Đánh giá hiệu quả hỗ trợ phát triển kinh tế cho phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn Thành phố châu đốc
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN KINH TẾ CHO PHỤ NỮ CÓ
HOÀN CẢNH KHÓ KHĂN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC
Huỳnh Thị Thu Trang
Học viên Trường Đại Học Sư Phạm Kỹ Thuật TP. Hồ Chí Minh
Mở đầu
đƣợc đào tạo nghề, giải quyết việc làm,
đối với các chị em phụ nữ bị bệnh hiểm
nghèo có điều kiện đƣợc chăm sóc sức
khỏe, phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn về
nhà ở đƣợc hỗ trợ cất nhà mái ấm tình
thƣơng, các chị em phụ nữ vi phạm pháp
luật đƣợc tù tha về đƣợc xã hội đón nhận
giúp đỡ để có cơ hội hoàn lƣơng.
Thành phố Châu Đốc là thành phố
biên giới trực thuộc tỉnh An Giang, với
50,5% dân số là phụ nữ. Lực lƣợng này
đã và đang có những đóng góp to lớn vào
sự phát triển kinh tế - xã hội của toàn
thành phố. Tuy nhiên, sự đóng góp của
phụ nữ lại chƣa đƣợc ghi nhận một cách
xứng đáng, chƣa tƣơng xứng với vị trí,
vai trò của họ trong nền kinh tế, trong các
quan hệ xã hội và trong đời sống gia đình.
Xuất phát từ tính cấp thiết nêu trên
và sự nhận thức sâu sắc về những tiềm
năng to lớn của phụ nữ, những cản trở sự
tiến bộ của phụ nữ trong quá trình đổi
mới và phát triển kinh địa phƣơng cần
thiết phải giúp đỡ các chị em phụ nữ dƣới
nhiều hình thức nhƣ: dạy nghề, giải quyết
việc làm, hỗ trợ vốn để các chị mua bán
nhỏ, vận động tặng thẻ bảo hiểm y tế để
chị em có điều kiện chăm sóc sức khỏe.
1. Một số vấn đề lý thuyết về
Theo khái niệm trên có thể thấy
một số vấn đề dƣới đây:
Thứ nhất, chủ thể chủ trì các hỗ trợ
về phát triển kinh tế cho phụ nữ có hoàn
cảnh khó khăn là nhà nƣớc. Nhà nƣớc hỗ
trợ phát triển kinh tế cho phụ nữ thông
qua các chính sách, chƣơng trình hành
động; và thông qua hệ thống bộ máy nhà
nƣớc là các cơ quan nhà nƣớc và tổ chức
chính trị xã hội, trong đó có Hội Liên hiệp
phụ nữ.
Thứ hai, đối tƣợng của hỗ trợ phát
triển kinh tế là phụ nữ có hoàn cảnh kinh
tế khó khăn. Đây là nhóm yếu thế trong
xã hội bị thiệt thòi về kinh tế, có hoàn
cảnh khó khăn về kinh tế.
hiệu quả hỗ trợ kinh tế cho phụ nữ có
hoàn cảnh khó khăn
1.1. Khái niệm hỗ trợ kinh tế cho
Thứ ba, hình thức hỗ trợ bao gồm
phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn
cả vật chất và phi vật chất. Hình thức vật
chất mang tính chất hỗ trợ tạm thời trong
ngắn hạn. Hình thức phi vật chất nhƣ tạo
công ăn việc làm, tƣ vấn làm kinh tế. Các
hình thức hỗ trợ này đều hƣớng tới thúc
đẩy năng lực làm kinh tế của phụ nữ có
hoàn cảnh kinh tế khó khăn, giúp họ tăng
Hỗ trợ phát triển kinh tế cho phụ
nữ có hoàn cảnh khó khăn là việc hỗ trợ
vật chất, trao phƣơng tiện sinh kế, thành
lập các mô hình, câu lạc bộ để hỗ trợ chị
em phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn có nơi
giao lƣu, học tập, có vốn để mua bán nhỏ,
86
thu nhập và từ đó cải thiện mức sống và
chất lƣợng sống.
khó khăn nói riêng, các tổ chức và quốc
gia thƣờng áp dụng mô hình khung logic
gồm 5 yếu tố: đầu vào, hoạt động, kết
quả, ảnh hƣởng và tác động. Khung logic
thể hiện ở sơ đồ dƣới đây:
1.2 Lý thuyết về đánh giá hiệu
quả hoạt động hỗ trợ phát triển kinh
tế cho phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn
Để đánh giá hỗ trợ phát triển kinh tế
nói chung và cho phụ nữ có hoàn cảnh
Mục tiêu hỗ trợ
Thực hiện hỗ trợ
Thay đổitạo
Đầu
vào
Tác
động
Hoạt
động
Kết quả
ra
Những
nguồn
lực cần
có
đểthực
hiện
Những
ảnh
hƣởng
tạo ra
cho phụ
nữ
Những
kết quả
đạt
Những thay
đổi mà phụ
nữ khó khăn
có đƣợc
Những
hoạt
động hỗ
trợ hiện
tại
đƣợc
hỗ
trợ
Sơ đồ 3. Khung đánh giá hỗ trợ phát triển kinh tế
(Nguồn: World Health Organisation, 2017, tr.46 )
Ở mỗi khâu, để đánh giá cần phải
vào đánh giá hết 5 yếu tố trên. Việc
đánh giá hết 5 yếu tố trên không những
giúp nhận ra kết quả của quá trình hỗ
trợ mà còn có thể tìm ra đƣợc nguyên
nhân của những kết quả tốt và những
mặt không tốt, giúp hoàn thiện công tác
hỗ trợ sau này. Tuy nhiên, trên thực tế,
cơ quan nhà nƣớc thƣờng chỉ quan tâm
và tập trung đánh giá kết quả đầu ra
(yếu tố thứ 3, 4 và 5 trong sơ đồ trên)
mà ít để ý tới yếu tố 1 và 2.
có tiêu chí cụ thể và khoa học. Nói cách
khác, khâu đánh giá cần tập trung vào
trả lời 02 vấn đề quan trọng: (1) các chỉ
số dùng để đo lƣờng công tác tổ chức
hỗ trợ tốt nhất; (2) phƣơng pháp phù
hợp nhất sẽ đƣợc sử dụng để đo lƣờng
hỗ trợ.
Theo sơ đồ trên, để đạt đƣợc mức
độ lý tƣởng nhất, việc đánh giá các
chƣơng trình hỗ trợ cần phải tập trung
87
- Số lƣợng hoặc tỷ lệ của từng
hoạt động trong tƣơng quan với các
hoạt động hỗ trợ.
- Các hoạt động đó đã đến hoặc
thu hút nhóm đối tƣợng là phụ nữ có
hoàn cảnh khó khăn ở mức độ nào.
1.2.3. Các kết quả từ hoạt động
hỗ trợ phát triển kinh tế cho phụ nữ
có hoàn cảnh khó khăn
Kết quả, tác động và những thay
đổi tạo ra trong nhiều tài liệu còn gọi là
kết quả ngắn hạn, trung hạn và dài hạn.
Kết quả (hay còn gọi là kết quả ngắn
hạn) là những gì chúng ta tạo ra từ công
tác hỗ trợ nhƣ: bao nhiêu nhà tình
thƣơng đƣợc xây dựng, bao nhiêu phụ
nữ có hoàn cảnh khó khăn đƣợc hỗ trợ
dạy nghề và tạo việc làm, bao nhiêu phụ
nữ có hoàn cảnh khó khăn khởi nghiệp
thành công. Kết quả trung hạn là phụ nữ
có hoàn cảnh khó khăn đã cải thiện chất
lƣợng của sống của họ ra làm sao. Kết
quả dài hạn là đóng góp nhƣ thế nào
đến quá trình bình đẳng giới, và các
mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội nói
chung.
2. Đánh giá hiệu quà hỗ trợ kinh
tế cho phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn
ở Châu Đốc
2.1. Đánh giá nguồn lực để hỗ
trợ phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn ở
Châu Đốc
Về nguồn lực tài chính giành cho
hỗ trợ kinh tế cho phụ nữ có hoàn cảnh
khó khăn đƣợc huy động từ nhiều
nguồn nhƣ ngân hàng thể hiện ở các
Bảng dƣới đây:
1.2.1. Những nguồn lực để hỗ
trợ phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn
Yếu tố đầu vào tập trung là rõ
những nguồn lực để hỗ trợ phụ nữ có
hoàn cảnh khó khăn. Theo đó, có thể
xác định đƣợc các tiêu chí đánh giá yếu
tố đầu vào gồm: (1) đầu tƣ tài chính; (2)
con ngƣời (trình độ, có đƣợc tập huấn
về truyền thông); (3) công tác tổ chức
(cơ quan chủ đạo, cơ quan phối hợp, và
mối quan hệ phối hợp có tốt hay không)
(Spillane và ctg, 2002); và đầu tƣ vào
công việc (các cơ quan thực hiện hỗ trợ
có kế hoạch và phƣơng án hỗ trợ để
thực hiện kế hoạch tỉnh và thành phố
hay không.
1.2.2. Nội dung hỗ trợ phát triển
kinh tế cho phụ nữ có hoàn cảnh khó
khăn
Khi đánh giá nội dung hỗ trợ phát
triển kinh tế cho phụ nữ có hoàn cảnh
khó khăn, các nhà đánh giá thƣờng tập
trung vào hai khía cạnh là độ bao phủ
và độ sâu của các nội dung này. Độ bao
phủ đƣợc đo bằng tỷ lệ, số lƣợng các
hoạt động đƣợc tổ chức. Độ sâu của các
hoạt động thể hiện nội dung của các
hoạt động đó. Nói cách khác, tiêu chí
đánh giá yếu hoạt động tập trung vào:
- Những hoạt động hỗ trợ nào
đƣợc tiến hành đƣợc tiến hành nhƣ hoạt
động tuyên dƣơng, tặng nhà tình
thƣơng, lồng ghép trong các hoạt động
nhƣ khuyến nông, khởi nghiệp, vay vốn
tín dụng.
88
Bảng 11. Nguồn tài chính và tƣơng đƣơng năm 2018
Tổ chức
Số tiền hoặc tƣơng đƣơng
(Triệu đồng)
Đồn Biên phòng Nhơn Hội
Công ty TNHH Bảo hiểm
Prudential Việt Nam
55
74
UBMTTQ, Hội LHPN TP
Siêu thị Tứ Sơn
981
9,5
Hội Bảo trợ Ngƣời tàn tật-Trẻ mồ
côi và bệnh nhân nghèo thành phố
Châu Đốc
105,5
CLB “Nữ Doanh Nghiệp”
Quỹ Châu Á cho vay
10
340
Hội cơ sở
354
Hội Vận động
49
Cá nhân vận động
Ngân hàng chính sách XH cho vay
1.252
23.463
(Nguồn: Hội LHPN Châu Đốc, 2016, 2017)
Về nhân lực và cách thức tổ chức
hỗ trợ, nổi bật với vai trò của Hội Liên
hiệp phụ nữ Thành phố Châu Đốc. Đây
là cơ quan trực thuộc Thành ủy Châu
Đốc, gồm có 08 cơ sở (Hội LHPN 07
phƣờng xã và Hội LHPN Công An
thành phố), với 14.882 hội viên. Hoạt
động chính của Hội là chăm lo, bảo vệ
cho phụ nữ và trẻ em đặc biệt là phụ nữ
yếu thế và trẻ em có hoàn cảnh khó
khăn. Năm 2018, Hội Liên hiệp phụ nữ
thành phố cụ thể hóa bằng các chƣơng
trình, hành động cụ thể, cùng với mạng
lƣới câu lạc bộ rộng khắp. Chẳng hạn
nhƣ đề án 938, 939: đề án 938 “ Tuyên
truyền, giáo dục, vận động, hỗ trợ phụ
nữ tham gia giải quyết một số vấn đề xã
hội liên quan đến phụ nữ giai đoạn
2017-2027”; đề án 939 về “Hỗ trợ phụ
nữ khởi nghiệp giai đoạn 2017-2025”,
hoặc Kế hoạch 133/KH-UBND ngày
13/9/2018 về thực hiện Đề án “Hỗ trợ
phụ nữ khởi nghiệp giai đoạn 2017 –
2025”.
2.2. Đánh giá nội dung hỗ trợ
phát triển kinh tế cho phụ nữ có hoàn
cảnh khó khăn
Trong thời gian qua, Thành phố
Châu Đốc đã tiến hành nhiều hỗ trợ
kinh tế cho phụ nữ có hoàn cảnh khó
khăn. Có thể kể ra một số hình thức và
cách làm cụ thể dƣới đây:
Thứ nhất là những hỗ trợ mang
tính chất trực tiếp, giải quyết nhu cầu về
vật chất cho phụ nữ có hoàn cảnh khó
khăn nhƣ tặng quà, gạo, sửa chữa và
xây mới nhà tình thƣơng cho những phụ
nữ có hoàn cảnh khó khăn về nhà ở.
89
Thứhai là những hỗ trợ về tạo việc
làm bằng nhiều hình thức nhƣ cho hỗ
trợ vốn để các chị em phụ nữ có hoàn
cảnh khó khăn tự tạo việc làm cho
chính mình. Hội còn thành lập các tổ
sản suất để tạo việc làm cho phụ nữ
chƣa có việc làm. Không những vậy,
Hội còn triển khai hoạt động dạy nghề
đề giúp cho phụ nữ có hoàn cảnh khó
khăn đáp ứng đƣợc yêu cầu công việc,
nhờ đó mà dễ có việc làm hơn.
Thứ ba là hỗ trợ thông qua hoạt
động kết nối với ngân hàng, quỹ hỗ trợ
giúp phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn tiếp
cận đƣợc nguồn vốn vay với lãi suất ƣu
đãi để phục vụ cho hoạt động sản xuất,
kinh doanh.
Thứ tư, Hội thông qua hệ thống
hội cơ sở và các câu lạc bộ để tăng
cƣờng khả năng tìm kiếm việc làm cũng
nhƣ kết nối và huy động các nguồn vốn
hỗ trợ từ xã hội và các thành phần kinh
tế khác.
Thứ năm, Hội hỗ trợ kinh tế cho
phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn thông
qua phát động và tổ chức phong trào
khởi nghiệp, với những tấm gƣơng khởi
nghiệp điển hình làm động lực cho
phong trào khởi nghiệp của phụ nữ khó
khăn ở Châu Đốc.
2.3. Đánh giá theo kết quả từ
hoạt động hỗ trợ phát triển kinh tế
cho phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn
2.3.1. Về kết quả ngắn hạn
Trước hết là hoạt động hỗ trợ xây
nhà mái ấm tình thƣơng cho những phụ
nữ khó khăn về nhà ở. Thống kê phân
loại từng trƣờng hợp để cất mới, sửa
chữa nhà đại đoàn kết, khám chữa bệnh
và tặng quà nhân các dịp lễ, tết cho các
hộ có hoàn cảnh khó khăn về nhà ở,
trong đó có phụ nữ có hoàn cảnh khó
khăn.
Cụ thể là cất mới 108 căn nhà với
số tiền 3.861.350.000 đồng, sửa chữa
14 căn nhà với số tiền 142.656.000
đồng, hỗ trợ khác
quy ra tiền:
4.048.343 đồng(Hội LHPN Châu Đốc,
2018).
Thứ hai,các hỗ trợ về khám chữa
bệnh. Trong thời gian qua, Hội LHPN
Châu Đốc còn tổ chức hỗ trợ khám chữa
bệnh cho phụ nữ có hoàn cảnh khó
khăn. Kết quả thể hiện ở Bảng dƣới đây:
Bảng 2. Hỗ trợ khám chữa bệnh cho
phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn
Năm Số trƣờng Số tiền (đồng)
hợp
Bảng số liệu cho thấy sự hỗ trợ
khám bệnh giành cho phụ nữ có hoàn
cảnh khó khăn không ổn định qua từng
năm. Năm 2016 chỉ có 54 trƣờng hợp
nhƣng năm 2017 lại tăng đột biến. Đến
năm 2018, con số này lại giảm xuống
chỉ còn 610 trƣờng hợp mà thôi. Những
số liệu này cho thấy đƣợc nỗ lực của
Hội LHPN Thành phố Châu Đốc, nhƣng
cũng đồng thời cho thấy sự khó khăn
của Hội LHPN Thành phố Châu Đốc
trong việc chủ động nguồn lực hỗ trợ
cho phụ nữ. Các hoạt động hỗ trợ đều
2016
2017
2018
54
35.014.000
1.3
80
484.064.000
610
225.420
.000
(Hội LHPN Châu Đốc, 2016, 2017,
2018)
90
phụ thuộc vào đóng góp của các mạnh
thƣờng quân.
thành công trên các lĩnh vực sản xuất,
kinh doanh. Qua đó, hỗ trợ 19 chị vay
với số tiền 685 triệu để làm các mô hình
sản xuất kinh doanh nhƣ: may túi xách,
làm kem, trồng sen, mở rộng quán cơm,
bán tạp hóa. Năm 2018, tổ chức Ngày
Hội phụ nữ khởi nghiệp: Tổ chức 07
gian hàng giới thiệu các đặc sản của địa
phƣơng và bánh Nam Bộ và mời thêm
03 hộ kinh doanh giới thiệu: các loại
mắm, logo du lịch, sản phẩm tiêu dùng
trong gia đình. Qua 3 ngày bán sản
phẩm và vận động mạnh thƣờng quân
cất đƣợc 01 căn nhà “Mái ấm tình
thƣơng” cho phụ nữ xã Vĩnh Tế (Hội
LHPN Châu Đốc, 2018).
Thứ balà các hoạt động hỗ trợ về
việc làm, tạo việc làm và hỗ trợ vốn
kinh doanh. Hội còn thành lập đƣợc một
Câu lạc bộ “Nữ doanh nhân”, Hội
thƣờng xuyên phối hợp với Câu lạc bộ
này để giúp đỡ cho phụ nữ và trẻ em đặc
biệt là chị em phụ nữ có hoàn cảnh khó
khăn bằng cách hổ trợ vốn để kinh
doanh, mua bán nhỏ, chăn nuôi, chuyển
nghề không tham gia buôn lậu nữa, hoặc
giải quyết việc làm cho các chị em (với
mức lƣơng từ 5 đến 7 triệu đồng/
ngƣời/tháng) đặc biệt là giúp đỡ cho các
chị em phụ nữ hoàn lƣơng tái hoà nhập
cộng đồng. Tham mƣu cho Hội LHPN
tỉnh phát vay cho 5 hộ vay (PA) chƣơng
trình dự án “Trao quyền cho phụ nữ” do
Hội LHPN tỉnh hỗ trợ với số tiền 25
triệu đồng để có vốn mua bán nhỏ
chuyển đổi ngành nghề không mua bán,
canh coi, vận chuyển thuốc lá lậu (Hội
LHPN Châu Đốc, 2018).
Thành lập 01 tổ hợp tác ở phƣờng
Núi Sam có 15 thành viên. Giới thiệu
vay vốn Ngân hàng CSXH vay 20 triệu
để mua nguyên liệu sản xuất túi xách,
ba lô. Đang làm hồ sơ đề nghị thêm cho
6 hộ vay để mở rộng sản xuất.
Trao 650 phần quà cho phụ nữ có
hoàn cảnh khó khăn ở 7 đơn vị phƣờng,
xã với tổng số tiền 140.000.000 . Bên
cạnh đó, Hội cơ sở xuất quỹ và vận động
hỗ trợ 1.486 chị hội viên có hoàn cảnh
khó khăn với số tiền 210.327.000 đồng
và 3.800 kg gạo. Giới thiệu 10 chị Chi
hội trƣởng phụ nữ khó khăn nhận quà
do Siêu thị Tứ Sơn hỗ trợ. Vận động
mạnh thƣờng quân 14 cái bếp gas mini,
16 nồi cơm điện với tổng số tiền
9.500.000đ đến thăm hỏi và hỗ trợ cho
các hộ bị hỏa hoạn ở Khóm Châu Thới,
phƣờng Châu Phú B và khóm 7,
phƣờng Châu Phú A (Hội LHPN Châu
Đốc, 2018).
Mở 13 lớp dạy nghề nhƣ se nhang,
làm khô, chả lụa chay, hoa voan, kỹ
thuật phục vụ nhà hàng, chả lụa heo,
trồng rau an toàn,may công nghiệp
….có 298 chị tham gia. Giới thiệu việc
làm cho 1.144 chị làm bò vò viên, lặt ớt,
giữ trẻ, may gia công, giúp việc nhà
lƣơng
2.000.000
–
3.000.000
đồng/tháng. Thực hiện kế hoạch số
76/KH-BTV, ngày 17/4/2018 của Ban
Thƣờng vụ Hội LHPN thành phố về
thực hiện nhiệm vụ “Vận động hỗ trợ
phụ nữ sáng tạo khởi nghiệp, phát triển
kinh tế, bảo vệ môi trƣờng” năm 2018,
mỗi cơ sở Hội trực tiếp hỗ trợ 01 phụ nữ
khởi nghiệp hoặc khởi sự kinh doanh
Phối hợp cùng Hội Bảo trợ Ngƣời
tàn tật – Trẻ mồ côi và bệnh nhân nghèo
thành phố Châu Đốc tổ chức lễ trao
91
nhận xe lăn, xe lắc và tặng quà cho 16
cá nhân có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn
năm 2018 do Quỹ Tâm Nguyện Việt
Thành phố Hồ Chí Minh tài trợ với tổng
số tiền 105.550.000 đồng.
Vận động Ni sƣ Thích nữ Dung
Liên - Tịnh xá Ngọc Phú là UV.BCH
Hội LHPN TP trong năm vận động giúp
đỡ các gia đình có hoàn cảnh khó khăn,
xây dựng cầu, khám bệnh, thăm hỏi,
tặng quà cho các bệnh nhân bệnh tâm
thần…với số tiền 1.252.320.000 đồng
(Hội LHPN Châu Đốc, 2018).
nhập tăng lên và chất lƣợng của số của
họ đƣợc cải thiện.
Số lƣợng hộ nghèo có phụ nữ
giảm đáng kể. Cụ thể
- Đầu nhiệm kỳ, toàn thành phố có
27.763 hộ, đến nay còn 29.096 hộ.
- Đầu nhiệm kỳ có 389 hộ phụ nữ
nghèo, đến nay còn trong đó có 70 hộ
phụ nữ nghèo.
- Đầu nhiệm kỳ có 219 hộ phụ nữ
chủ hộ nghèo, đến nay còn có 63 hộ
phụ nữ nghèo (Hội LHPN Châu Đốc,
2018).
Kết quả đào tạo nghề ngày càng
tăng qua các năm. Nếu nhƣ năm 2016,
chỉ có 1.200 lao động đƣợc đào tạo
nghề, thì đến năm 2018, con số này lên
tới 1.408 lao động.
Kết quả thoát nghèo cho thấy nỗ
lực rất lớn của Hội LHPN và các cơ
quan hữu quan. Số lƣợng các hộ nghèo
phụ nữ và hộ có phụ nữ làm chủ hộ
giảm mạnh trong giai đoạn từ đầu
nhiệm kỳ đến nay. Sự giảm mạnh số
lƣợng hộ nghèo cho thấy địa vị kinh tế
của phụ nữ trong xã hội đã bắt đầu đƣợc
tăng lên ngày càng đáng kể.
Không những vậy, trình độ, hiểu
biết và năng lực nghề nghiệp của chị em
phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn cũng
đƣợc cải thiện đáng kể. Đó là nhờ kết
quả vận động, phối hợp và quyết tâm
hành động của Hội LHPN Thành phố
Châu Đốc. Hàng năm, Hội đăng ký giúp
100% phụ nữ nghèo, phụ nữ chủ hộ
nghèo, phụ nữ chủ hộ cận nghèo bằng
các hình thức nhƣ giúp kiến thức, giúp
vốn, giúp việc làm, mở lớp dạy nghề,
cất mái ấm tình thƣơng (Hội LHPN
Châu Đốc, 2018). Việc giúp đỡ hỗ trợ
phát triển kinh tế cho phụ nữ khó khăn
từng bƣớc mang lại hiệu quả đáng kể,
đa số chị em vƣơn lên ổn định cuộc
sống (Hội LHPN Châu Đốc, 2018).
Kết quả giải quyết việc làm cũng
hết sức khả quan và tăng qua các năm.
Năm 2016, giải quyết việc làm cho
5.004 lao động. Năm 2017 giải quyết
việc làm cho 5.129 lao động. Năm 2018
giải quyết việc làm cho 6.700 lao động.
Năm 2018, số lƣợng việc làm đƣợc tạo
ra tăng mạnh hơn so với những năm
trƣớc. Những kết quả này vừa có
nguyên nhân từ chủ quan, vừa có
nguyên nhân từ khách quan. Chủ quan
là sự nỗ lực của Hội LHPN và các
ngành các cấp của Thành phố Châu
đốc. Khách quan là sự phát triển kinh tế
của Thành phố Châu Đốc đã tạo ra
nhiều công ăn việc làm hơn cho ngƣời
dân trên địa bàn nói chung và phụ nữ có
hoàn cảnh khó khăn về kinh tế nói
riêng.
2.3.2. Về kết quả trung hạn
Những kết quả ngắn hạn trên đã
tạo ra những kết quả trung hạn là số phụ
nữ thuộc hộ nghèo giảm đáng kể, thu
92
Việc tổ chức mở các lớp học nghề
có hiệu quả nhƣng việc giải quyết việc
làm sau học nghề chƣa mang lại hiệu
quả cao, các chị em phụ nữ có hoàn
cảnh khó khăn chƣa tìm đƣợc việc làm
tại địa phƣơng mà phải đi làm ăn xa.
Đối với các chị em phụ nữ cao
tuổi đơn thân, phụ nữ khuyết tật, phụ nữ
bị nhiễm HIV/AIDS thì không thể thoát
nghèo đƣợc mà chỉ chờ tháot nghèo tự
nhiên (chết).
Công tác hỗ trợ phụ nữ phát triển
kinh tế gia đình chƣa đạt hiệu quả cao,
việc hỗ trợ vốn còn thiếu, công tác đào
tạo nghề chƣa gắn với việc làm. Chƣa
chủ động trong công tác đối ngoại, chủ
yếu là phối hợp thực hiện.
Các cấp Hội chƣa chủ động trong
tham mƣu, đề xuất để triển khai trên
thực tế các quy định về lồng ghép giới
trong xây dựng luật pháp, chính sách,
xây dựng các chƣơng trình, đề án, phân
bổ và quản lý sử dụng ngân sách để
“Hỗ trợ phát triển kinh tế cho phụ nữ có
hoàn cảnh khó khăn”.
2.3.3. Về kết quả dài hạn
Những thành tựu trên đã góp phần
nâng cao vị thế, vai trò của phụ nữ. Phụ
nữ đƣợc tiếp cận các chính sách của
Đảng và nhà nƣớc, tham gia các chƣơng
trình hoạt động của địa phƣơng, các
ngành. Giúp phụ nữ có điều kiện vƣơn
lên tham gia chính trị (đảm bảo tỷ lệ nữ
tham gia cấp ủy đạt từ 15-20%, tham
gia Hội đồng nhân dân các cấp đạt từ
20-30% theo Nghị quyết số 11 của Bộ
Chính Trị) (Hội LHPN Châu Đốc,
2018).
Không những vậy, nhờ sự thay đổi
về công ăn việc làm, điều kiện kinh tế
nên tình trạng bất bình đẳng giới giảm,
ngƣời phụ nữ có nhiều tiếng nói hơn
trong gia đình và trong xã hội. Họ trở
thành những chủ thể quan trọng và góp
phần vào sự phát triển kinh tế-xã hội
của địa phƣơng.
Nhờ đó, nâng cao vị trí và vai trò
cũa Hội LHPN thành phố, tạo niềm tin
cho chị em phụ nữ, đặc biệt là các chị
em phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn.
Việc hỗ trợ đối với chị em “Phụ
nữ hoàn lương” chƣa thật sự hiệu quả
do các chị chƣa phấn đấu, còn trong chờ
ỷ lại, một số chị em tái nghiện hoặc trở
lại nghề cũ (mua bán ma túy).
3.2. Nguyên nhân những hạn
chế
Những hạn chế trên xuất phát từ
một số nguyên nhân sau:
Thứ nhất, chƣa có sự phối hợp tốt
giữa các ngành lao động thƣơng binh và
xã hội, Hội LHPN thành phố và UBND
các phƣờng, xã. Việc đào tạo nghề chƣa
phù hợp với nhu cầu của địa phƣơng
nên việc giải quyết đều ra (Giới thiệu
việc làm) chƣa đạt kết quả theo
mongmuốn.
Thứ hai là nguyên nhân xuất phát
từ đối tƣợng thụ hƣởng là phụ nữ có
hoàn cảnh khó khăn. Còn một số chị em
phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn về kinh
3. Một số hạn chế trong hỗ trợ
phát triển kinh tế cho phụ nữ có
hoàn cảnh khó khăn
3.1. Một số hạn chế
Khi có chính sách “Hỗ trợ phát
triển kinh tế cho phụ nữ có hoàn cảnh
khó khăn” của địa phƣơng và Hội
LHPN thành phố, cũng còn một số chị
em còn trông chờ, ỷ lại vào chính sách
này, không tự thân vận động vƣơn lên.
93
tế chƣa có ý chí vƣơn lên thoát nghèo.
Phụ nữ cao tuổi đơn thân, phụ nữ
khuyết tật và phụ nữ bị nhiễm
HIV/AIDS thì không thể tự tìm việc
làm đƣợc mà cần sự giúp đỡ từ cộng
đồng. Một số phụ nữ thƣờng hay tự ti,
rụt rè, an phận nên việc tác động đến sự
thay đổi nhận thức và hành vi về bình
đẳng giớimột số nơi còn khó khăn.
Thứ ba, tại địa phƣơng chƣa có
nhiều công ty, xí nghiệp lớn nên chƣa
giải quyết việc làm nhiều cho chị em
phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn mà phần
lớn các chị em đi làm ăn xa ở thành phố
Hồ Chí Minh, Bình Dƣơng.
khăn. Giải pháp này hƣớng đến đa dạng
hoá nguồn vốn vay từ vốn tự góp của
hội viên, vốn từ doanh nghiệp, tổ chức
kinh tế trên địa bàn, vốn từ các tổ chức
phi chính phủ và vốn vay từ ngân hàng.
Giải pháp thứ ba liên quan đến về
chuyển giao khoa học, kỹ thuật và dạy
nghề. Giải pháp này đƣa ra nhằm làm
cho hoạt động dạy nghể thiết thực và
đáp ứng nhu cầu thực tế của phát triển
kinh tế-xã hội ở địa phƣơng. Những mô
hình kinh tế và khởi nghiệp cần đƣợc
nghiên cứu và đƣa về áp dụng tại địa
phƣơng.
Giải pháp thứ tƣ liên quan đến
tăng cƣờng sự phối hợp giữa các cơ
quan và tổ chức có liên quan. Các cơ
quan nhà nƣớc, tổ chức chính trị-xã hội
và tổ chức kinh tế có liên quan giữ vai
trò chủ đạo trong tổ chức hỗ trợ phát
triển kinh tế cho phụ nữ có hoàn cảnh
khó khăn. Thế những sự phối hợp chƣa
tốt của các chủ thể này làm cho hiệu
quả hỗ trợ phát triển kinh tế giành cho
phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn chƣa
cao. Một trong những giải pháp đƣa ra
là phải xác định vai trò của từng cơ
quan, tổ chức và đơn vị để từ đó xây
dựng và áp dụng cơ chế triển khai phù
hợp.
Kết luận và giải pháp
Để giải quyết những nguyên nhân
trên, Luận án đề xuất tập trung vào 4
giải pháp:
Giải pháp thứ nhất nhấn mạnh đến
khía cảnh tổ chức các phong trào hỗ trợ
phát triển kinh tế. Giải pháp này hƣớng
tới hoàn chỉnh quy trình hỗ trợ phát
triển kinh tế; đồng thời làm cho hỗ trợ
phát triển kinh tế trở nên phong phú, đa
dạng, đúng đối tƣợng và thực sự trở
thành một cách thức hiệu quả giúp phụ
nữ có hoàn cảnh khó khăn.
Giải pháp thứ hai liên quan đến
tăng cƣờng khả năng tiếp cận nguồn
vốn vi mô của phụ nữ có hoàn cảnh khó
94
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng Việt
Trƣơng Thị Điệp (2018), Bình đẳng giới ở Việt Nam, thành tựu và thách thức trong
giai đoạn hiện nay, Báo Lao động và Xã hội online;
Phạm Vũ Lửa Hạ (2003), “Phát triển tín dụng nông thôn”, Làm gì cho nông thôn Việt
Nam, NXB TP. HCM.
Nguyễn Trọng Hoài (2005), Nghiên cứu ứng dụng các mô hình kinh tế lƣợng phân tích
các nhân tố ảnh hƣởng đến đói nghèo và đề xuất giải pháp xoá đói giảm nghèo ở
Đông Nam Bộ, Đề tài Khoa học và Công nghệ cấp Bộ, Trƣờng Đại học Kinh tế
Tp. HCM.
Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh An Giang (2018), Báo cáo công tác Hội Liên hiệp phụ nữ
giữa nhiệm kỳ 2016-2021 của Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh An Giang.
Hội Hội Liên hiệp phụ nữ huyện Tịnh Biên (2018), Báo cáo công tác Hội Liên hiệp
phụ nữ giữa nhiệm kỳ 2016-2021.
Hội Liên hiệp phụ nữ huyện Châu Phú (2018), Báo cáo công tác Hội Liên hiệp phụ nữ
giữa nhiệm kỳ 2016-2021.
Hội Liên hiệp phụ nữ thành phố Châu Đốc (2018), Báo cáo công tác Hội Liên hiệp phụ
nữ giữa nhiệm kỳ 2016-2021.
Hội Liên hiệp phụ nữ thành phố Châu Đốc (2018), Báo cáo kết quả hỗ trợ phụ nữ phát
triển kinh tế từ năm 2016-2018.
There are no sources in the current document.Lê Thành Trí (2019). Phát triển kinh
tế đô thị thành phố Châu Đốc, kết hợp du lịch văn hóa tâm linh đồng hành cùng
phụ nữ thành phố.(Đề án nghiên cứu của Phòng quản lý đô thị thành phố Châu
Đốc).
Ủy Ban Nhân Dân thành phố Châu Đốc (2016), Báo cáo kinh tế - xã hội năm 2016 của
Ủy Ban Nhân Dân thành phố Châu Đốc.
Ủy Ban Nhân Dân thành phố Châu Đốc (2017), Báo cáo kinh tế - xã hội năm 2017 của
Ủy Ban Nhân Dân thành phố Châu Đốc.
Ủy Ban Nhân Dân thành phố Châu Đốc (2018) Báo cáo kinh tế - xã hội năm 2018 của
Ủy Ban Nhân Dân thành phố Châu Đốc.
Tiếng Anh
CRNA Ministries (2006), Dự án Sea to Sea, Ending the Cycle of Poverty
Shahidur, K. R. (2009), Welfare Impacts of Rural Electrification: An Evidence From
Viet Nam, World Bank.
Spillane, J., P. và ctg, 2002, Policy implementation and cognition: Reframing and
refocusing implementation research, Review of Educational Research, Fall 2002,
95
72,3, ProQuest Central.
World Health Organisation, 2017, WHO strateigc communications framework for
effective communications, Department of communication, Switzeland.
Tác giả chịu trách nhiệm bài viết:
Huỳnh Thị Thu Trang
Đơn vị: Hội Liên Hiệp Phụ Nữ thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang
Đt: 0916.216.702
96
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá hiệu quả hỗ trợ phát triển kinh tế cho phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn Thành phố châu đốc", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
danh_gia_hieu_qua_ho_tro_phat_trien_kinh_te_cho_phu_nu_co_ho.pdf

