Nghiên cứu đánh giá độ cố kết của nền đất yếu được gia tải trước kết hợp thoát nước thẳng đứng

KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ ĐỘ CỐ KẾT C ỦA NỀN ĐẤT Y ẾU ĐƯỢC  
GIA TẢI TRƯỚC KẾT HỢP THOÁT NƯỚC THẲNG ĐỨNG  
Nguyễn Hồng Trường,  
Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam  
Nguyễn Hữu Thái  
Trường Đại học Thủy lợi  
Tóm tắt: Khi xử lý nền đất yếu thì độ cố kết được dùng như một trong những tiêu chuẩn để đánh  
giá hiệu qủa của việc xử lý nền bằng phương pháp gia tải trước. Độ cố kết thường được tính từ  
số liệu lún hoặc từ biến đổi áp lực nước lỗ rỗng. Trong nghiên cứu này, kết quả thí nghiệm mô  
hình vật lý nền sét yếu được gia tải trước kết hợp thoát nước thẳng đứng, cho thấy độ cố kết của  
nền khi được đánh theo các phương pháp khác nhau thì cũng cho kết quả sai khác nhau từ 0,6  
đến 9,8%. Vì vậy, trong các trường hợp cụ thể, cần xem xét bố trí điểm quan trắc và lựa chọn  
phương pháp đánh giá độ cố kết cho phù hợp.  
Từ khóa: nền đất yếu, cố kết thoát nước, độ cố kết  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ *  
gia tải trước kết hợp thoát nước thẳng đứng.  
Vấn đề xây dựng nền đắp trên đất yếu là 2. ĐẶC ĐIỂM CỐ KẾT CỦA N ỀN ĐẤT  
một đề tài được nhiều nước trên thế giới  
2.1 Quá trình cố kết  
quan tâm và tiến hành nghiên cứu có hệ  
Quá trình đất dần dần bị nén chặt kèm theo  
thống, bởi đây là một hiện tượng rất thường  
hiện tượng nước lỗ rỗng thoát ra ngoài và sự  
gặp trong quá trình xây dựng, nếu không có  
phân bố lại áp lực giữa cốt đất và nước gọi là  
các biện pháp xử lý thích hợp thường dễ bị  
quá trình cố kết của đất. Nói cách khác, quá  
mất ổn định toàn khối dẫn đến lún sụt, sụp  
trình cố kết của đất là sự tổng hợp hai quá  
đổ công trình.  
trình liên hệ tương hỗ với nhau và xảy ra đồng  
Khi xử lý nền đất yếu thì độ cố kết thường  
thời: Nén chặt đất và thoát nước lỗ rỗng.  
được dùng như một trong những tiêu chuẩn để  
Đối với loại sét (nhất là đất sét) tốc độ thoát  
đánh giá hiệu qủa của việc xử lý nền bằng  
nước rất nhỏ, quá trình nén chặt đất là quá  
phương pháp gia tải trước bằng khối đắp hoặc  
trình lâu dài, có khi tới hàng trăm năm. Khi  
bằng hút chân không. Nó cũng thường được  
trong đất có cả nước tự do và nước liên kết,  
dùng như một chi tiết kỹ thuật trong hợp đồng  
trước hết là thoát nước tự do, trường hợp này  
của dự án cải tạo, xử lý nền đất yếu. Độ cố kết  
gọi là cố kết nguyên sinh và sau đó ép nước  
thường được tính từ số liệu lún hoặc biến đổi  
liên kết ra ngoài gọi là cố kết thứ sinh. Quá  
áp lực nước lỗ rỗng (ALNLR).  
trình thứ hai rất khó phân biệt với hiện tượng  
Trong nghiên cứu này, thí nghiệm mô hình vật  
lưu biến của cốt đất [2; 6]  
lý với loại đất sét yếu khu vực Hà Nội nhằm  
Quá trình cố kết của đất sét thường được quy  
phát hiện quy luật biến thiên của ALNLR, biến  
ước phân chia thành 2 giai đoạn: cố kết  
dạng lún và đánh giá độ cố kết của nền được  
nguyên sinh (cố kết thấm) và cố kết thứ sinh  
(cố kết từ biến) [4]  
Ngày nhận bài: 5/7/2017  
Ngày thông qua phản biện: 24/7/2017  
Ngày duyệt đăng: 28/7/2017  
- Cố kết nguyên sinh (cố kết sơ cấp, cố kết  
thấm) là quá trình biến dạng thể tích của đất  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 39 - 2017  
1
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
kèm theo hiện tượng thoát nước tự do trong dạng từ biến.  
các lỗ rỗng ra ngoài. Nước thoát đi từ chỗ có  
Để phân tích quá trình cố kết nguyên sinh (tốc  
áp lực nước cao đến chỗ có áp lực nước thấp,  
nhường chỗ để các hạt xích lại gần nhau, giảm  
lỗ rỗng và đất được nén chặt lại.  
độ nén phụ thuộc vào tốc độ chuyển động của  
nước) người ta thường sử dụng lý thuyết thấm  
không ổn định. Còn để phân tích quá trình cố  
- Cố kết thứ sinh (cố kết thứ cấp, cố kết từ kết thứ sinh (quá trình biến dạng trong cốt đất)  
biến) là quá trình biến dạng nhớt của khung thì dựa vào cơ sở lý thuyết lưu biến.  
kết cấu đất. Nghĩa là sau khi nước trong lỗ  
Trong nghiên cứu này chỉ giới hạn nghiên cứu  
rỗng thoát ra hết dưới tác dụng của tải  
cố kết nguyên sinh (cố kết thấm) và được gia  
trọng, các hạt đất vẫn tiếp tục dịch chuyển  
tải bằng tải trọng tĩnh.  
xích lại gần nhau, do sự rão của khung kết  
Với phương pháp gia tải bằng tải trọng tĩnh,  
cấu đất, các hạt nhỏ sẽ trượt sâu vào các lỗ  
ALNLR dư đầu tiên sẽ được hình thành từ  
rỗng lớn hơn, từ đó cũng làm cho thể tích  
trạng thái ban đầu (thường là áp suất thuỷ tĩnh)  
đất giảm xuống và đất được nén chặt thêm  
có cùng độ lớn của siêu tải, rồi tiêu tan dần  
như nêu trong Hình 1 [9]  
nữa. Hiện tượng biến dạng của đất sau khi  
nước thoát hết ra ngoài còn được gọi là biến  
u0 (z): áp suất nước lỗ rỗng tĩnh;  
ut (z): áp suất nước lỗ rỗng dư tại thời điểm t;  
Hình 1. Biến thiên ALNLR và ứng suất hiệu quả theo gia tải bằng tải trọng tĩnh  
σv (z)’: ứng suất hiệu quả tại thời điểm t;  
σ0’ = ứng suất hiệu quả ban đầu  
2.2 Độ cố kết  
Độ cố kết (ĐCK) thường được dùng như một  
từ số liệu lún hoặc biến đổi áp lực nước lỗ  
rỗng (ALNLR).  
trong những tiêu chuẩn để đánh giá hiệu qủa 3. CÁC PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH ĐỘ  
của việc xử lý nền bằng phương pháp gia tải CỐ KẾT  
trước bằng khối đắp hoặc bằng hút chân  
3.1 Xác định độ cố kết theo Áplực nước l ỗ rỗng  
không. Nó cũng thường được dùng như một  
Áp lực nước lỗ rỗng thặng dư tăng lên do quá  
chi tiết kỹ thuật trong hợp đồng của dự án cải  
trình gia tải và tiêu tán dần về giá trị “0” khi cố  
tạo, xử lý nền đất yếu. ĐCK thường được tính  
kết đạt 100%.  
2
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 39 - 2017  
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
8
Độ cố kết theo áp lực nước lỗ rỗng: U% =  
umax ut  
S(t) S[1  
exp(Ct )]  
(3)  
2  
.100%  
(1)  
2Cv  
umax  
Cr  
De2 F(n) 4H 2  
n2 3n2 1  
Với C   
F(n)   
,
umax: Áp lực nước lỗ rỗng lớn nhất  
ut: Áp lực nước lỗ rỗng tại thời điểm t  
ln(n)   
n2 1  
4n2  
Tuy nhiên, tỷ số này chỉ cho ĐCK của một  
phân tố đất không phải là ĐCK bình quân. Để  
tính ĐCK bình quân, cần lập được phân bố  
ALNLR trên toàn chiều sâu tầng đất.  
Trong đó: Cr - hệ số cố kết hướng tâm  
Cv - hệ số cố kết theo phương thẳng đứng  
De - đường kính ảnh hưởng của thiết bịtiêu nước  
8
3.2 Xác định độ cố kết theo số liệu đo lún  
(phương pháp Asaoka, 1978)  
S(t  t) S[1  
exp(C * (t  t)]  
2  
Độ cố kết thường được tính bằng tỷ số của độ S[1exp(C *t)]exp(C *t)* S(t) (4)  
lún hiện tại và độ lún cuối cùng.  
Biến đổi đặt qua các hệ số, (4) có thể viết  
dưới dạng:  
St  
U   
(2)  
Sod  
Sn = 0 + 1Sn-1  
(5)  
Vì vậy điểm mẫu chốt của phương pháp này  
là xác định (dự báo) độ lún cuối cùng (lún ổn  
định).  
Sn : độ lún của nền đất tại thời điểm thứ n  
Sn-1 : độ lún của nền đất tại thời điểm thứ n-1  
0 ,1 : các tham số (các hằng số không đổi)  
Có nhiều phương pháp dự tính độ lún cuối  
cùng. Trong đó, các phương pháp phổ biến  
thường được dùng như phương pháp của  
Asaoka (1978) [7] và phương pháp hypecbolic  
(Shidharan và Rao, 1981).  
1 là độ dốc của đường thẳng hồi quy mô  
phỏng chính xác nhất  
S và S  
cách nhau một khoảng thời gian  
t
t+Δt  
tương đối lớn, tùy thuộc vào tốc độ lún cố kết  
và sai số của thiết bị quan trắc.  
Dự báo độ lún theo phương pháp Asaoka  
(1978). Điều kiện áp dụng là đất yếu  
tương đối đồng nhất, thoát nước 1 phía  
hoặc 2 phía.  
Theo lý thuyết cố kết, đối với tải trọng không  
đổi, đường quan hệ này là đường thẳng và sẽ  
giúp ta tính các thông số cố kết khác nhau ở  
điều kiện thực tế, độ lún sơ cấp được xác định  
tại giao điểm của đường lún lập được với  
đường phân giác của góc phần tư thứ nhất như  
trên Hình 2 [7]  
Nguyên tắc của phương pháp Asaoka:  
Phân tích Asaoka sử dụng các giá trị quan trắc  
đo lún từ thực tế để xác định lại các thông số  
cố kết của đất nền từ đó kiểm tra lại thiết kế  
với số liệu thu được.  
Trình tự phân tích như sau :  
- Quan trắc độ lún của nền đất yếu dưới nền  
đắp trong một khoảng thời gian  
Phân tích Asaoka qua các giá trị quan trắc qua  
lập luận toán học rút ra quan hệ giữa các độ  
lún tại các thời điểm khác nhau.  
- Thiết lập biểu đồ quan hệ biểu diễn các điểm  
Sn, Sn-1, Sn-2, Sn-3  
…
Lún theo thời gian:  
- Tìm đường thẳng hồi quy cho các điểm này.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 39 - 2017  
3
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
- Xác định giao cắt của đường Sn ~ Sn-1 với là độ lún ổn định của nền.  
đường phân giác. Hoành độ của điểm giao cắt  
a) Quan trắc lún theo thời gian  
Hình 2. Phân tích dự báo lún theo phương pháp Asaoka  
4. NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ ĐỘ CỐ KẾT Nội, đất được chế bị tương đồng với đất sét  
b) Lập quan hệ Sn ~ Sn-1  
CHO MÔ HÌNH THỰC NGHIỆM  
pha bão hòa nước.  
4.1 Mục đích nghiên cứu  
- Tải trọng gia tải trước: Gia tải tĩnh với 2 mức  
tải trọng P1 = 9 kN/m2, P2 = 18 kN/m2. Các giá  
trị tải trọng này được xác định dựa trên nguyên  
tắc: i)Tải trọng gia tải nhỏ hơn tải trọng phá  
hoại đất nền và ii) Tổng tải trọng gia tải nén  
trước lớn hơn hoặc bằng 1,2 lần tổng tải trọng  
thiết kế của công trình [1;5]  
Nghiên cứu quá trình cố kết của nền đất yếu  
được gia tải trước kết hợp xử lý thoát nước  
thẳng đứng bằng bấc thấm.  
- Xác định quá trình biến thiên của ALNLR,  
biến dạng lún tại các vị trí nghiên cứu  
- Đánh giá kết quả tính độ cố kết bằng các  
phương pháp khác nhau, từ đưa ra các khuyến  
nghị áp dụng trong thực tế  
- Bố trí thiết bị thoát nước thẳng đứng: bấc  
thấm được bố trí với khoảng cách hiệu quả  
(1,0 x1,0) m, có chiều dài xuyên suốt khối  
đất. Lớp cát dày 0,2 m trên mặt khối đất vừa  
có nhiệm vụ tiêu thoát nước, vừa có nhiệm  
vụ gia tải.  
4.2 Thiết kế mô hình thí nghiệm  
Mô hình vật lý được xây dựng tại phòng thí  
nghiệm Địa kỹ thuật, Trường Đại học Thủy  
lợi. Sơ đồ bố trí mô hình thí nghiệm như ở  
Hình 3  
- Thiết bị quan trắc ALNLR, biến dạng lún:  
các Piezometer (PIE) để quan trắc ALNLR, tín  
hiệu được kết nối với bộ đọc dữ liệu  
Datalogger hiện thị bởi phần mềm Logview  
thông qua máy tính. Các Tenxomet (TEN) để  
quan trắc lún và giá trị được đọc trên đồng hồ  
đo. Các PIE và TEN được bố trí dọc cạnh bấc  
thấm và giữa hai bấc thấm tại các độ sâu  
nghiên cứu.  
- Mô hình gồm khối hộp hình chữ nhật có kích  
thước (2,0 x1,0x1,2) m, thể tích V = 2,4 m3,  
được ghép bởi hệ khung bằng thép và hệ kính  
cường lực dày 1,0 cm ở các mặt bên.  
- Mẫu đất: MHVL mô phỏng một khối đất cho  
loại đất yếu nghiên cứu. Mẫu đất là đất sét pha  
được lấy từ khu vực Yên Nghĩa, thành phố Hà  
4
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 39 - 2017  
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
1- nền sét pha, 2- bấc thấm  
3- Pierometer, 4- Bàn đo lún  
a) Sơ đồ bố trí thiết bị quan trắc  
b) Gia tải ở mức P2 = 18 kN/m2  
Hình 3. Sơ đồ bố trí thí nghiệm mô hình  
0.00  
4.3 Kết quả quan trắc thí nghiệm mô hình  
-0 .01  
4.3.1 Kết quả quan trắc áp lực nước lỗ rỗng  
0
-0 .02  
-0 .03  
S( z=0, canh bac)  
S( z=25, can h bac)  
S( z=50, can h bac)  
-2  
-4  
S( z=75, can h bac)  
S( z=0, giua 2 bac)  
S( z=25, giua 2 bac)  
S( z=50, giua 2 bac)  
S( z=75, giua 2 bac)  
-6  
-0 .04  
-0 .05  
-8  
u (z=25, canh bac)  
u (z=50, canh bac)  
-10  
u (z=75, canh bac)  
u (z=25, giua 2 bac)  
T (ngày)  
-12  
0
20  
40  
60  
80  
100  
120  
u (z=50, giua 2 bac)  
u (z=75, giua 2 bac)  
-14  
-16  
Hình 5. Kết quả quan trắc lún trong nền  
4.4. Đánh giá độ cố kết  
-18  
T (ngày)  
0
20  
40  
60  
80  
100  
120  
Hình 4. Biến thiên áp lực nước lỗ rỗng dư  
trong nền  
Trong thực tế, các dự án cải tạo, xử lý nền đất  
yếu thường đưa ra yêu cầu nền phải đạt độ cố  
kết nào đó sau một thời gian nhất định. Trường  
hợp chung mức độ cố kết phải đạt được tối  
thiểu U = 90% [5]  
Kết quả cho thấy, quan trắc ALNLR tại các  
điểm cạnh bấc thấm cho các đường biến thiên  
dốc hơn, ALNLR suy giảm nhanh hơn; quan  
trắc ALNLR tại các điểm nằm giữa hai bấc (xa  
bấc thấm) cho các đường thoải hơn, ALNLR  
suy giảm chậm hơn. Kết quả này phù hợp với  
nghiên cứu lý thuyết.  
Căn cứ vào kết quả quan trắc diễn biến  
ALNLR và kết quả đo lún, nghiên cứu sẽ kiểm  
tra xem, nếu tính theo phương pháp ALNLR  
độ cố kết đạt 90% thì tại thời điểm đó, tính  
theo phương pháp dự báo lún thì độ cố kết đạt  
ở mức nào.  
4.3.2 Kết quả quan trắc lún  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 39 - 2017  
5
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
Như vậy, bài toán ở đây là với tải trọng chọn Quan trắc ALNLR và ghi lại giá trị lớn nhất,  
trước thì sau thời gian bao lâu nền đạt độ cố umax  
kết theo yêu cầu (để có thể dỡ tải và thực hiện  
các công việc tiếp theo)  
umax ut  
Ghi lại giá trị ALNLR và thời điểm tương ứng  
đểU   
.100% 90%  
4.4.1 Thời gian cố kết theo phương pháp  
umax  
ALNLR  
Bảng 1. Thời gian để nền đạt cố kết 90% theo phương pháp ALNLR  
umax u  
umax  
umax  
(kN/m2)  
15,73  
15,63  
15,24  
17,23  
17,29  
16,42  
ut  
(kN/m2)  
1,50  
Độ sâu điểm  
quan trắc  
Thời gian đạt  
được (ngày)  
t .100% (%)  
Vị trí quan trắc  
Cạnh bấc thấm  
z=25 cm  
z=50 cm  
z=75 cm  
z=25 cm  
z=50 cm  
z=75 cm  
90,4  
90,5  
90,4  
90,3  
90,3  
90,9  
46  
50  
1,28  
1,36  
41  
Giữa hai bấc  
thấm  
1,66  
100  
107  
97  
1,67  
1,49  
4.4.2 Kiểm tra lại độ cố kết theo phương pháp mức nào. Kết quả tính như Bảng 2  
dự báo lún  
Cột (3): kết quả đo lún tại thời điểm tương ứng  
Như ở trên đã trình bày, nếu tính theo phương cột (6), thời điểm mà theo phương pháp  
pháp ALNLR độ cố kết đạt 90%, thì tại thời ALNLR độ cố kết đạt 90%  
điểm đó, tại những điểm quan trắc tính theo  
phương pháp dự báo lún thì độ cố kết đạt ở  
điểm nghiên cứu  
Cột (4): kết quả dự báo độ lún ổn định tại các  
Bảng 2. Kết quả tính lại độ cố kết theo phương pháp dự báo lún  
Thời điểm  
St  
Độ sâu điểm  
quan trắc  
St (quan  
trắc) (cm)  
Sôđ (theo  
Asaoka) (cm)  
.100%  
Vị trí quan trắc  
đo lún  
(ngày)  
Sôđ  
(1)  
(2)  
(3)  
(4)  
(5)  
(6)  
46  
Cạnh bấc thấm  
z=25 cm  
z=50 cm  
z=75 cm  
z=25 cm  
z=50 cm  
z=75 cm  
2,83  
1,92  
0,89  
2,19  
0,89  
0,45  
2,87  
1,93  
0,89  
2,49  
1,00  
0,50  
98,6  
99,5  
99,8  
87,9  
88,5  
89,5  
50  
41  
Giữa hai bấc  
thấm  
100  
107  
97  
6
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 39 - 2017  
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
Từ kết quả độ cố kết theo ALNLR (Bảng 1) và cố kết dự tính theo số liệu ALNLR có xu thế  
kết quả tính theo phương pháp dự báo lún của giảm thiểu so với thực tế trung bình của nền.  
Asaoka (Bảng 2), nhận xét rằng:  
4. KẾT LUẬN  
Tại thời điểm nền đạt độ cố kết 90% theo  
Mục đích của quan trắc địa kỹ thuật trong quá  
phương pháp ALNLR thì:  
trình gia tải cũng như trong giai đoạn thi công  
- Phương pháp dự tính lún, giá trị độ cố kết lớn nhằm kiểm tra lại các số liệu, kết quả tính toán  
hơn 90% tại các điểm dọc bấc thấm (những đã dự báo trong bước thiết kế cũng như theo dõi  
điểm có độ lún lớn), giá trị tăng từ 8,7 đến cảnh báo kịp thời các sự cố có thể xảy ra trong  
9,8%  
quá trình khai thác phục vụ đánh giá tổng thể  
điều kiện làm việc của công trình theo thời gian.  
- Phương pháp dự tính lún, độ cố kết nhỏ hơn  
90% tại các điểm cách xa bấc thấm (giữa hai Trong nghiên cứu này, kết quả thí nghiệm mô  
bấc thấm), nhỏ hơn 0,6 đến 1,7%  
hình vật lý đã xây dựng được quy luật biến  
thiên của ALNLR, biến dạng lún của nền trong  
quá trình cố kết của loại đất sét yếu khu vực  
Hà Nội. Qua tính toán cố kết tại các điểm quan  
trắc, cho thấy mức độ sai khác giữa các  
phương pháp tính, có thểtừ 0,6 đến 9,8%.  
Bảng 1 còn cho thấy, để đạt độ cố kết 90%,  
những điểm dọc bấc thấm chỉ cần thời gian 41  
đến 50 ngày, trong khi những điểm xa bấc  
thấm thì từ 97 đến 107 ngày.  
3.4 Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sai khác  
độ cố kết  
Quan trắc công trình trong thực tế, do điều  
kiện tài chính hạn chế số lượng thiết bị quan  
trắc, các thiết bị quan trắc thường đặt ở vị trí  
3.4.1 Đối với phương pháp dự báo lún  
- Độ lún ổn định Sôđ nhận được từ phương sẽ cho kết quả nguy hiểm nhất: các Piezometer  
pháp Asaoka chịu ảnh hưởng của khoảng thời đo ALNLR thường được bố trí được tại nơi có  
gian lựa chọn. Matyas và Rothenburg (1996) ALNLR lớn nhất xảy ra (tại vị trí xa bấc  
[10] đã chỉ ra rằng khoảng thời gian chọn càng thấm); các hộp đo lún thường bố trí ở vị trí  
dài thì Sôđ dự tính càng nhỏ, và khi đó độ cố tâm có độ lún lớn nhất.  
kết tính ra được sẽ lớn hơn thực tế.  
Cách làm này thường dẫn đến kết quả dự báo  
- Các số đo lún có thể chịu ảnh hưởng của cố độ cố kết thiên lớn hoặc thiên nhỏ. Vì vậy,  
kết thứ cấp, biến dạng đo được có thể bao gồm nghiên cứu này có khuyến nghị:  
cả độ lún tức thời. Tất cả các nhân tố trên đều  
- Cần mô phỏng, phân tích bài toán cố kết  
làm gia tăng giá trị độ lún của đất nền. Vì vậy  
bằng phương pháp PTHH để tìm ra điểm có độ  
độ cố kết cũng tăng khi dùng các số liệu lún.  
lún và ALNLR trung bình, đại diện cho nền  
- Thiết bị đo lún thường được đặt tại các vị trí đất và sau đó bố trí thiết bị quan trắc tại điểm  
tâm ở đó độ lún lớn nhất có thể xảy ra. Do vậy, đó. Tiến hành thu thập số liệu phục vụ công  
độ lún đo được sẽ lớn hơn độ lún trung bình tác đánh giá độ cố kết, dự báo thời gian tiếp  
của cả nền, và kết qủa dự báo độ cố kết sẽ tục thi công giai đoạn tiếp theo, gia tải thêm  
thiên lớn.  
nhằm tăng tiến độ thi công,…  
3.4.2 Đối với phương pháp xác định theo Áp - Kết quả đánh giá có sai khác giữa các  
lực nước lỗ rỗng  
phương pháp tính, cho nên các tài liệu kỹ thuật  
đánh giá độ cố kết cần nêu rõ là xác định theo  
phương pháp nào. Tuy nhiên khi cần đánh giá  
độ cố kết đã đạt sấp xỉ 90% thì lúc đó biến  
thiên của cả độ lún và ALNLR đều nhỏ đi.  
Quan trắc ALNLR được bố trí ở những vị trí  
có nguy cơ mất an toàn, các Piezometer đo  
ALNLR chỉ bố trí được tại nơi có ALNLR lớn  
nhất xảy ra (tại vị trí xa bấc thấm). Do vậy, độ  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 39 - 2017  
7
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
Trong trường hợp này, ảnh hưởng do sai số về nhau giữa độ cố kết xác định bằng hai cách sẽ  
số liệu lún và ALNLR đến việc dự tính độ cố nhỏ hơn, và khi đó có thể xác định theo bất cứ  
kết trở nên kém ý nghĩa. Như vậy, sự khác phương pháp nào.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] 22TCN 262-2000, Quy trình khảo sát thiết kế nền đường ô tô đắp trên đất yếu  
[2] Kannitha Solyphan, 2002, Biến dạng của đất dính mềm có xét đến tính dị hướng cố kết  
thấm và phương pháp xác định các hệ số cố kết của đất, Luận án tiến sĩ kỹ thuật-Đại học  
Xây dựng  
[3] Nguyễn Lan và nnk, Các phương pháp phân tích, đánh giá kết quả quan trắc địa kỹ thuật  
nền đường đắp cao trên đất yếu - ứng dụng cho tuyến đường vành đai phía nam thành phố  
Đà Nẵng - gói thầu C57.  
[4] R.Whitlow, 1999, Cơ học đất, Tập 2. Bản dịch của Nguyễn Uyên và Trịnh Văn Cương,  
Đại học Thủy lợi  
[5] TCXD 9355-2012, Gia cố nền đất yếu bằng bấc thấm thoát nước.  
[6] Vũ Đức Sỹ, 2004, Nghiên cứu một số vấn đề về tính toán lún theo thời gian và xử lý nền  
đường ô tô đắp trên đất yếu, Luận án tiến sĩ kỹ thuật-Đại học Giao thông vận tải  
[7] Asaoka, A. Observational procedure of settlement prediction. Soils and Foundations  
1978;18(4) pp:87–101.  
[8] Chunlin Li, A simplified method for prediction of embankment settlement in clays. Journal  
of Rock Mechanics and Geotechnical Engineering 6(2014) pp 61-66  
[9] J. Chu and S. W. Yan, 2005, Estimation of Degree of Consolidation for Vacuum  
Preloading Projects, international journal of geomechanics © ASCE.  
[10] Matyas, E., and Rothenburg, L. 1996. Estimation of total settlement of embankments by  
field measurements. Can. Geotech. J., 33, 834–841.  
8
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 39 - 2017  
pdf 8 trang Mãnh Khiết 13/01/2024 9240 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu đánh giá độ cố kết của nền đất yếu được gia tải trước kết hợp thoát nước thẳng đứng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_danh_gia_do_co_ket_cua_nen_dat_yeu_duoc_gia_tai_t.pdf