Giáo trình Cơ sở cắt gọt kim loại - Chương 8: Các biện pháp cải thiện điều kiện cắt gọt

C8 BPCTDKC CGKL  
1
GVC NGUYỄN THẾ TRANH - TRẦN QUỐC VIỆT  
Chương 8  
CÁC BIỆN PHÁP CẢI THIỆN ĐIỀU KIỆN CẮT GỌT  
Hiệu quả của quá trình cắt gọt kim loại được đánh giá trên ba chỉ tiêu: chất lượng, năng  
suất và giá thành gia công sản phẩm đó. Khả năng đạt được của các chỉ tiêu này phụ thuộc  
vào các điều kiện cắt gọt như vật liệu chi tiết, vật liệu dao, hệ thống công nghệ, chế độ cắt gọt,  
trình độ công nhân, trình độ tố chức sản xuất, vấn đề bôi trơn làm nguội khi cắt...  
Giáo trình "Công nghệ chế tạo máy" nghiên cứu một cách toàn diện vấn đề này.  
Để làm cơ sở cho việc tính toán, nghiên cứu tiếp theo, trong tài liệu này chỉ đề cập tới  
hai vấn đề có liên quan, đó là:  
(1) Xác định chế độ cắt kinh tế.  
(2) Bôi trơn và làm nguội trong quá trình cắt.  
8.1. XÁC ĐỊNH CHẾ ĐỘ CẮT KINH TẾ KHI GIA CÔNG.  
Việc xác định chế độ cắt kinh tế khi gia công cơ được tiến hành một cách cụ thể theo  
phương pháp gia công và đặc tính gia công (gia công thô, gia công tinh). Trong phần này sẽ  
lần lượt giới thiệu phương pháp tổng quát nhất. Trên cơ sở chung đó mà vận dụng tính toán cụ  
thể cho từng phương pháp gia công.  
8.1.1. Khái niệm chế độ cắt kinh tế  
Chế độ cắt kinh tế là giá trị thông số chế độ cắt (v,s,t) được sử dụng để hoàn thành  
nhiệm vụ cắt gọt đã cho một cách kinh tế nhất tức là chi phí cho quá trình cắt đó là nhỏ nhất.  
Nhiệm vụ cắt gọt đặt ra những yêu cầu khác nhau tuỳ thuộc vào tính chất cắt gọt. Ví dụ:  
nhiệm vụ gia công thô thì yêu cầu là phải hớt bỏ hết lớp lượng dư gia công cơ để đạt kích  
thước, hình dáng và vị trí tương quan của chi tiết đã cho trên bản vẽ chế tạo. Khi gia công  
tinh, ngoài việc đảm bảo yêu cầu trên còn phải đạt được chất lượng bề mặt yêu cầu.  
Chính vì lẽ đó, nội dung, trình tự, phương pháp xác định chế độ cắt cũng phụ thuộc vào  
tính chất gia công.  
8.1.2. Xác định chế độ cắt khi gia công thô  
Mục tiêu cơ bản của gia công thô là tách hết lớp lượng dư gia công cơ. Như ta đã biết:  
trong các yếu tố có liên quan đến giá thành gia công thì yếu tố thời gian là quan trọng nhất. Vì  
vậy một cách gần đúng ta có thể quan niệm rằng: gia công thô đạt hiệu quả kinh tế nhất nếu  
chúng ta cắt hết lớp lượng dư gia công cơ trong một thời gian ngắn nhất - hoặc là thể tích  
đơn vị phoi được tách ra là lớn nhất.  
Ta gọi V là thể tích phoi được tách ra trong một đơn vị thời gian (cm3/ph), được tính  
theo biểu thức sau:  
V = q.v.K = s.t.v.K (cm3/ph)  
Trong đó:  
q là diện tích tiết diện lớp cắt (mm2)  
v là tốc độ cắt (m/ph)  
s là lượng chạy dao (mm/vòng; mm/htk)  
t là chiều sâu cắt (mm)  
K là hệ số chuyển đổi đơn vị, ở đây K = 1.  
C8 BPCTDKC CGKL  
2
GVC NGUYỄN THẾ TRANH - TRẦN QUỐC VIỆT  
Về nguyên tắc, rõ ràng để V đạt giá trị Vmax thì ta phải hoàn thành nhiệm vụ cắt gọt đã  
cho với :  
s = smax, t = tmax, v = vmax  
.
Tức là:  
Vmax = smax.tmax.vmax  
Như phần tuổi bền dao đã nêu rõ: khi tăng tốc độ cắt v thì tuổi bền dao T sẽ giảm rất  
nhanh. Vì vậy giá thành của chi tiết gia công sẽ tăng do phải thay và mài lại dao nhiều lần. Từ  
đó rõ rằng việc ưu tiên tăng tốc độ cắt v để đạt hiệu quả kinh tế là không hợp lý.  
Vấn đề còn lại là trong hai yếu tố của diện tích tiết diện lớp cắt q (s và t), nên ưu tiên  
tăng yếu tố nào trước là hợp lý.  
Ta có công thức quen thuộc:  
Cv0  
axv byv  
Cv0  
sxv tyv  
v   
(m/ph) hoặc v   
(m/ph)  
Thay v và V ta nhận được:  
Cv0  
sxv tyv  
Cv0.s(1x ).t(1y ) (cm3/ph)  
v
v
V s.t.  
Theo thực nghiệm xv > yv, do đó (1-yv) > (1-xv)  
Từ những phân tích trên ta có nhận xét:  
Nếu xuất phát từ mục đích tăng thể tích phoi cắt đơn vị (V) mà vẫn đảm bảo được  
tuổi bền dao (T), trong điều kiện đã cho diện tích tiết diện lớp cắt (q = s.t = constant) thì  
tăng chiều sâu cắt t có lợi hơn tăng lượng chạy dao s. Bởi vì:  
(1) Nếu tăng t hoặc tăng s cùng số lần, thì tăng t dẫn đến V tăng nhanh hơn so với tăng  
s, vì (1-yv) > (1-xv)  
(2) Tương tự như vậy khi tăng t dẫn đến vận tốc v tăng ít hơn khi tăng s. Vì vậy yv < xv.  
Với nhận xét quan trọng trên, ta có thể rút ra kết luận về trình tự xét để tận lượng tăng  
giá trị các yếu tốc chế độ cắt như sau:  
t s v  
1. Vấn đề tận lượng tăng chiều sâu cắt t  
Rõ ràng: chiều sâu cắt t lớn nhất có thể tăng  
được là lượng dư gia công cơ h:  
a
tmax = h  
b
Chọn chiều sâu cắt t bằng lượng dư gia công  
cơ h là một nguyên tắc quan trọng trong gia công  
thô.  
Hình 8.1 - Chọn t  
Tuy nhiên ta cũng cần chú ý hai trường hợp cụ thể sau đây:  
(1) Khi kết cấu của dao không cho phép (hình 8.1) thì không thể chọn t = h.  
(2) Khi h quá lớn mà hệ thống công nghệ không đủ cứng vững để gia công thì ta cũng  
phải phân ra cắt từ 2 đến 3 lần chuyển dao với t1, t2, t3 (t1 + t2 + t3 = h). Sẽ giới thiệu cụ thể  
trong công nghệ chế tạo máy.  
2. Vấn đề tận lượng tăng lượng chạy dao s  
C8 BPCTDKC CGKL  
3
GVC NGUYỄN THẾ TRANH - TRẦN QUỐC VIỆT  
Với chiều sâu cắt t đã được lựa chọn, việc tăng lượng chạy dao s sẽ bị hạn chế bởi lực  
cắt, vì nếu lực cắt quá lớn sẽ làm cho hệ thống công nghệ biến dạng quá lớn dẫn đến sai số gia  
công vượt quá giới hạn cho phép.  
Thường trong lý lịch các máy (hoặc trong sổ tay cắt gọt) người ta có quy định giá trị  
cho phép của lực tác dụng lên máy, lên dao và lên chi tiết.  
Vậy việc lựa chọn lượng chạy dao s phải chú ý thoả mãn: lực cắt thực tế sinh ra với chế  
độ cắt lựa chọn phải nhỏ hơn (hoặc tối đa là bằng) lực cắt cho phép P= [P]  
Trong phần phân tích lực cắt đã chỉ rõ:  
Thành phần lực cắt chính Pv tác dụng lên dao, nếu lực cắt chính vượt quá giới hạn bền  
của dao sẽ làm phá huỷ dao. Muốn đảm bảo dao làm việc được thì:  
P Cpv .txpv .sypv .Kpv [P ]  
v
v
Từ công thức trên ta tính được:  
[P ]  
v
ypv  
s1   
(mm/vòng)  
Cpv .txpv .Kpv  
Thành phần lực cắt theo phương chạy dao Ps tác dụng lên máy.  
Nếu Ps quá lớn sẽ làm phá huỷ các cơ cấu yếu của máy đó là cơ cấu chạy dao. Như vậy,  
để máy làm việc an toàn thì:  
P Cps .txps .syps .Kps [P ]  
s
s
Từ công thức trên ta có:  
[P ]  
s
yps  
s2   
(mm/vòng)  
Cps .txps .Kps  
Thành phần lực cắt theo phương chiều sâu cắt Pt tác dụng lên chi tiết gia công làm  
cho chi tiết bị biến dạng một lượng f. Để đảm bảo kích thước gia công thì biến dạng do lực cắt  
gây nên phải nhỏ hơn biến dạng cho phép [f] - tức là:  
f [f]  
[f] được cho dựa trên cơ sở giới hạn sai lệch cho phép - trong gia công thô tương đương  
với IT13.  
Từ quan hệ f [f] ta tính được lực giới hạn [Pt]. Tức là Pt [Pt].  
Ta có:  
P Cpt .txpt .sypt .Kpt [P]  
t
t
Suy ra lượng chạy dao s3.  
[P]  
t
yyt  
s3   
Cpt .txpt .Kpt  
Sau khi đã có s1, s2, s3 ta so sánh và chọn giá trị smin trong ba giá trị s đã tính làm lượng  
chạy dao tính toán hợp lý, tức là:  
st = stính = smin = min (s1, s2, s3 )  
C8 BPCTDKC CGKL  
4
GVC NGUYỄN THẾ TRANH - TRẦN QUỐC VIỆT  
Dựa trên stính tra trong lý lịch máy ta chọn giá trị lượng chạy dao kinh tế (schọn = sc)  
Cần lưu ý rằng: từ st, tìm sc = sm (lượng chạy dao thực tế có trên máy) sẽ có thể xuất  
hiện 3 khả năng: st = sm; st < sm ; st > sm.  
Nếu st = sm thì sc = sm  
Nếu st < sm thì ta chú ý đảm bảo S.n constant tức là nếu sc < sm thì tăng một cấp n và  
ngược lại sc > sm thì giảm n một cấp (n là số vòng quay của trục chính máy được chọn sau khi  
tính vận tốc v)  
Cũng cần đặc biệt chú ý: nếu s1, s2, s3 khác nhau qua lớn, nếu chọn smin sẽ không sử  
dụng hết khả năng của hệ thống công nghệ. Chính vì vậy, trước khi chọn smin ta cần tìm mọi  
cách để làm cho s1, s2, s3 có giá trị gần nhau, bằng cách chọn hợp lý hệ thống công nghệ, cải  
thiện điều kiện cắt như tưới dung dịch trơn nguội...  
3. Tính tốc độ cắt kinh tế:  
Sau khi xác định và s ta tiến hành tính toán tốc độ cắt kinh tế theo công thức tuổi bền  
dao.  
Tiếp tục để đảm bảo máy đã chọn có thể đảm bảo thực hiện gia công, ta cần kiểm  
nghiệm công suất động cơ. Công thức kiểm nghiệm là:  
Nc Nđc . (KW)  
P.v  
v
Nc   
(KW) trong đó: Pv (KG); v(m/ph)  
6120  
là hiệu suất của máy (= 0,6 - 0,8)  
Tóm lại, xác định chế độ cắt kinh tế khi gia công thô được tiến hành theo trình tự sau:  
(1) Lựa chọn phương pháp gia công dựa vào hình  
Chi tiết gia công  
dạng, kích thước chi tiết gia công đã cho trên  
bản vẽ.  
máy  
(2) Lựa chọn dao (hình dáng và vật liệu) trên cơ sở  
biết chi tiết và phương pháp gia công.  
Chọn  
dao  
(3) Chọn chiều sâu cắt t trên cơ sở lượng dư gia  
t
[P]  
s
công h và hình dáng dao.  
(4) Tra các thành phần lực cho phép [Ps], [Pt], [Pv]  
trong lý lịch máy.  
(5) Tính toán lượng chạy dao hợp lý và xác định  
lượng chạy dao chọn  
(6) Tính tốc độ cắt kinh tế với t, s đã biết và điều  
kiện cắt khác đã chọn.  
v
(7) Kiểm nghiệm công suất động cơ.  
Để dễ thấy trình tự, cơ sở và quan hệ của các bước  
tiến hành ta xây dựng sơ đồ hình 8.2  
NC N®c  
Hình 8.2 – Sơ đồ tính chế độ cắt  
8.1.3. Xác định chế độ cắt khi gia công tinh  
Đối với gia công tinh ngoài yêu cầu tách lớp lượng dư gia công cơ trong thời gian ngắn,  
yêu cầu đảm bảo độ bóng bề mặt ghi trên bản vẽ là yêu cầu quan trọng.  
C8 BPCTDKC CGKL  
5
GVC NGUYỄN THẾ TRANH - TRẦN QUỐC VIỆT  
Khi xác định độ lớn nhấp nhô, trước hết cần chú ý vật liệu gia công, hình dáng hình học  
của dao, và lượng chạy dao, đồng thời cần thấy rõ: nếu tốc độ cắt càng cao thì độ bóng đạt  
được càng cao.  
Do đặc điểm gia công tinh như trên, nên việc xác định chế độ cắt kinh tế khi gia công  
tinh cần thay đổi một ít so với gia công thô. Cụ thể trình tự tính toán như sau:  
(1) Chọn phương pháp gia công trên cơ sở bản vẽ chế tạo chi tiết đã cho (đặc biệt chú  
trọng yêu cầu độ bóng bề mặt).  
(2) Lựa chọn vật liệu hình dáng hình học dao trên cơ sở đã biết chi tiết gia công (vật  
liệu), phương pháp gia công, độ bóng bề mặt chi tiết. Chú ý khi gia công tinh cần  
chọn vật liệu dao cho phép cắt ở tốc độ cao.  
(3) Chọn chiều sâu cắt xuất phát từ lượng dư gia công và kết cấu của dao.  
(4) Tra bảng trong sổ tay cắt gọt để chọn lượng chạy dao theo độ bóng bề mặt, vật  
liệu gia công, hình dáng hình học của dao với sự lưu ý đến các gá trị tốc độ cắt  
thường dùng đối với vật liệu dao đã chọn.  
(5) Tính độ cắt theo tuổi bền dao. Nếu tốc độ cắt tính ra không đảm bảo yêu cầu độ  
bống thì cần giảm lượng chạy dao và tính lại đến khi nào thoả mãn yêu cầu thì  
thôi.  
(6) Kiểm nghiệm công suất động cơ trên cơ sở tính lực cắt chính Pv và tốc độ cắt đã  
tính ở bước 5  
Những nguyên tắc xác định chế độ cắt kinh tế khi gia công thô và gia công tinh đã nêu ở  
trên là phổ biến cho tất cả các phương pháp gia công.  
Việc tính toán xác định chế độ cắt kinh tế là một bước quan trọng khi lập quy trình công  
nghệ gia công chi tiết. Cụ thể là:  
Trong sản xuất hàng loạt, sau khi xác định chế độ cắt kinh tế, ta lựa chọn trong phân  
xưởng những máy có khả năng hoàn thành việc gia công với chế độ cắt đã cắt một cách kinh  
tế nhất.  
Trong sản xuất hàng khối, trên cơ sở cắt kinh tế đã được xác định (số liệu hướng dẫn  
theo thống kê cho trong các bảng của sổ tay cắt gọt) ta tiến hành lựa chọn hoặc thiết kế máy  
theo yêu cầu.  
8.2. BÔI TRƠN VÀ LÀM NGUỘI KHI CẮT.  
Một trong những biện pháp quan trọng nhằm cải thiện điều kiện cắt là tưới dung dịch  
trơn nguội vào vùng cắt trong quá trình gia công. Tưới dung dịch trơn nguội vào vùng cắt có  
ba tác dụng.  
(1) Tác dụng bôi trơn để tăng độ bóng bề mặt đã gia công.  
(2)Tác dụng làm nguội vùng cắt để tăng tuổi bền dao và giảm tác dụng xấu của nhiệt  
cắt đến hệ thống công nghệ.  
(3) Đẩy phoi ra khỏi vùng cắt (nhất là khi gia công phoi vụn, khoan lỗ sâu)  
Tác dụng bôi trơn và làm nguội là những mục tiêu cơ bản của việc tưới dung dịch trơn  
nguội.  
8.2.1. Cơ sở của vấn đề bôi trơn làm nguội khi cắt  
1. Cơ sở làm nguội bằng cách tưới dung dịch.  
Dung dịch được tưới vào vùng cắt lan truyền trên các bề mặt đã được đốt nóng do nhiệt  
cắt. Một phần dung dịch đã nhận bớt nhiệt lượng ở vùng cắt, phần khác bị bốc hơi cũng mang  
C8 BPCTDKC CGKL  
6
GVC NGUYỄN THẾ TRANH - TRẦN QUỐC VIỆT  
một nhiệt lượng nhất định đi khỏi vùng cắt. Như vậy lượng dung dịch đưa vào đã chia xẻ bớt  
nhiệt lượng sinh ra trong vùng cắt nhờ vậy làm giảm nhiệt độ của vùng cắt. Điều này có lợi  
cho tuổi bền của dao, đồng thời cũng làm giảm bớt tác dụng nhiệt đến hệ thống công nghệ.  
Từ phân tích trên, rõ ràng tác dụng làm nguội chỉ là tác dụng đơn thuần về mặt vật lý.  
Thật vậy khi hệ số dẫn nhiệt, nhiệt dung, nhiệt hoá hơi của dung dịch càng lớn thì tác dụng  
làm nguội càng tăng.  
Ở đây cần lưu ý tới khả năng gây ẩm ướt của dung dịch. Hình 8.3 cho ta phân biệt một  
giọt dung dịch trên bề mặt và gây ẩm trên bề mặt. Hình 8.3.a biểu thị một giọt chất lỏng trên  
bề mặt hình 8.3.b biểu thị gây ẩm trên bề mặt.  
Khả năng gây ẩm phụ thuộc vào sức căng bề mặt của dung dịch. Những dung dịch có  
sức căng bề mặt lớn thì trong thời gian ngắn không dễ dàng đi vào các lỗ hổng nhỏ. Điều đó  
cho ta giải thích được khi tưới bằng nước có pha dung dịch gây ẩm có tác dụng làm nguội tốt  
hơn khi tưới là nước thường.  
Mặt khác ta thấy rằng bốc nhiệt bằng cách bốc hơi sẽ tăng lên nếu dung dịch được đưa  
vào vùng cắt với áp lực lớn, điều đó được giải thích bằng tác dụng liên tục hơn của màn  
sương dung dịch phun vào.  
Thực nghiệm cho thấy, nếu sử dụng hợp lý loại dụng dịch và phun với áp lực phù hợp  
nhiệt độ cắt có thể được giảm 100 - 1500C.  
b.  
a.  
Hình 8.3 - Sức căng bề mặt của chất lỏng  
1  
V
Hình 8.4 – Mô hình cắt  
2. Cơ sở việc bôi trơn bằng cách tưới dung dịch:  
Tác dụng bôi trơn khi tưới dung dịch thể hiện ở việc làm giảm ma sát giữa mặt trước  
dao và phoi, giữa bề mặt sau dao và chi tiết. Trong đó việc giảm ma sát giữa mặt trước dao và  
phoi có tác dụng lớn đến việc nâng cao tuổi bền dao.  
Như ra đã biết: các chất hoạt tính bề mặt quyết định tác dụng bôi trơn của dung dịch.  
Ta biết rằng: khi tưới một chất lỏng lên bề mặt rắn, thì trên bề mặt vật rắn sẽ được phủ  
bởi một màng mỏng chất lỏng. Nếu cho vật rắn tiếp xúc và chuyển động tương đối với vật rắn  
khác, thì màng mỏng chất lỏng chính là màng đệm có tác dụng làm giảm ma sát giữa hai bề  
mặt tiếp xúc.  
Khi cắt giữa các bề mặt tiếp xúc trong vùng cắt có áp suất lớn và nhiệt độ cao. Do vậy  
dung dịch dùng để tưới vào muốn tạo được màng đệm cần phải được các chất hoạt tính bề mặt  
như mỡ, dầu thực vật, axit béo no...  
Các khu vực khi tiếp xúc cắt gọt có thể biểu diễn bằng mô hình ở hình 8.4. Khi cắt tại  
các vùng tiếp xúc bao giờ cũng xuất hiện các lỗ hỗng nhỏ. Nguyên nhân hình thành các lỗ  
C8 BPCTDKC CGKL  
7
GVC NGUYỄN THẾ TRANH - TRẦN QUỐC VIỆT  
hổng do sự xuất hiện và mất đi một cách đột ngột của các khối lẹo dao, cũng có thể do sự rạn  
nứt đột ngột của các bề mặt tiếp xúc. Vì nguyên nhân xuất hiện như vậy, nên khi mới hình  
thành các lỗ hổng này là những lỗ chân không . Khi tưới dung dịch trơn nguội được hút vào  
các lỗ hổng chân không đó bằng những đường mao dẫn (vết nứt tế vi). Đó chính là các  
nguyên nhân đưa dung dịch vào các vùng tiếp xúc và hình thành các màng đệm.  
Kết quả thí nghiệm cho thấy: nếu sử dụng hợp lý dung dịch bôi trơn, lực cắt sẽ giảm  
đượ chúng tôi 0 - 30%, mài mòn dao sẽ giảm và nhờ đó cho phép tăng tốc độ cắt 10 - 40%, độ  
bóng bề mặt gia công tăng được 1 - 2 cấp.  
8.2.2. Các loại bôi trơn làm nguội  
1. Các yêu cầu của chất bôi trơn - làm nguội.  
Để đạt được mục đích bôi trơn và làm nguội khi cắt, các chất bôi trơn - làm nguội phải  
đáp ứng được các yêu cầu sau:  
(1) Giảm được ma sát  
(2) Giảm được nhiệt độ.  
(3) Có khả năng giảm mài mòn  
(4) Làm tăng độ bóng bề mặt chi tiết  
(5) Tạo điều kiện đẩy phoi ra dễ dàng  
(6) Không gây tác hại đến sản phẩm gia công (như ăn mòn)  
(7) Không làm tổn hại đến hệ thống công nghệ  
(8) Không gây hại cho sức khoẻ con người.  
2. Các chất bôi trơn làm nguội - khi cắt  
Tuỳ thuộc vào vật liệu gia công, đặc điểm phương pháp gia công thiết bị gia công, có  
thể sử dụng các loại chất bôi trơn - làm nguội sau:  
(1) Thể khí như CO2. (2) Thể lỏng như nước, nước xà phòng...  
(3) Thể rắn (như than chì, disulfatmôluypden)  
Trong cắt gọt kim loại thường dùng loại thể lỏng - được gọi là dụng dịch trơn - nguội.  
Dung dịch trơn nguội được phân làm ba nhóm chính:  
(1) Nhóm 1 là nhóm có tác dụng làm nguội là chủ yếu (các dung dịch nước điện ly).  
(2) Nhóm 2 là nhóm dung dịch làm nguội; một phần có tác dụng bôi trơn như dung dịch  
nước xà phòng, dung dịch emulxi.  
(3) Nhóm 3 là nhóm có tác dụng bôi trơn, một phần có tác dụng làm nguội như các chất  
dầu, mỡ...  
3. Một số kinh nghiệm khi sử dụng dung dịch trơn - nguội  
Về nguyên tác chung, muốn chọn sử dụng hợp lý dung dịch trơn - nguội ta căn cứ vào  
ba yếu tố:  
(1) Vật liệu chi tiết gia công  
(2) Phương pháp gia công và tính chất gia công  
(3) Loại thiết bị gia công  
Một cách cụ thể theo kinh nghiệm ta có:  
C8 BPCTDKC CGKL  
8
GVC NGUYỄN THẾ TRANH - TRẦN QUỐC VIỆT  
Chọn theo vật liệu gia công  
Khi gia công vật liệu dòn (gang, đồng thanh) thường không nên dùng dung dịch trơn -  
nguội chủ yếu ở đây là bảo vệ hệ thống công nghệ, bởi vì khi cắt vật liệu dòn sẽ tạo ra phoi  
vụn, dung dịch trơn nguội dễ cuốn vào các khe hở lắp ghép của mát, đồ gá, làm tổn hại thiết  
bị. Cùng gia công vật liệu dòn, nhưng nếu hệ thống che chắn và bảo vệ tốt, dẫn dung dịch trơn  
nguội vào vùng cắt bằng những phương pháp tiên tiến như dẫn bên trong (khi khoan lỗ sâu),  
tưới, thổi (thể khí) với áp lực lớn thì khi sử dụng chất trơn - nguội cho phép tăng tốc độ cắt  
lên 15-30% so với không bôi trơn làm nguội.  
Khi chọn loại dung dịch trơn - nguội cần đặc biệt chú ý tránh gây phản ứng hoá học  
giữa dung dịch trơn - nguội và vật liệu gia công.  
Chọn vật liệu theo phương pháp gia công: cần lưu ý:  
(1) Khi gia công thô: nhiệt cắt, lực cắt và công suất cắt lớn - Vì vậy làm nguội là yêu  
cầu chủ yếu, bên cạnh đó cũng cần giảm bớt lực cắt bằng cách giảm ma sát. Vì vậy nên chọn  
nhóm 2.  
(2) Khi gia công mục đích chính là làm tăng độ bóng bề mặt và đảm bảo tuổi bền dao.  
Thích hợp gia công tinh nên chọn nhóm 3.  
(3) Khi cắt ở tốc độ cao bằng dao hợp kim cứng thường không nên tưới dung dịch trơn  
nguội để tránh gây nứt vỡ hợp kim cứng đồng thời tránh gây bắn dung dịch tung toé ra xung  
quanh. Cũng cần lưu ý rằng: nhiều trường hợp vẫn phải cần tưới dung dịch trơn nguội, lúc đó  
cần chú ý tưới liên tục và lượng tưới lớn.  
Chọn thiết bị gia công cần lưu ý tránh việc thâm nhập của dung dịch vào thiết bị.  
Để tiện việc lựa chọn sử dụng xin giới thiệu 2 bảng sau:  
Bảng 8.1. Các dung dịch trơn nguội thường dùng.  
Nhóm Tên gọi  
Công dụng  
Thành phần%  
Nước  
98  
2
Cacbonatcanxi  
Nước  
1
2
3
Dung dịch nước Làm nguội  
99  
Ninatrifotfat  
Nitritnatri  
0,8  
0,2  
98,2  
0,9  
0,5  
0,4  
90  
Nước  
Chủ yếu  
Xà phòng  
Dung dịch nước  
làm nguội  
và xà phòng  
Trinatrifotfat  
Nitritnatri  
có tác dụng bôi trơn  
Nước  
10% Emulxi  
Sulfattfrezon  
Dầu phức hợp  
Emulxi  
10  
Dầu cọc sợi số 3 80  
Nigron 180  
Lưu huỳnh 2  
Sulfofrezon 70  
Dầu thực vật 30  
Chủ yếu bôi trơn có  
tác dụng làm nguội  
C8 BPCTDKC CGKL  
9
GVC NGUYỄN THẾ TRANH - TRẦN QUỐC VIỆT  
Bảng 8.2. Kinh nghiệm sử dụng dung dịch trơn - nguội  
Vật  
gia công  
liệu Loại  
Dùng trong các phương pháp gia công  
dung dịch  
cắt  
ren  
Cắt  
răng  
tiện  
phay  
khoan dao  
chuốt  
Emulxi  
+
+
+
+
+
+
+
+
+
+
+
+
+
+
+
Thép  
Thép  
dụng cụ  
Sulfofrezon  
Dầu thực vật  
Emulxi  
+
+
+
+
+
+
+
+
+
Thép đúc Dầu thực vật  
+
+
+
+
Sulfofrezon  
Không dùng  
+
+
+
+
+
+
+
+
+
+
+
+
+
Gang  
Dầu mỏ  
+
+
Thép đúc  
Emulxi  
Đặc biệt  
Không dùng  
+
+
+
+
+
+
+
+
+
+
+
+
+
+
+
+
Đồng  
Nhôm  
Dura  
Emulxi  
Không khí  
Không dùng  
Emulxi  
+
+
+
+
+
+
+
+
+
Dầu mỏ  
Không dùng  
Dầu mỏ  
Emulxi  
+
+
Emulxi  
+
+
+
+
Silimin  
Dầu  
Dầu mỏ  
+
+
doc 9 trang myanh 26400 Free
Bạn đang xem tài liệu "Giáo trình Cơ sở cắt gọt kim loại - Chương 8: Các biện pháp cải thiện điều kiện cắt gọt", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • docgiao_trinh_co_so_cat_got_kim_loai_chuong_8_cac_bien_phap_cai.doc