Giáo trình Công nghệ hàn - Phần VII: Hàn hồ quang điện cực không nóng chảy trong môi trường khí bảo vệ

PHẦN VII  
HÀN HỒ QUANG ĐIỆN CỰC KHÔNG  
NÓNG CHẢY TRONG MÔI TRƯỜNG  
KHÍ BẢO VỆ  
1
GIỚI THIỆU PHƯƠNG PHÁP HÀN (GTAW)  
Hàn hồ quang điện cực không nóng chảy trong khí trơ bảo vệ  
(GTAW) “Là phương pháp hàn hồ quang sử dụng hồ quang giữa một  
điện cực Tungsten (không nóng chảy ) và bể hàn (hình 1). Phương  
pháp này được sử dụng cùng với khí bảo vệ và không dùng áp lực.  
Kim loại điền đầy có thể được dùng hoặc không cần dùng”.  
Phương pháp này đã được phát triển từ những năm 1930 bằng hồ  
quang heli hoặc hàn hồ quang khí trơ, và được dùng để hàn các kim  
loại không có chứa sắt, đặc biệt mangan và nhôm, và các mối ghép  
kim loại khó hàn. TIG đúng nghĩa là hàn điện cực không nóng chảy  
trong khí trơ tungsten inert gas welding và theo Châu âu nó được gọi  
là WIG welding (dùng từ Wonfram).  
H−íng hµn  
K×m hµn  
KhÝ b¶o vÖ  
Kim lo¹i mèi  
hµn nãng ch¶y  
Kim lo¹i mèi  
hµn ®«ng ®Æc  
§iÖn cùc Tungsten  
Kim lo¹i  
®iÒn ®Çy  
Kim lo¹i c¬ b¶n  
Hình 1 - Sơ đồ phương pháp hàn GTAW  
2
YẾU TỐ CƠ BẢN CỦA QUÁ TRÌNH HOẠT ĐỘNG  
Phương pháp hàn GTAW, trình bày trong hình 2, sử dụng nhiệt của  
hồ quang giữa điện cực tungsten không nóng chảy và kim loại nền.  
Hồ quang phát triển tập chung có cường độ nhiệt rất lớn, khoảng  
chừng 11.0000F (61000C), khi đó làm nấu chảy bề mặt của kim loại cơ  
bản tạo thành vũng hàn.  
1
Phương pháp hàn TIG – VTH/Apave  
Kim loại điền đầy không cần sử dụng  
khi các vật liệu mỏng, các mối hàn  
ghép bẻ gờ và các mối ghép gấp mép,  
được dùng để hàn. Đối với các vật  
liệu có chiều dày lớn hơn, dây hàn  
thường được sử dụng và được cung  
cấp vào theo ống dẫn từ bên ngoài  
hoặc que hàn điền đầy đơn lẻ. Kim  
loại điền đầy không chuyển dịch  
ngang qua cột hồ quang nhưng được  
làm nóng chảy bởi hồ quang. Vùng  
hồ quang được bảo vệ khỏi khí quyển  
bởi khí trơ bảo vệ, phun ra từ ống  
phun khí của kìm hàn. Khí bảo vệ đẩy  
không khí cũng như oxy và nitơ của không khí, không cho tiếp xúc  
với kim loại nóng chảy hoặc điện cực tungsten nóng. Khi kim loại  
nóng chảy nguội dần đi, sự liên kết xuất hiện và các phần kim loại đã  
được đúc (tạo nên mối hàn). Bể hàn nhỏ, không bị bắn toé và không  
có khói. Kết quả mối hàn mịn, đều và đòi hỏi công việc sửa sang lần  
cuối là nhỏ nhất.  
Hình 2 – Phương pháp hàn hồ quang GTAW  
ƯU ĐIỂM VÀ LĨNH VỰC ĐƯỢC SỬ DỤNG  
3
Những đặc điểm nổi bật của phương pháp hàn GTAW:  
ƒ Phương pháp hàn GTAW tạo ra các mối hàn có chất lượng rất  
cao trong gần như tất cả các kim loại và hợp kim.  
ƒ Trở nên rất đơn giản, nếu hoàn toàn các vị trí hàn được làm  
sạch có hiệu quả.  
ƒ Hồ quang và bể hàn có thể nhìn thấy rõ ràng đối với thợ hàn.  
ƒ Kim loại điền đầy không chuyển dịch trong cột hồ quang, do  
vậy bể hàn nhỏ và không bắn tóe, dễ điều khiển và khống chế.  
ƒ Việc hàn có thể được thực hiện ở mọi vị trí trong không gian.  
ƒ Nó có thể sử dụng để hàn hầu hết các loại kim loại, kể cả các  
liên kết kim loại không đồng nhất.  
ƒ Nó cho phép điều khiển tách biệt nguồn năng lượng và kim  
loại điền đầy.  
Phương pháp này tạo cho người thợ hàn kiểm soát toàn bộ đối với  
công việc đòi hỏi độ chính xác cao. Nhiệt độ có thể được kiểm soát rất  
gần và hồ quang có hướng đi chính xác. GTAW thường được sử dụng  
nhiều trong công việc chế tạo. Chủ yếu trên các vật liệu mỏng. Nó rất  
2
Phương pháp hàn TIG – VTH/Apave  
hữu ích cho công việc bảo dưỡng và sửa chữa và hàn các kim loại  
hiếm.  
Hàn hồ quang điện cực không nóng chảy trong khí trơ bảo vệ được sử  
dụng rộng rãi đối với các mối ghép ống mỏng và chế tạo các đường  
hàn lót trong mối ghép ống. Các mối hàn hồ quang tungsten thường  
có chất lượng rất cao.  
Phương pháp điều khiển bằng tay được áp dụng phần lớn trong công  
việc hàn. Tuy nhiên, cả hai phương pháp cơ khí và tự động cũng được  
dùng. Thiết bị kìm hàn và hệ thống cung cấp dây kim loại điền đầy có  
thể được dùng đối với hàn bán tự động nhưng chúng thường có giới  
hạn sử dụng.  
Phương pháp hàn GTAW là phương pháp hàn được ở tất cả các tư thế  
(bảng 1). Hàn trong các vị trí khác ngoài các vị trí hàn bằng trên kim  
loại cơ bản phụ thuộc vào dòng điện hàn và kỹ năng của người thợ  
hàn. Phương pháp này được phát triển khởi đầu cho hàn các vật liệu  
khó hàn. Nó có thể được dùng để hàn các kim loại có tính chất khác  
nhau hơn bất cứ phương pháp hàn hồ quang nào khác (bảng 2).  
Vị trí hàn  
Xếp loại  
1. Bằng  
A
Góc ngang  
2. Ngang  
3. Đứng  
4. Trần  
A
A
A
A
A
5. Ống  
cố định  
Bảng 1 - Vị trí hàn ứng dụng cho hàn GTAW  
3
Phương pháp hàn TIG – VTH/Apave  
Kim loại cơ bản  
Tính chất hàn được  
Nhôm  
Có thể hàn được  
Đồng thiếc  
Đồng đỏ  
Đồng niken  
Gang  
Có thể hàn được  
Có thể hàn được  
Có thể hàn được  
Có thể hàn được nhưng  
không được phổ biến  
Có thể hàn được nhưng  
không được phổ biến  
Có thể hàn được  
Sắt rèn  
Chì  
Mangan  
Có thể hàn được  
Niken  
Có thể hàn được  
Các kim loại quý  
Thép carbon thấp  
Thép carbon trung bình và cao  
Thép hợp kim  
Thép không gỉ  
Thép dụng cụ  
Titan  
Có thể hàn được  
Có thể hàn được  
Có thể hàn được  
Có thể hàn được  
Có thể hàn được  
Có thể hàn được  
Có thể hàn được  
Có thể hàn được  
Tungsten  
Bảng 2 - Tính chất hàn được của các kim loại cho GTAW  
Phương pháp hàn GTAW có thể hàn rất tốt đối với kim loại mỏng  
thông thường bằng phương pháp hàn tự động và không dùng đến dây  
kim loại điền đầy. Đối với các vật liệu có chiều dày lớn hơn 3.2 mm,  
công việc chuẩn bị mối ghép thường đòi hỏi kỹ. Tuy nhiên, phụ thuộc  
vào các dạng kim loại cơ bản và vị trí hàn. Ngoài ra các kim loại có  
chiều dày lớn hơn thì kỹ thuật hàn nhiều lớp thường được đòi hỏi.  
(bảng 3)  
chiều dày  
Hệ số  
.00 .01 .06 .12 3/1 1/ 3/  
3/  
in  
1/2  
12.  
1
2
4
8
0.1 6.  
10 20  
mm  
0.4 1.6 3.2 4.8  
10  
19 25 51  
Một lớp hàn  
không cần  
chuẩn bị mối  
ghép  
Một lớp hàn  
có chuẩn bị  
mối ghép  
Nhiều lớp  
hàn  
Bảng 3 - Giới hạn chiều dày kim loại cơ bản cho hàn GTAW  
4
Phương pháp hàn TIG – VTH/Apave  
4
NHƯỢC ĐIỂM  
Những nhược điểm và hạn chế của phương pháp hàn GTAW  
ƒ Tốc độ đông cứng chậm hơn so với các phương pháp hàn có  
điện cực nóng chảy.  
ƒ Thợ hàn phải khéo tay hơn và phối hợp nhịp nhàng hơn so với  
hàn GMAW hay SMAW khi hàn tay.  
ƒ Ít tiết kiệm hơn so với sử dụng các phương pháp có que hàn  
nóng chảy đối với các phân đoạn hàn dày trên 3/8 (10mm).  
ƒ Khó che chắn khu vực hàn một cách thích hợp ở những nơi có  
gió lùa.  
ƒ Năng suất hàn thấp.  
ƒ Giá thành tương đối cao do năng suất thấp.  
5
HỆ THỐNG HÀN VÀ DÒNG ĐIỆN  
Hệ thống hàn đối với phương pháp hàn hồ quang điện cực không  
nóng chảy trong môi trường khí trơ (GTAW), (xem hình 3). Đây là  
biểu đồ hệ thống được trình bày riêng không bắt buộc để lựa chọn các  
phần thiết bị phù hợp. Một là dây kim loại điền đầy cấp rời, hai là bàn  
đạp chân có thể được chọn dùng để điều chỉnh dòng điện trong khi  
hàn và thứ ba là kìm hàn được làm mát bằng nước, sử dụng khi hàn  
với dòng điện cao.  
Dòng điện không đổi (Constant Current) được sử dụng và nó có thể  
dùng với dòng hàn AC hoặc DC. Dòng DC có thể được sử dụng cùng  
với một trong hai loại phân cực. Tuỳ thuộc vào điều kiện công việc.  
Khi chức năng tần số cao được thêm vào để sử dụng cùng với phương  
pháp hàn GTAW dòng điện xoay chiều (AC), đòi hỏi phải thận trọng  
và chắc chắn. Điều này là cần thiết vì nguồn hàn được trang bị cùng  
với chức năng tần số cao, tia lửa bắn ra có khe hở, máy tạo dao động  
vốn là nguồn bức xạ tần số, điều đó có thể gây trở ngại cùng với sóng  
radio và thiết bị truyền hình.  
Máy hàn bao gồm tần số cao được lắp đặt đồng bộ hoặc tách rời bộ  
tần số cao phải được lắp đặt với chú ý đặc biệt đến nối đất và được  
bảo vệ đặc biệt. Nhà chế tạo cung cấp tài liệu hướng dẫn lắp đặt đặc  
biệt là giới hạn bức xạ tần số cao. Tài liệu hướng dẫn này yêu cầu tất  
cả các kim loại dẫn điện trong khu vực máy hàn phải được nối đất.  
5
Phương pháp hàn TIG – VTH/Apave  
Nguån n−íc  
lµm m¸t k×m  
Nguån khÝ tr¬  
Nguån hµn  
K×m hµn  
D©y dÉn  
®iÖn hµn  
D©y kim lo¹i  
®iÒn ®Çy  
Kim lo¹i  
c¬ b¶n  
Bµn ®¹p ch©n  
D©y kÑp m¸t  
D©y dÉn khÝ  
Hình 3 - Sơ đồ thiết bị hàn GTAW  
6
THIẾT BỊ YÊU CẦU  
NGUỒN HÀN  
Chủ yếu các thành phần của hệ thống phương pháp hàn GTAW là  
nguồn điện hàn. Nguồn hàn có đặc tính dòng điện không đổi  
(Constant Current -CC) được dùng cho hàn GTAW. Thường thì máy  
hàn dùng cho hàn hồ quang que hàn có vỏ bọc (SMAW) có thể được  
dùng cho hàn GTAW. Một vài loại bao gồm cả điều khiển từ xa và hệ  
thống lập trình.  
Tính chất đặc thù của hàn GTAW các chức năng điều khiển máy hàn  
có giới hạn từ 3 - 200A hoặc 5 - 300A cùng với giới hàn điện áp từ 10  
- 35V ở 60% chu kỳ làm việc.  
KÌM HÀN  
Kìm hàn dùng cho hàn GTAW được thiết kế và chỉ dùng riêng đối với  
phương pháp hàn GTAW. Có 4 loại kìm hàn cơ bản:  
8 Kìm hàn dùng cho hàn tự động  
8 Kìm hàn dùng cho hàn bằng tay  
8 Kìm hàn làm nguội bằng gió cho dòng điện thấp  
8 Kìm hàn làm nguội bằng nước cho dòng điện hàn cao  
6
Phương pháp hàn TIG – VTH/Apave  
Kìm hàn GTAW có các cáp gắn bó liên kết với nguồn hàn. Cung cấp  
dòng điện, khí bảo vệ và nước làm mát khi được dùng. Các dây cáp có  
chiều dài là 3.8 m hoặc 7.6 m và có thể được cấu tạo chung vào làm  
một hoặc ba bộ phận tách rời.  
Chúng thường bao gồm dây cáp có các khớp nối (rắc cắm) liên kết  
với nguồn hàn. Thiết kế bên trong và cấu trúc của kìm hàn tự động và  
kìm hàn tay rất nhỏ gọn. Chủ yếu khác nhau là được thêm vào tay  
cầm đối với kìm hàn tay.  
Kìm hàn tự động, thông thường bao gồm một giá đỡ. Chúng được đặt  
lên trong một hệ thống bao gồm các thanh rầm được điều chỉnh bằng  
nút bấm và bánh răng chuyền ăn khớp với giá đỡ điều chỉnh.  
7
CÁC LOẠI VẬT LIỆU ĐƯỢC SỬ DỤNG  
Các loại vật liệu được dùng trong hàn hồ quang điện cực Tungsten là  
kim loại điền đầy, khí bảo vệ, tới một mức độ nhỏ hơn, điện cực  
tungsten. Kim loại điền đầy không cần dùng khi hàn các vật liệu kim  
loại mỏng. Tuy nhiên, đối với phần lớn các ứng dụng kim loại điền  
đầy được thêm vào. Kích thước của dây kim loại điền đầy phụ thuộc  
vào chiều dày của vật liệu cơ bản và nó quyết định dòng điện hàn.  
Kim loại điền đầy thường được sử dụng dùng chung cho điều khiển  
bằng tay. Nhưng việc cung cấp tự động có thể được dùng.  
7.1 KIM LOẠI ĐIỀN ĐẦY  
American Welding Society (AWS) cung cấp các đặc điểm kỹ thuật  
của kim loại điền đầy cho hàn GTAW, phổ biến nhất hiện nay “ Các  
đặc điểm kỹ thuật cho các kim loại điền đầy thép carbon đối với hàn  
hồ quang khí bảo vệ”, điều đó nó bao gồm các kim loại điền đầy cho  
phương pháp hàn GTAW, PAW, và GMAW.  
Ký hiệu phân loại trên các dây hoặc thanh kim loại điền đầy được  
thêm vào chữ cái R, điều đó chỉ ra dây hàn không có vai trò của mạch  
điện. Hàn GTAW dùng toàn bộ thanh dài thẳng của dây hàn điền đầy  
cho ứng dụng điều khiển bằng tay. Ứng dụng hàn tự động có thể dùng  
dây hàn điền đầy từ ống xoắn ruột gà hoặc từ cuộn.  
7.2 ĐIỆN CỰC HÀN  
Vật liệu điện cực hàn đối với hàn GTAW là tungsten hoặc hợp kim  
tungsten. Tungsten có điểm nóng chảy cao hơn của bất cứ kim loại  
nào, vào khoảng 61700F (34100C).  
7
Phương pháp hàn TIG – VTH/Apave  
7 loại của điện cực tungsten đã được tiêu chuẩn hoá bởi (tiêu chuẩn  
AWS), cho các đặc điểm kỹ thuật đối với tungsten và hợp kim của  
tungsten. Và được trình bày gần đúng các thành phần, và màu được  
quy định trên đầu chóp của điện cực.  
Ký hiệu theo  
AWS  
EWP  
Màu nhận  
diện  
Xanh lá cây  
Da cam  
Đen  
Thành phần  
Wolfram tinh khiết  
EWCe-2  
EWLa-1  
EWTh-1  
EWTh-2  
EWZr-1  
EWG  
97.3%W, 2% oxit cerium  
98.3%W, 1% oxit lanthanum  
98.3%W, 1% oxit thorium  
Vàng  
Đỏ  
97.3%W, 2% oxit thorium  
99.1%W, 0.25% oxit ziconium  
94.5%W, phần còn lại không áp dụng  
Nâu  
Xám  
Bảng 4 - Loại, màu và thành phần hoá học của điện cực Tungsten  
Các điện cực tungsten thường được sử dụng có các đường kính  
được giới hạn từ 0.2in (0.5 mm) tới ¼ in (6.4 mm), và chiều dài từ 3 in (75  
mm) tới 24 in ( 610 mm).  
Điện cực khi dùng với  
nguồn DCEN  
Điện cực khi dùng với  
nguồn AC hoặc DCEP  
Gãc ®é ®Çu  
mót ®iÖn cùc  
Gãc thon dÇn cña  
®Çu ®iÖn cùc  
B¸n kÝnh  
®Çu mót  
B¸n kÝnh  
®Çu mót  
§−êng kÝnh  
®iÖn cùc  
§−êng kÝnh  
®Çu mót  
§−êng kÝnh  
®Çu mót  
§−êng kÝnh  
®iÖn cùc  
§−êng kÝnh  
®iÖn cùc  
Hình 3 - Hình dạng đầu điện cực dòng điện AC và DC  
cho phương pháp hàn GTAW  
8
Phương pháp hàn TIG – VTH/Apave  
7.3 PHÂN LOẠI ĐIỆN CỰC  
AWS phân loại hệ thống được sử dụng.  
˜ Chữ cái E làm ký hiệu bắt đầu, tương ứng với “ Electrode”.  
˜ Chữ cái W cho biết chủ yếu là tungsten (Wonfram).  
˜ Chữ cái P cho biết điện cực về cơ bản là tungsten nguyên chất.  
˜ Chữ Ce, La, Th và Zr cho biết rằng điện cực đã được hợp kim  
cùng với oxit của cerium, lathanum, thorium, hoặc ziconium,  
tương ứng.  
˜ Chữ số ở sau cùng của một vài phân loại chỉ cho biết khác  
nhau của các mức độ thành phần trong giới hạn cụ thể nhóm.  
˜ Chữ cái G cho biết rằng điện cực tổng hợp phân loại và có thể  
không chỉ rõ nguyên tố hợp kim.  
Phân loại điện cực theo AWS được trình bày trong (bảng 4)  
ª Loại EWP là tungsten nguyên chất. Chúng là loại rẻ tiền trong  
nhóm các điện cực tungsten và thường được dùng cho các công  
việc có mục đích tổng hợp trên các kim loại khác nhau, cho phép  
mật độ dòng tương đối thấp, chống nhiễm bẩn tốt, thường dùng  
hàn đối với các ứng dụng thông thường.  
ª Loại EWCe-2 là một loại tương đối mới được phân loại, và bao  
gồm oxit cerium. Ceria làm tăng thêm khả năng dễ dàng khi mồi  
hồ quang, cải thiện sự ổn định của hồ quang và giảm bớt tốc độ  
cháy lụi (sự sói mòn). không có tính phóng xạ, ổn định và có tuổi  
thọ cao.  
ª Loại EWLa-1 bao gồm khoảng chừng 1% oxit lanthanum. Các lợi  
thế và đặc điểm riêng là rất giống nhau với các đặc điểm của điện  
cực EWCe-2.  
ª Loại EWTh-1 và EWTh-2 bao gồm khoảng chừng 1 hoặc 2 %  
oxit thorium, thorium là một loại vật liệu có tính phóng xạ ở mức  
thấp, và đối với số lượng của thorium có mặt trong điện cực, mức  
độ của sự phóng xạ không có ảnh hưởng tới mối nguy hiểm sức  
khoẻ. Các điện cực này được thiết kế đối với ứng dụng dòng DC.  
Chúng dễ mồi hồ quang, ổn định hồ quang và có thể có tác dụng  
nhiệt độ không đáng kể. 2 % thorium mồi hồ quang tốt hơn và ổn  
9
Phương pháp hàn TIG – VTH/Apave  
định hơn, và có dòng cao, kèm theo năng suất cao. Thận trọng khi  
làm công việc mài sửa điện cực hoặc mài nhọn điện cực.  
ª Loại EWZr-1 Bao gồm khoảng chừng ½ của 1% oxit zirconium,  
việc cho thêm zirconium vào điện cực khi chế tạo điện cực hợp  
kim tungsten làm cho có khả năng tốt hơn khi phát ra các tia điện  
tử, cung cấp khả năng chịu được dòng điện lớn, và cho sự ổn định  
hồ quang cùng với việc mồi hồ quang dễ dàng. Nó cũng ít bị hao  
mòn điện cực, thích hợp với hàn AC khi hàn nhôm do việc cho  
thêm ziconia làm cho việc duy trì giọt cầu ở đầu điện cực khi hàn  
nhôm ổn định hơn, do vậy ít bị mòn (không có tính phóng xạ như  
là thoria).  
ª Phân loại EWG cung cấp đối với điện cực Tungsten bao gồm các  
phần cộng thêm theo lý thuyết hoặc không được chỉ rõ oxit đất  
hiếm hoặc sự hoá hợp. Phần thêm vào phải theo lý thuyết bởi nhà  
sản xuất điện cực.  
AC  
Đ. kính  
(mm)  
AC  
Xung không đối  
xứng  
Xung đối xứng  
DCEN  
DCEP  
EWX-X EWX-X  
điện  
cực phun  
mỏ  
EWP  
EWX-X  
EWP  
EWX-X  
0.25  
0.50  
1
6.4  
6.4  
Tới 15  
5-20  
(*)  
(*)  
Tới 15  
5-15  
Tới 15  
5-20  
Tới 15  
10-20  
Tới15  
5-20  
8-9.8  
9.8  
15-80  
(*)  
10-60  
15-80  
20-30  
20-60  
1.6  
2.4  
3.2  
4
70-150  
150-250  
250-400  
400-500  
500-750  
750-1000  
10-20  
15-30  
25-40  
40-55  
55-80  
80-125  
50-100  
100-160  
150-200  
200-275  
250-350  
325-450  
70-150  
140-230  
225-325  
300-400  
400-500  
500-630  
30-80  
60-120  
100-180  
160-250  
200-320  
290-390  
340-525  
12.7  
15.9  
15.9  
19  
60-130  
100-180  
160-240  
190-300  
250-400  
4.8  
6.4  
19  
Ghi chú: Tất cả các giá trị dựa trên ứng dụng cho khí bảo vệ là  
Argon, các giá trị dòng điện khác có thể cũng được tuỳ thuộc vào khí  
bảo vệ, loại thiết bị và ứng dụng.  
(*) Các kết hợp này ít được sử dụng  
Bảng 5 Đưa ra dòng điện hàn liên tục cho mỗi loại điện cực có liên quan  
tới kiểu dòng điện và kích thước điện cực.  
10  
Phương pháp hàn TIG – VTH/Apave  
Khi lắp đặt một điện cực mới vào trong kìm hàn, màu ở đầu chót  
được quay vào phía trong của kìm hàn cũng chính vì điều đó mà nó  
không bị phá hỏng bởi hồ quang (dễ nhận biết trong quá trình sử  
dụng), ống kẹp phải phù hợp với kích thước của điện cực và toàn bộ  
bộ phận lắp ráp phải chặt chẽ cũng chính điều đó làm cho nhiệt của hồ  
quang được truyền vào vỏ kìm và giá đỡ rồi toả đi. Điện cực phần nối  
dài từ ống kẹp sẽ được giữ gìn cho đến khi còn là nhỏ nhất.  
Ống kẹp điện cực phải được giữ gìn sạch sẽ, cũng tương tự như ống  
phun khí để không gây cản trở cho luồng khí.  
Kích thước điện cực phải phù hợp với kiểu dòng điện, từng loại công  
việc, và giá trị thực của dòng điện sẽ được dùng. Giá trị của dòng điện  
hàn được yêu cầu dựa trên quy trình hàn (WPS) cho từng đặc thù của  
kim loại hàn. Số liệu được cung cấp trong các bảng này được thiết lập  
từ điểm bắt đầu.  
Ví dụ: Nếu được yêu cầu sử dụng dòng điện hàn 100A và được  
dùng với dòng AC, nó sẽ gợi ý cần có một điện cực  
Tungsten nguyên chất 2.4mm hoặc 3.2 mm có thể sẽ  
được sử dụng.  
Nếu quy trình hàn (WPS) yêu cầu dùng dòng DC phân  
cực âm hoặc DC phân dương thì kích thước điện cực  
khác nhau sẽ phải cần đến. Sở thích và kinh nghiệm  
người thợ hàn nằm trong sự lựa chọn kích thước điện  
cực. Nếu thợ hàn sử dụng điện cực tungsten nguyên chất  
và nó có khuynh hướng trở nên nóng quá hoặc xuất hiện  
sự thấm ướt bề mặt, đó là dòng điện quá cao đối với  
kích thước của điện cực.  
7.4 KHÍ BẢO VỆ  
Khí gas được dùng cho hàn GTAW phải là khí trơ. Duy chỉ có Argon  
và He được sử dụng từ rất lâu những loại khí trơ khác nhiều nhưng  
cũng rất đắt tiền. Lựa chọn khí là cơ sở dựa trên kim loại được hàn.  
Nó cần thiết được tham khảo trong thông số quy trình hàn (WPS).  
Khí bảo vệ Argon, Helium và khí trộn của hai loại khí đó được sử  
dụng cho hàn GTAW. Mục đích cho việc kiểm soát giới hạn của hồ  
quang, dòng điện, độ dài và điện cực.  
Hồ quang Helium sẽ có tác động đến điện áp gấp khoảng chừng 1.7  
lần đối với hồ quang Argon. Cung cấp nhiệt và dòng điện lớn hơn hồ  
quang argon. Tuy nhiên, Argon được sử dụng phần lớn cho hàn  
11  
Phương pháp hàn TIG – VTH/Apave  
GTAW bởi vì nó giúp cho mồi hồ quang dễ dàng, hồ quang được ổn  
định hơn với dòng điện thấp, công việc làm sạch tốt hơn trên nhôm,  
nó có giá thành khoảng trừng bằng 1/3 Helium và nhỏ hơn ½ tốc độ  
lưu lượng khí cần thiêt để cung cấp đảm cho công việc bảo vệ khi  
hàn.  
Helium được dùng khi cần có năng lượng hồ quang lớn đối với hàn  
các tấm nặng hoặc vật liệu dày cùng với độ dẫn nhiệt cao.  
Khí trộn của Argon và Helium có thể dùng thu được đặc tính hồ  
quang giữa cả hai loại khí nguyên chất.  
Helium cung cấp thường được nén duới dạng khí trong chai nhưng có  
thể thu được dưới dạng lỏng. Giá của Helium khoảng chừng gấp 3 lần  
giá của Argon.  
Các loại khí trơ khác như Neon, Kripton, Xenon, thường làm thoả  
mãn đối với hàn GTAW nhưng không được dùng bởi vì chúng khan  
hiếm và giá thành rất cao.  
8
CHẤT LƯỢNG CỦA MỐI HÀN  
Chất lượng của mối hàn GTAW được xếp vào loại có chất lượng cao  
hơn chất lượng của bất cứ phương pháp hàn hồ quang nào khác. Mức  
độ cao của chất lượng đạt được khi tất cả những công việc cần thiết đã  
nắm vững và chuẩn bị trước. Đã từ lâu phần lớn công việc được thực  
hiện bởi phương pháp hàn GTAW trên kim loại không có chất sắt. Nó  
hoàn toàn cần thiết được làm sạch một cách chu đáo từng bước trong  
quá trình hàn. Khu vực làm việc nhất định phải vệ sinh vô cùng sạch  
sẽ. Bàn hàn và các dụng cụ đồ nghề cũng được làm sạch, dây hàn điền  
đầy được bảo quản cẩn thận trước khi đem ra sử dụng, khí bảo vệ phải  
đạt được độ tinh khiết và phù hợp với cấp độ hàn, và các dụng cụ phải  
có điều kiện làm việc tốt. Nếu các điều kiện này đã được thực hiện và  
thợ hàn có khả năng, kỹ năng khéo léo, các mối hàn chất lượng cao sẽ  
có kết quả.  
Nhiệt độ cung cấp và kỹ thuật của người thợ hàn ảnh hưởng nhiều tới  
việc thực hiện và chất lượng mối hàn.  
ƒ Khi nhiệt cung cấp quá thấp, điều đó có thể xảy ra từ một  
dòng điện hàn quá thấp hoặc tốc độ hàn quá nhanh, đường  
hàn nhỏ cao là hiển nhiên và độ ngấu nhỏ.  
12  
Phương pháp hàn TIG – VTH/Apave  
˜ Khi dòng điện hàn quá thấp, đường hàn sẽ cao, độ  
ngấu sâu kém, và có khả năng của chồng lấp ở rìa  
đường hàn  
˜ Khi tốc độ hàn quá nhanh, đường hàn cũng nhỏ và  
độ ngấu sâu kém  
ƒ Khi nhiệt cung cấp quá lớn, điều đó có thể xảy ra từ một  
dòng điện hàn quá cao hoặc tốc độ hàn quá chậm, đường  
hàn trở nên vô cùng rộng, thường rộng và bằng. Điều đó  
làm cho độ ngấu cũng nhiều và có thể bị bắn toé.  
ƒ Khi kìm hàn để quá xa với vật hàn, xuất hiện một hồ quang  
dài, khả năng của khí bảo vệ bị giảm bớt và thành quả là  
chất lượng mối hàn kém, đặc biệt là trong hàn nhôm.  
RỖ KHÍ KIM LOẠI MỐI HÀN  
Rỗ khí thường gây nên do bởi dính dầu, ẩm ướt, kim loại cơ  
bản bị bẩn, mức độ bao phủ của khí trơ không đủ, hoặc bẩn và  
lớp vỏ ngoài của dây kim loại điền đầy bị oxi hoá nhiều. Trong  
các mối hàn rãnh tại các mối hàn chân (hàn lót) sẽ được dùng  
tấm đệm hoặc được hỗ trợ bằng khí và làm sạch mặt sau của  
rãnh gần sát ngay đường hàn.  
Trong trường hợp của nhôm, bàn chải có các sợi bằng dây thép  
không gỉ hoặc làm sạch bằng hoá học sẽ được dùng. Khí bảo  
vệ không có hiệu quá có thể gây nên bởi gió lùa từ bên ngoài.  
Nó có thể cũng được gây nên bởi sự rò rỉ trong hệ thống cấp  
khí hoặc độ tinh khiết của khí không đạt. Thiết bị sẽ được  
thường xuyên kiểm tra chắc chắn, hệ thống khí không có sự rò  
rỉ. Nó cũng rất quan trọng không để cho nước làm mát đọng lại  
trong hệ thống cung cấp khí.  
MỐI HÀN BỊ BẨN  
Các mối hàn bị bẩn, đặc biệt trên nhôm, có thể kết quả từ vấn  
đề trong hệ thống cung cấp khí, chỗ đó có thể bị rò rỉ trong ống  
kết nối, khí bảo vệ chất lượng kém, ống phun khí quá lớn,  
khoảng cách từ miệng ống phun khí tới vật hàn quá xa, luồng  
khí không có hiệu quả hoặc bất cứ việc gì khác nữa góp phần  
tới sự bảo vệ kém của khu vực hồ quang.  
ĐỘ NGẤU SÂU KÉM  
13  
Phương pháp hàn TIG – VTH/Apave  
Độ ngấu kém chủ yếu là vấn đề cung cấp nhiệt và có liên quan  
tới tốc độ di chuyển và dòng điện hàn tới chiều dày vật liệu cơ  
bản, tính dẫn, và kiểu mối ghép. Cường độ dòng điện quá cao  
sẽ tạo cho mối hàn quá tẹt và xù xì và có thể là nguyên nhân  
của nứt. Cường độ dòng điện không có hiệu quả sẽ có kết quả  
là đường hàn có đỉnh cao gồ gề. Nếu tốc độ cũng nhanh, đỉnh  
đường hàn sẽ cao, không mịn, và có độ ngấu không hiệu quả.  
Tốc độ hàn có thể cần được thao tác khác hoặc thay đổi. Khi  
kim loại cơ bản nguội lạnh cần phải hạ thấp tốc độ hàn, để vật  
hàn hấp thụ nhiệt và làm tăng nhiệt độ, tốc độ hàn sẽ được tăng  
dần lên.  
ĐIỆN CỰC TUNGSTEN  
Vấn đề chất lượng mối hàn bao gồm cả điện cực Tungsten bị  
nằm trong kim loại mối hàn đông đặc, điều đó có thể được phát  
hiện ra bằng phương pháp chụp ảnh phóng xạ. Trước đây được  
gọi là sự nổ mìn nhỏ tungsten và là cơ sở dựa trên dòng điện  
quá cao so với kích thước hoặc loại của điện cực tungsten.  
Vấn đề nghiêm trọng khác là thay đổi hồ quang, điều đó thông  
thường là kết quả của việc làm hư hỏng hoặc bẩn điện cực.  
Điện cực sẽ trở thành bị oxy hoá nếu khí trơ không liên tục bảo  
vệ nó trong khi nóng. Đây là lý do đối với các chế độ điều  
khiển ống đếm lưu lượng khí trên hầu hết các máy hàn GTAW.  
Kim loại điền đầy cùng với lớp phủ ngoài bị oxit quá mức có  
thể cũng tạo nên mối hàn bị bẩn. Hơi ẩm sẽ tập chung trong lớp  
oxit này. Dây kim loại điền đầy cần phải được làm sạch bằng  
giấy nhám.  
Hàn trên kim loại bẩn, vật liệu thấm dầu mỡ hoặc cố gắng sửa  
chữa các vết nứt trong các bộ phận chi tiết máy đòi hỏi loại bỏ  
hết các khuyết tật vật liệu, làm sạch triệt để, và gia nhiệt giúp  
cho loại trừ sự hấp thụ dầu, dầu mỡ, hơi ẩm và các thứ khác.  
Các sự rỏ rỉ nước trong kìm hàn có thể thường được phát hiện  
ra bởi màu của bề mặt mối hàn. Sự ngưng hơi có thể xảy ra ở  
bên trong của ống dẫn khí và hơi nước trong hồ quang sẽ là  
nguyên nhân tungsten trở thành bị nhiễm bẩn.  
Nói tóm lại, các mối hàn có chất lượng tốt đòi hỏi tất cả các  
điều kiện chính xác, các vật liệu được dùng có đặc điểm kỹ  
thuật chính xác và tính sạch sẽ. Các máy móc thiết bị trong tình  
14  
Phương pháp hàn TIG – VTH/Apave  
trạng hoạt động tốt. và kỹ thuật hàn thích hợp với công việc  
được thực hiện.  
9
CÁC LOẠI VẬT LIỆU CÓ THỂ ĐƯỢC DÙNG ĐỂ HÀN  
Phương pháp hàn GTAW có thể dùng hàn được tất cả các loại kim  
loại thông thường và kim loại hiếm và các hợp kim, ngoại trừ các kim  
loại có độ nóng chảy thấp như chì, thiếc và kẽm hợp kim thường.  
Nhiệt độ hồ quang rất cao đạt được chất lượng mối hàn tốt đối với các  
hợp kim này.  
Mặc dù hàn GTAW có thể được ứng dụng cho hàn rộng rãi trên các  
thành phần của thép. Nó không mang tính kinh tế khi được dùng hàn  
trên các loại thép carbon ngoại trừ các lớp hàn lót chân. GTAW có thể  
được dùng hàn trên các loại thép hợp kim thấp, thép dụng cụ, thép  
không gỉ và các hợp kim niken thường cần có chất lượng cao, độ lắng  
cần thiết. Các vật liệu đó sẽ được hàn cùng với dòng điện DC phân  
cực âm (DCEN) và được hỗ trợ bằng khí trơ (backing) đối với hàn các  
tấm mỏng và các đường hàn chân (hàn lót).  
Hợp kim của Titan, zirconium, columbium, tác động khác và các kim  
loại chịu nhiệt sẽ được hàn với dòng DC phân cực âm (DCEN), hàn  
GTAW là cần thiết đối với các hợp kim này, hoàn toàn được bảo vệ  
cùng với khí trơ.  
Nhôm và hợp kim của nhôm sẽ được hàn cùng với dòng điện AC, sử  
dụng khí bảo vệ là Argon hoặc khí trộn Ar-He. Hầu hết hợp kim của  
nhôm được hàn bằng GTAW cùng với dòng AC kết hợp cả hai cùng  
với sóng cân bằng hoặc sóng vuông.  
15  
Phương pháp hàn TIG – VTH/Apave  
KỸ THUẬT THAO TÁC  
HÀN BẰNG TAY  
10 CHUẨN BỊ ĐỐI VỚI HÀN, KHỞI ĐỘNG VÀ TẮT THIẾT BỊ  
Mục đích: Trình bày tiêu chuẩn đồng bộ của từng bước thao tác  
với sự điều chỉnh một cách đúng đắn, chỉnh lý và bảo  
quản thiết bị hàn GTAW tới việc cải thiện hiệu quả công  
việc và an toàn trong hàn.  
10.1 Dụng cụ  
- Quần áo bảo hộ, mũ, găng tay, kính hàn và kính mài  
- Bàn chải sắt hoặc thép không gỉ  
- Kìm cắt dây hàn  
- Búa, đục, cờ lê  
10.2 Thao tác  
- Các dụng cụ được để ở những vị trí thuận tiện cho thao tác  
- Bàn hàn được chế tạo chắc chắn và sạch sẽ  
- Nhiên liệu cần được cung cấp  
8 Vật liệu được hàn  
8 Khí bảo vệ là Argon, Helium, hoặc khí trộn (phân loại hàn)  
8 Dây hàn điền đầy phù hợp với vật hàn  
8 Chọn điện cực Tungsten  
˜ Tungsten nguyên chất (màu xanh lá cây)  
˜ Tungsten zirconia (màu nâu)  
˜ Tungsten thoria (màu vàng hoặc đỏ)  
8 Chọn kìm hàn (làm mát bằng nước hoặc bằng khí)  
8 Đường kính bên trong của ống phun khí ít nhất bằng 3 lần  
đường kính của điện cực  
8 Nó sẽ được làm sạch và không bị tổn hại  
8 Ống kẹp và thân ống kẹp sẽ được chọn phù hợp với điện cực  
- Chuẩn bị kìm hàn  
èng phun th©n èng  
khÝ kÑp  
èng kÑp  
®iÖn cùc  
n¾p chôp  
tay cÇm  
Hình 6 - Các chi tiết của kìm hàn GTAW  
16  
Phương pháp hàn TIG – VTH/Apave  
8 Đối với dòng điện hàn AC, đầu mút điện cực hàn sẽ được tạo  
tròn và làm sáng bóng (xem hình 7)  
8 Đối với dòng điện hàn DC, mài đầu điện cực Tungsten tạo  
thành một điểm và làm cùn ở mức độ không đáng kể  
Chuẩn bị điện cực cho hàn dòng AC  
Tungsten Pure và Tungsten Zirconia  
ĐIỀU KIỆN TỐT  
A
B
( Sáng bóng, đầu mút tròn)  
DÒNG ĐIỆN QUÁ LỚN  
( Hình dạng đầu que diêm)  
ĐẦU MÚT BỊ BẨN VÀ LẪN KIM LOẠI  
CƠ BẢN (Tương tự như „B“, nhưng không  
bằng phẳng và còn có thể xấu hơn nữa)  
C
BIỆN PHÁP SỬA CHỮA  
(Cắt bỏ đầu mút theo đường vạch ngang, nếu  
điều kiện „B“ hoặc „C“ còn tồn tại. Nếu điện  
cực bị gãy, mài đầu mút cho bằng)  
Chuẩn bị điện cực hàn cho dòng DC  
Tungsten Thoria 1 % hoặc 2 %  
Điện cực mới (trước khi mài nhọn)  
Mài nhọn điện cực trên máy mài, chiều sâu  
vát vào bằng 2 ½ lần đường kính điện cực  
Mài cắt một chút nhỏ hơn 1/64 in (0.4 mm)  
tại đỉnh  
Đầu nhọn bị bẩn. Mài cắt bỏ phần bị bẩn. Nếu  
không phần bẩn sẽ làm trải rộng hồ quang và  
mở rộng đường hàn (có thể còn làm lệch hồ  
quang)  
Hình 7. Trình bày phương pháp chuẩn bị điện cực  
- Lắp đặt và điều chỉnh điện cực  
8 Vặn ren của thân ống kẹp vào đầu kìm hàn và ống phun khí lên  
phía trên của thân ống kẹp  
8 Cùng với điện cực tungsten được đưa vào trong, lắp nắp chụp  
và vặn nhẹ nhàng cho khít  
17  
Phương pháp hàn TIG – VTH/Apave  
8 Điều chỉnh độ nhú của điện cực tungsten ra ngoài miệng của  
ống phun khí khoảng chừng bằng 2 lần đường kính điện cực.  
Sau đó vặn chặt nắp chụp.  
èng phun khÝ  
®iÖn cùc  
b»ng 2 lÇn ®−êng  
kÝnh ®iÖn cùc  
Hình 8 - Độ nhú điện cực Tungsten  
- Kiểm tra kẹp mát  
- Cài đặt thiết bị  
8 Đặt chế độ AC hoặc DC tùy thuộc vào công việc làm.  
8 Đặt chế độ dòng điện  
- Bộ phận công tắc tần số cao  
8 Liên tục đối với nhôm  
8 Tự động đối với thép carbon thấp và thép không gỉ  
- Thiết bị khởi động nóng  
- Điều chỉnh lưu lượng khí bảo vệ  
8 Điều chỉnh lưu lượng khí từ 7 - 10 lit/phút  
10.3 Hàn  
- Các vị trí nghiêng của kìm hàn và chiều dài hồ quang được duy trì  
suốt trong quá trình làm việc hàn  
- Khi kết thúc hàn, tiếp theo là dừng các thao tác  
8 Treo kìm hàn lên không để cho tiếp xúc xuống đất hoặc vật hàn  
8 Đóng van chai khí  
8 Đóng van điều chỉnh lưu lượng khí khi không cần dùng nữa  
8 Tắt công tắc thiết bị hàn  
8 Vệ sinh khu vực hàn  
18  
Phương pháp hàn TIG – VTH/Apave  
11 KỸ THUẬT HÀN  
Kỹ thuật đối với hàn GTAW bằng tay và thêm kim loại điền đầy vào  
trong vũng hàn được trình bày như trong hình 9.Thứ nhất hồ quang  
được thành lập giữa điện cực tungsten và vật hàn sử dụng phương  
pháp mồi hồ quang cao tần. Mồi hồ quang chạm vào vật hàn ít được  
sử dụng.  
H−íng hµn  
(a) TriÓn khai mét  
vòng hµn nhá  
750  
750  
(b) DÞch chuyÓn k×m  
hµn vÒ phÝa sau  
(d) Rót que hµn ra  
750  
150  
(c) Thªm vµo kim  
lo¹i ®iÒn ®Çy  
(c) Dao ®éng má hµn  
tíi r×a cña vòng hµn  
Hình 9 -  
Phương thức thực hiện bằng tay cung cấp kim loại điền  
đầy vào trong vũng hàn. (GTAW)  
Mỏ hàn dao động theo hình tròn nhỏ cho đến khi thành lập được một  
vũng hàn. Khi đó kìm hàn nghiêng về đằng sau một góc 750 và dao  
động về đằng sau một chút không đáng kể trong khi đủ để kim loại  
điền đầy nhúng vào trong bể hàn.  
Dây hàn điền đầy được kéo về và kìm hàn dao động trong sự điều  
khiển của di chuyển tới nấu chảy kim loại điền đầy vừa đưa thêm vào  
và tiến lên phía trước bể hàn.  
Tại điểm này sự nối tiếp của hoạt động kìm hàn giật về phía sau và  
thêm vào kim loại điền đầy được lặp lại cho đến khi tới điểm kết thúc.  
Thợ hàn phải thể hiện được kỹ thuật duy trì không đổi chiều dài hồ  
quang và điện áp hồ quang, thường 9 - 12 V dòng điện DCEN với khí  
argon, trong khi thông thường được điều khiển kìm hàn bằng tay.  
19  
Phương pháp hàn TIG – VTH/Apave  
Mức độ của dây kim loại điền đầy được cung cấp vào vũng hàn sẽ  
không được dao động ra ngoài sự bảo vệ của khí từ kìm hàn. Việc này  
ngăn cản kết thúc không tốt do oxi hoá và rồi sau đó làm hư hại vũng  
hàn khi nó được nhúng chìm vào trong.  
Khi Helium được dùng làm khí bảo vệ, điện áp hồ quang sẽ trở nên  
lớn, 16-18 V, Khí He đòi hỏi phần lớn kỹ năng điều khiển nhuần  
nhiễn ngăn chặn sự chảy thủng và sẽ không được dùng cho vật liệu  
mỏng.  
Tại điểm kết thúc của mối hàn dòng điện hồ quang cần phải được  
giảm đi từ từ tới khi tránh được dạng hố và có thể xảy ra hiện tượng  
nứt hình sao tại điểm kết thúc. Nếu có thể cần thiết cho thêm vào một  
số lượng nhỏ vừa đủ kim loại điền đầy trước khi giảm dòng điện hồ  
quang.  
Nhiều mối ghép hàn đối vật liệu mỏng có thể cũng được cho thêm  
kim loại phụ khi hàn. Ví dụ như: Mối ghép góc, mối ghép bẻ gờ, mối  
ghép đấu đầu, mối ghép giáp mối loe...Kỹ thuật hàn các mối ghép này  
thường được thao tác bằng tay giống như vừa mới được miêu tả trừ  
khi không yêu cầu cho thêm kim loại phụ  
Một khi hồ quang đã được thành lập, kìm hàn được dao động đồng  
thời với tốc độ tới khi kết thúc mối ghép hàn.  
Khí trơ được hỗ trợ dùng cho cả hai phương pháp hàn bằng tay và hàn  
tự động GTAW của tấm mỏng hoặc đường hàn chân (hàn lót) của vật  
liệu dày. Khí trơ ngăn cản quá trình oxi hoá của gốc mối hàn cho phép  
kim loại nóng chảy thấm ướt và dòng chảy liên tục thích hợp và ngăn  
cản sự nhiễm bẩn của mối hàn cùng với oxit.  
11.1 Mối hàn giáp mối  
Mối hàn giáp mối không vát mép có thể được áp dụng khi hàn vật liệu  
có chiều dày nhỏ hơn 3mm, khi mối hàn cần ngấu toàn phần thì cần  
phải cho thêm kim loại phụ. Mối ghép được hàn đính để có khe hở  
đều và có kích thước xác định. Khi hàn trên kim loại mỏng thường bẻ  
gờ và thổi chảy chứ không dùng kim loại phụ. Khi hàn trên các tấm có  
chiều dày lớn hơn 3mm phải vát mép, thông thường chọn kiểu vát  
mép chữ „V“, „J“. Kiểu vát mép chữ „V“ đôi hoặc „J“ đôi... được  
dùng khi bề dày vật liệu lớn hơn 25mm. Khi mối hàn có thể hàn từ hai  
phía thì nên chọn kiểu vát đôi để giảm lượng đắp và có hiệu quả kinh  
tế hơn.  
Thực tế thường khi hàn trên tấm dày chỉ có lớp lót là được thực hiện  
20  
Phương pháp hàn TIG – VTH/Apave  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 22 trang myanh 21240 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Công nghệ hàn - Phần VII: Hàn hồ quang điện cực không nóng chảy trong môi trường khí bảo vệ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_cong_nghe_han_phan_vii_han_ho_quang_dien_cuc_khon.pdf