lệ lên 1:30 thì giá trị SiO2 tăng  
lên 15,7% và nồng độ Al vẫn thấp (mẫu 15 Bảng  
2).  
Đối với WCS, nồng độ Al nhỏ hơn 10 mg/l  
trong hầu hết các điều kiện thí nghiệm, ngoại trừ  
mẫu 18 là 11,6 mg/l ở 100oC, tỷ lệ 1:30, trong 48  
giờ và 2M NaOH. Đối với SiO2, tăng từ 6,81 (tại  
mẫu số 16, 100oC, tỷ lệ 1:10 và thời gian là 24h và  
2M NaOH) lên 24,4 (tại mẫu số 24, 100oC, tỷ lệ  
1:30 và thời gian là 24h và 2M NaOH). Từ đó cho  
thấy thời gian nung không ảnh hưởng đến tỷ lệ  
SiO2 trong sản phẩm, và giá trị của SiO2 bị ảnh  
hưởng chính bởi tỷ lệ pha loãng của nồng độ. Đối  
với tro bay hiệu suất SiO2 là 13,9% ở 200oC, 1:30  
và thời gian phản ứng 24 giờ (số 25 trong Bảng 2).  
3.3. Chiết xuất SiO2 tinh khiết  
Kết quả việc chiết xuất SiO2 được thể hiện  
trong Bảng 2, trong đó nhiệt độ phản ứng, tỷ lệ  
dung dịch / NaOH, thời gian phản ứng và nồng độ  
dung dụng dịch NaOH là những yếu tố ảnh hưởng  
tới lượngSiO2 tinh khiết. Khối lượngchiết xuấtcủa  
SiO2 được tính theo công thức:  
푚푔  
푁ồ푛ꢀ độ ꢁꢂ 푡푟표푛ꢀ 푑푢푛ꢀ 푑ị푐ℎ (  
) 푥  
푙
( )  
푆푖푂2 푔 =  
1000  
60.085(푘ℎốꢂ 푙ượ푛ꢀ 푚표푙 ꢁꢂ푂 )  
2
푥
푥 푇ℎể 푡í푐ℎ 푑푢푛ꢀ 푑ị푐ℎ(푚푙)  
28.086 (푘ℎốꢂ 푙ượ푛ꢀ 푛ꢀ푢푦ê푛 푡ử ꢁꢂ)  
1000  
lượng SiO (g)  
2
(
)
Lượng SiO2 % = tỷ lệ SiO x tổng khối lượng mẫu (g) x100  
2
Kết quả từ Bảng 2 cho thấy, khả năng chiết  
xuất của SiO2 (cột cuối trong Bảng 2) của WCS  
32  
Vũ Đình Hiếu, Bùi Hoàng Bắc/Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Mỏ - Địa chất 60 (1), 26 - 33  
3.4. Kiểm soát các yếu tố chiết xuất SiO2 tinh  
khiết  
là một yếu tố quan trọng làm giảm lượng của dung  
dịch SiO2 tinh khiết. Do đó, năng suất chiết xuất  
SiO2 và chất lượng của vật liệu dư lượng có thể  
được cải thiện rõ rệt bằng cách giảm thiểu Ca  
trong tro thải, điều này dẫn đến việc giảm vôi  
trong quá trình đốt than trong lò đốt.  
Sự hình thành SiO2 tinh khiết được thông qua  
các chất sau quá trình thí nghiệm, tobermorite,  
một loại silicat giàu Ca, được tổng hợp thành  
thành phần chính trong hầu hết các điều kiện cho  
cả ACS và WCS. Tuy nhiên, tại điều kiện ở 200oC  
trong 72 giờ đối với WCS, trong đó pectolite-1A,  
một silicat giàu Ca khác được tạo ra nhiều hơn so  
với tobermorite. Mặt khác hydroxycancrinite  
được hình thành khi nung vật liệu ở 200oC và  
không phụ thuộc nhiều vào các điều kiện khác và  
tỷ lệ dung dịch. Lượng SiO2 tăng lên khi tỷ lệ dung  
dịch tăng lên 1:30 và ở 200oC và không phụ thuộc  
vào thời gian phản ứng, tuy nhiên đó là một yếu tố  
quan trọng quyết định số lượng zeolite tổng hợp.  
Lượng SiO2 cho WCS cao hơn nhiều so với ACS  
(Bảng 2). Nhiệt độ phản ứng là một yếu tố quan  
trọng kiểm soát không chỉ năng suất chiết SiO2,  
mà cả loại zeolite được hình thành. Sự gia tăng  
nồng độ NaOH phải là một yếu tố để cải thiện quá  
trình tổng hợp zeolite, nhưng để giảm đáng kể  
năng suất chiết xuất SiO2 (số 14 trong Bảng 2).  
Năng suất SiO2 cao hơn đối với WCS thay vì ACS  
cho thấy rằng làm lạnh nhanh chất thải nóng chảy  
trong lò đốt là tốt hơn cho chiết xuất SiO2, do sự  
gia tăng của dạng vô định hình.  
Tài liệu tham khảo  
Adjdir, M., Ali-Dahmane, T., Friedrich, F., Scherer  
T., Weidler, PG., 2009. The synthesis of Al-  
MCM-41 from volclay - A low-cost Al and Si  
source. Applied Clay Science 46. 185-189.  
El-Safty, S. A., 2011. Instant synthesis of  
mesoporous monolithic materials with  
controllable geometry, dimension and  
stability: a review. Journal of Porous Material  
18. 259-287.  
Kumar, P., Mal, N., Oumi, Y., Yamana, K., Sano, T.,  
2001. Mesoporous materials prepared using  
coal fly ash as the silicon and aluminium  
source. Journal of Materials Chemistry 11.  
3285-3290.  
Mai Thế Nam, 2014. Nghiên cứu xử lý asen trong  
nước bằng vật liệu Zeolit biến tính bởi sắt được  
điều chế từ tro bay. Luận văn thạc sỹ. Đại học  
Khoa học tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội.  
Minmin Liu, Li-an Hou, Beidou Xi, Ying Zhao,  
Xunfeng Xia. 2013. Synthesis, characterization,  
and mercury adsorption properties of hybrid  
mesoporous aluminosilicate sieve prepared  
with fly ash. Applied Surface Science 273. 706-  
716.  
Khi xem xét tất cả các kết quả thí nghiệm, điều  
kiện tối ưu để thu được SiO2 tinh khiết hiệu quả  
nhấtlàở200oC trong nhiệt độphản ứng, tỷlệ dụng  
dịch trên mẫu là 1:30 mẫu/NaOH tại 2M NaOH và  
thời gian phản ứng là 24 giờ.  
4. Kết luận  
Misran, H., Singh, R., Begum, S., Yarmo, M. A., 2007.  
Processing of mesoporous silica materials  
(MCM-41) from coal fly ash. Journal of  
Materials Processing Technology 186. 8-13.  
Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã chiết xuất  
thành công dung dịch SiO2 tinh khiết từ tro thải  
của nhà máy nhiệt điện than bằng phương pháp  
hòa tan kiềm. Các kết quả thí nghiệm cho thấy,  
hiệu suất lớn nhất để chiết xuất SiO2 tinh khiết ở  
tỷ lệ 1/30 (tro thải / dung dịch kiềm NaOH 2M) ở  
200oC trong thời gian 24h, khả năng chiết xuất ở  
WCS cao hơn so với ACS. Các loại dư lượng rắn kết  
tủa trong phản ứng có vai trò quan trọng để kiểm  
soát độ tinh khiết và năng suất của dung dịch SiO2  
tinh khiết được chiết xuất. Trong khi sự hình  
thành silicat giàu Ca (tobermorite và pectolite-1A)  
Trần Thị Minh Huyền. 2012. Nghiên cứu biến tính  
tro bay phả lại với polyme chức năng để tăng  
dung lượng hấp thụ crom ứng dụng xử lý nước  
thải. Luận văn thạc sỹ. Đại học Khoa học tự  
nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội.  
Vu Dinh Hieu, Wang, K. S., Bui Hoang Bac, 2011.  
Humidity control porous ceramics prepared  
from waste and porous materials. Materials  
Letters 65. 940–943.  
Vũ Đình Hiếu, Bùi Hoàng Bắc/Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Mỏ - Địa chất 60 (1), 26 - 33  
33  
ABSTRACT  
Pure SiO2 extraction through aluminosilicates synthesis from  
incinerated solid wastes  
Hieu Dinh Vu1, Bac Hoang Bui2  
1 Faculty of Mining, Hanoi University of Mining and Geology, Hanoi, Vietnam  
2 Faculty of Geology, Hanoi University of Mining and Geology, Hanoi, Vietnam  
In this study, Pure SiO2 solution extraction from incenerated solid wastes following after  
aluminosilicate synthesis. The optimum conditions for obtaining both the pure SiO2 solution and the  
substantial amounts of unique residue material should be 200oC of reaction temperature, 1:30 of  
sample:NaOH, 2M NaOH, and enough reaction time over 24 hours. The optimization of the pure SiO2  
extraction proposes an effective way for recycling the abundant incinerated solid waste as well as other  
waste ashes.  
pdf 8 trang Mãnh Khiết 13/01/2024 16800 Free
Bạn đang xem tài liệu "Chiết xuất SiO₂ tinh khiết từ tro nhà máy nhiệt điện than", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfchiet_xuat_sio_tinh_khiet_tu_tro_nha_may_nhiet_dien_than.pdf