Đặc điểm ngữ pháp của tổ hợp V+N trong tiếng Hán (Đối chiếu với Tiếng Việt)

NGHIÊN CỨU  
ĐẶC ĐIỂM NGỮ PHÁP CỦA TỔ HỢP V+N TRONG TIẾNG HÁN  
(ĐỐI CHIẾU VỚI TIẾNG VIỆT)  
Nguyễn Hoàng Anh*  
Khoa Ngôn ngữ và Văn hꢀa Trung Quꢁc, Trường Đại học Ngoại ngữ, ĐHQGHN,  
Phạm Văn Đꢂng, Cầu Giꢃy, Hà Nꢄi, Viꢅt Nam  
Nhận bài ngày 01 tháng 12 năm 2016  
Chꢀnh sửa ngày 30 tháng 12 năm 2016; Chấp nhận đăng ngày 03 tháng 01 năm 2017  
Tóm tắt: Tổ hợp động từ kết hợp với danh từ (tổ hợp V+N) trong tiếng Hán có cấu trúc nội tại phong  
phú, độ ngưng kết và chức năng ngữ pháp của nó có quan hệ mật thiết đến cấu trúc âm tiết của tổ hợp. Thông  
qua khảo sát ngữ liệu, bài viết miêu tả cấu trúc nội tại, độ ngưng kết và chức năng của tổ hợp V+N tiếng Hán  
trong mối liên hệ với cấu trúc âm tiết của nó. Trên cơ sở đó, bài viết đối chiếu với tiếng Việt để tìm ra những  
điểm khác biệt bên cạnh những điểm tương đồng giữa hai ngôn ngữ cùng loại hình ngôn ngữ đơn lập ở địa  
hạt tổ hợp V+N này.  
Tꢆ khoꢇ: tổ hợp V+N, đặc điểm ngữ pháp, đối chiếu Hán Việt  
1. Đặt vấn đề  
Theo tổng kết của phần lớn các học giả  
2. Tổ hợp V+N có cấu trúc “động - tân”  
Quan sát các ngữ liệu khảo sát sau:  
đi trước như Guo Rui (郭锐), Huang Borong  
(黄伯荣) và Zhang Bin (张斌) , Qi Huyang  
(齐沪扬) và khảo sát thực tế chúng tôi nhận  
thấy, tổ hợp động từ kết hợp với danh từ (sau  
viết tắt là “tổ hợp V+N”) trong tiếng Hán chủ  
yếu là các loại hình tổ hợp sau: (1) Tổ hợp  
V+N có cấu trúc “động - tân” (động từ và  
tân ngữ); (2) Tổ hợp V+N có cấu trúc “định  
- trung” (định ngữ và trung tâm ngữ); (3) Tổ  
hợp V+N với hai cấu trúc “động - tân” và  
“định - trung”. Trong đó, cấu trúc âm tiết có  
ảnh hưởng nhất định đến đặc điểm ngữ pháp  
của tổ hợp này. Sau đây chúng tôi căn cứ vào  
tài liệu khảo sát, phân tích độ ngưng kết và  
chức năng ngữ pháp của các loại hình tổ hợp  
V+N nói trên trong mối liên hệ với cấu trúc  
âm tiết tiếng Hán, đồng thời tiến hành đối  
chiếu với tiếng Việt.  
(a1)走路/吃饭/开花/写字/熬夜/拔  
脚/拔腿/把脉/拜年/搬家/帮厨/帮冬/帮  
腔/包金/包月/保温/报案/报仇/报国/报  
名/报警/报幕/报时/报数/报账  
(a2) 写文章/读课文/买东西/  
(a3) 吃糯米饭/看展销会/学太极拳/  
摆龙门阵/吃闭门羹  
(a4) 喜欢钱/修理车/等待你  
(a5) 研究语言/成立公司/购买汽车/  
欢迎客人/选举厂长  
(a6) 安设窃听器/包装工艺品/翻译  
文言文/描写总统府  
Xét từ góc độ ngữ âm chúng tôi nhận  
thấy, trong tiếng Hán động từ và danh từ có  
cả đơn âm tiết, song âm tiết. Riêng danh từ có  
cả ba âm tiết nhưng chiếm tꢀ trọng không cao  
trong tổng số danh từ tiếng Hán. Trong đó các  
kết hợp “động - tân” V+N có cấu trúc âm tiết  
* ĐT.: 84-904124842, Email: [email protected]  
2
Tạp chí Nghiên cꢀu Nưꢁc ngoꢂi, Tꢃp 33, Sꢄ 1 (2017) 1-10  
thường gặp là “1+1” (nhóm ví dụ a1), “1+2”  
(nhóm ví dụ a2), “1+3” (nhóm ví dụ a3), “2+2”  
(nhóm ví dụ a5) và “2+3” (nhóm ví dụ a6).  
Các tổ hợp “động – tân” V+N mà trong đó có  
cấu tạo âm tiết là “2+1” (nhóm ví dụ a4) rất ít,  
khi đó âm tiết thứ hai của động từ trong tổ hợp  
này lại thường phải là thanh nhẹ, hoặc tân ngữ  
thường phải là đại từ. Hay nói cách khác, nếu  
tân ngữ của động từ song âm tiết là một danh  
từ đơn âm tiết thì trước danh từ đó thường phải  
có định ngữ để cả thành phần tân ngữ của động  
từ có thuộc tính đa âm tiết. Sở dĩ có hiện tượng  
như trên, theo chúng tôi có sự can dự của yếu  
tố ngữ âm. Nhà ngôn ngữ học Feng Shengli  
(冯胜利) cho rằng sự kết hợp giữa các đơn  
vị ngôn ngữ trong tiếng Hán chịu ảnh hưởng  
nhất định của “bước âm” (音步), điều đó có  
nghĩa “trong tiếng Hán có sự tồn tại của bước  
âm tự nhiên” [冯胜利, 2005: 4]. Feng Shengli  
còn chứng minh “bước âm” nhỏ nhất trong  
tiếng Hán là bước âm song âm tiết, một âm tiết  
không tạo ra “bước âm”, ba âm tiết được gọi là  
“siêu bước âm”. Từ đó Feng Shengli đã đưa ra  
lí luận về “từ âm luật”, theo đó trong tiếng Hán  
các đơn vị ngôn ngữ khi kết hợp với nhau sẽ tạo  
ra một đơn vị mới, đơn vị đó có thể là từ hoặc  
ngữ. Nếu là sự kết hợp “bước âm thuận chiều”,  
tức theo chiều từ trái sang phải “xx/xx/x” sẽ  
tạo ra từ, ví dụ: 造纸厂/展览馆. Ngược lại,  
nếu là sự kết hợp “bước âm nghịch chiều”, tức  
theo chiều từ phải qua trái “x/xx/xx” sẽ tạo ra  
ngữ, ví dụ: 开玩笑/写文章/小雨伞[冯胜利,  
2005: 6]. Tổ hợp “động – tân” V+N đang bàn  
ở trên thuộc tổ hợp li tâm, là tổ hợp có định  
hướng “ngữ”, chính vì vậy theo lí luận về “từ  
âm luật” của Feng Shengli sẽ khó có cụm từ có  
kiểu kết hợp bước âm thuận chiều “xx/x”, tức  
động từ song âm tiết hiếm khi trực tiếp kết hợp  
với danh từ tân ngữ đơn âm tiết tạo ra tổ hợp  
V+N có cấu trúc “động - tân”.  
Xét về độ ngưng kết của tổ hợp “động –  
tân” V+N chúng tôi nhận thấy có sự khác biệt  
nhất định giữa nhóm tổ hợp (a1) với các nhóm  
tổ hợp từ (a2) đến (a6).  
Nhóm tổ hợp (a1) do cả hai thành tố đều  
là đơn âm tiết, sau khi kết hợp với nhau tạo  
ra một đơn vị song âm tiết, vừa vặn với bước  
âm tự nhiên cơ bản, nhỏ nhất trong tiếng Hán,  
tức ở đây không có chiều của bước âm, chính  
vì thế nhóm tổ hợp (a1) mặc dù có thuộc tính  
của một cụm vị từ với kết cấu “động – tân”  
nhưng lại có độ liên kết khá chặt. Trong số  
các tổ hợp thuộc nhóm (a1) này đã có không ít  
trở thành một từ ghép và được ghi lại trong từ  
điển. Cấu trúc ngưng kết cũng đồng nghĩa với  
việc có thể sẽ làm mờ ý nghĩa của các thành tố  
tạo nên tổ hợp. Chính đặc điểm này của nhóm  
tổ hợp (a1) mà nó được các nhà ngữ pháp học  
tiếng Hán gọi với những cái tên khác nhau “từ  
li hợp”, “từ cú pháp”, “từ từ tổ”... Ví dụ trợ  
từ động thái 了/着/过 khi xuất hiện sẽ được  
đặt chen giữa các thành tố, dạng lặp của các  
động từ này thường là AAB chứ không phải  
là AABB như các động từ song âm tiết khác...  
Nhóm tổ hợp (a2) và (a3) do động từ đơn  
âm tiết kết hợp với danh từ song âm tiết hoặc  
danh từ ba âm tiết tạo ra một tổ hợp gồm 3  
hoặc 4 âm tiết. Theo cách phân loại về bước  
âm của Feng Shengli thì các tổ hợp này đều  
thuộc tổ hợp bước âm nghịch chiều “x/xx”  
hoặc “x/xxx” nên chúng đều mang tính chất  
của một cụm từ. Hay nói cách khác, độ ngưng  
kết giữa các thành tố động từ và danh từ trong  
các tổ hợp trên khá lỏng lẻo. Thực tế chúng  
tôi thấy rất hiếm có các tổ hợp thuộc nhóm  
(a2) hay (a3) được ghi lại trong từ điển với tư  
cách là một từ ghép. Quan sát những từ ghép  
có dạng cấu trúc ngữ âm “x/xx” mà chúng  
tôi thống kê được thì chúng đều có một đặc  
điểm chung khá đặc biệt đó là âm tiết thứ hai  
N.H. Anh / Tạp chí Nghiên cꢀu Nưꢁc ngoꢂi, Tꢃp 33, Sꢄ 1 (2017) 1-10  
3
của danh từ tân ngữ đều là các thanh nhẹ, tức  
chúng đều không phải là các danh từ song âm  
tiết điển hình. Ví dụ: 爱面子/拔罐子/摆架  
子/摆摊子/摆样子/坐月子.  
ngữ khác là rất khó khăn. Khi các tổ hợp này  
cần đề cập đến một thành tố nghĩa liên quan  
thì thông thường thành tố nghĩa đó phải được  
một giới từ dẫn ra và chiếm giữ vị trí trạng  
ngữ. Ví dụ:  
Nhóm tổ hợp (a4) có âm tiết thứ hai của  
động từ là thanh nhẹ, tạo ra một nhịp nghꢀ đệm  
giữa động từ và tân ngữ, vì vậy tổ hợp không có  
sự ngưng kết chặt chẽ. Trên thực tế chúng tôi  
không tìm được các tổ hợp từ ghép “động - tân”  
có cấu trúc âm tiết “2+1” được ghi trong từ điển.  
(4)一见到老人小李就鞠躬向他拜年。  
(5)我被诈骗了,已经向法院起诉  
了,还能向公安局报案吗?  
Chꢀ trừ các trường hợp mà trong đó động  
từ thuộc loại ba ngữ trị (tức động từ có thể  
mang hai tân ngữ) thì sau tổ hợp V+N mới có  
thêm một tân ngữ khác. Ví dụ:  
Nhóm tổ hợp (a5) và (a6) do động từ  
song âm tiết kết hợp với danh từ song âm hoặc  
ba âm tiết tạo ra một tổ hợp gồm 4 hoặc 5 âm  
tiết với hai bước âm hoặc đều là bước âm cơ  
bản tối thiểu “xx/xx” hoặc một bước âm cơ  
bản với một siêu bước âm “xx/xxx”. Với hai  
bước âm độc lập như vậy, cả tổ hợp chꢀ có thể  
là một cụm từ. Điều này một lần nữa được  
chứng minh khi trong tổ hợp có các âm tiết  
mang thanh 3 đi liền nhau thì sự biến thanh  
thường chꢀ xảy ra trong phạm vi một bước âm,  
tức một từ độc lập mà ít khi xảy ra giữa các  
bước âm (các từ) khác nhau. Ví dụ: 选举厂长  
(xua2nju3/cha2ngzha3ng), hoặc描写总统  
府(mia2oxie3/zo2ngto2ngfu3).  
(6) 小王送妹妹一本书。  
Tuy nhiên, trong tư liệu của chúng tôi có  
một số ít tổ hợp “động – tân” V+N ngưng kết  
thành một từ và vẫn có thể trực tiếp mang tân  
ngữ. Đây là hiện tượng cập vật hoá của một  
số động từ bất cập vật trong tiếng Hán. Hiện  
tượng này có chịu tác động nhất định của nhân  
tố tiết kiệm trong ngôn ngữ và “thường kèm  
theo những điều kiện ngữ pháp, ngữ nghĩa,  
ngữ dụng khá ngặt nghèo” [朱军、盛新  
华,2008]. Ví dụ:  
(7) 解放军如何登陆台湾?  
(8)朋友入股我们已经运营的公司,  
如何计算股份?  
Xét về chức năng ngữ pháp thì tổ hợp  
“động – tân” V+N là một tổ hợp mang tính vị  
từ, tức trùng với chức năng của thành tố động  
từ cấu tạo trong tổ hợp. Cả tổ hợp thường  
xuất hiện trong các thành phần vị ngữ của  
câu. Ví dụ:  
Tổ hợp “động – tân” V+N này cũng có thể  
làm các thành phần khác trong câu, ví dụ có thể  
làm định ngữ tu sức cho danh từ trung tâm. Khi  
đó giữa tổ hợp V+N và trung tâm ngữ thường  
phải có trợ từ kết cấu “的”, điều đó cho thấy  
tính chất vị từ của tổ hợp là rất rõ rệt. Ví dụ:  
(1) 我几乎要站起来出去开门。  
(2)第二天上午我们游完了前山,下午  
四点钟以后我们一共五个人走出寺院,到  
街上买酒精。  
(9)我给她们拉帷幔的时候,我看见  
了她们脸上的泪痕,......  
(3)今天下午,爸爸妈妈带我到桐乡  
(10)这时听见开门的声音,毛泽东的  
去看展销会。  
夫人贺子珍掀起门帘让我进去。  
Do các tổ hợp này đều có cấu trúc nội  
Một số tổ hợp “động – tân” V+N song  
tại là “động - tân” nên khả năng mang tiếp tân  
âm tiết (nhóm a1) khi làm định ngữ có thể trực  
4
Tạp chí Nghiên cꢀu Nưꢁc ngoꢂi, Tꢃp 33, Sꢄ 1 (2017) 1-10  
tiếp tu sức cho danh từ trung tâm mà không  
cần trợ từ kết cấu “的”. Khi đó cả tổ hợp đã  
ngưng kết thành một từ, và tính chất vị từ của  
cả tổ hợp cũng giảm đi rõ rệt, thậm chí có thể  
đã chuyển sang thuộc tính của từ loại khác  
như khu biệt từ. Ví dụ:  
với danh từ trung tâm tạo ra một khái niệm có  
phạm vi sở chꢀ được thu hẹp hơn so với sở chꢀ  
của danh từ trung tâm.  
3. Tổ hợp V+N có cấu trúc “định - trung”  
Quan sát các ngữ liệu sau:  
(b1)爱人/按酒/把柄/把手/败局/败  
仗/帮手/绑匪/煲饭/包皮/保人/报表/报  
单/报馆/报人/读音/读物/跑鞋/躺椅/飞  
船/飞鸟/来宾/烫发  
(11)开花馒头,取其寓意,芝麻开花  
节节高,意味着一个锦绣的前程。  
(12)吃饭表情、搞笑表情、人物表情  
等可QQ下载。  
(b2) 活地图/死老鼠  
(13)2013年上海写字楼租赁市场平稳  
(b3)报春花/报话机/写字台/复写纸/  
还原剂/混合面儿/计算尺/纪录片/检察  
官/保护伞/红烧肉  
收关,2014年走势有待观望  
Tổ hợp “động - tân” V+N khi ngưng kết  
thành một từ có thể có những thay đổi lớn về  
chức năng ngữ pháp của chúng, tức chúng  
không còn mang tính động từ, mà là một tiểu  
loại khác của vị từ - tính từ. Ví dụ: 出名/丢  
脸/开心/有道理/有钱/讲卫生/讲礼貌.  
(b4)报复主义/报告文学/还原染料/  
环绕速度/积累基金/加速运动/分配手段  
Xét từ góc độ ngữ âm, theo kết quả khảo  
sát của chúng tôi, tổ hợp định – trung V+N chꢀ  
có các kết hợp âm tiết “1+1”, “1+2”, “2+1”,  
“2+2”, trong đó các tổ hợp có cấu trúc âm tiết  
“1+2” rất ít. Với ngữ liệu chúng tôi có được  
chꢀ tìm thấy một vài ví dụ (nhóm tổ hợp b2)  
mà động từ trong đó chủ yếu là các động từ  
trạng thái như “活” hoặc “死”. Cũng có một  
số ít ví dụ khác nhưng không đơn thuần là  
cấu trúc “định - trung” mà kiêm hai cấu trúc,  
chúng tôi sẽ trình bày ở phần dưới. Nhóm tổ  
hợp (b2) này cũng có xu hướng từ hoá, tức cả  
tổ hợp ngưng kết như một từ, biểu thị một khái  
niệm, một sự vật. Nhóm tổ hợp (b1) có cấu  
trúc âm tiết “1+1” tạo ra một bước âm cơ bản,  
hơn nữa lại là kết cấu hướng tâm do vậy cũng  
ngưng kết thành từ ghép. Hầu hết các ví dụ  
trong nhóm tổ hợp này chúng tôi đều tìm được  
trong từ điển Hán ngữ hiện đại phiên bản số 5  
(《现代汉语 词典》第五版).Nhóm tổ hợp  
(b3) có cấu trúc âm tiết “2+1” tạo ra một siêu  
bước âm thuận chiều, và theo Feng Shengli  
thì bước âm thuận chiều sẽ có xu hướng tạo  
từ, vì vậy tổ hợp nhóm (b3) có độ ngưng kết  
Như vậy tổ hợp “động – tân” V+N có  
thể là một tổ hợp song âm tiết hoặc lớn hơn  
hai âm tiết. Trong đó khi động từ là các từ  
đơn âm tiết thì chúng có thể mang các danh  
từ tân ngữ là đơn âm tiết hoặc đa âm tiết. Nếu  
động từ là song âm tiết thì danh từ tân ngữ mà  
chúng mang theo thường là song âm tiết trở  
lên, trường hợp tân ngữ đơn âm tiết rất hãn  
hữu và thường có các điều kiện kèm theo như  
âm tiết thứ hai của động từ thường là thanh  
nhẹ, hoặc tân ngữ thường là đại từ. Các tổ hợp  
“động – tân” V+N này đều có thuộc tính của  
vị từ, tức có thể làm vị ngữ chính trong câu  
hoặc khi làm thành phần định ngữ thường  
phải xuất hiện trợ từ kết cấu “的”. Chꢀ một số  
ít các tổ hợp “động – tân” song âm tiết có thể  
trực tiếp tu sức cho danh từ trung tâm, điều đó  
cũng có nghĩa thuộc tính vị từ của tổ hợp đã  
giảm xuống, tổ hợp khi đó có thể mang thuộc  
tính của một khu biệt từ nhằm phân loại sở  
chꢀ của danh từ trung tâm, liên kết chặt chẽ  
N.H. Anh / Tạp chí Nghiên cꢀu Nưꢁc ngoꢂi, Tꢃp 33, Sꢄ 1 (2017) 1-10  
5
khá cao, gần với từ hơn là ngữ. Nhóm tổ hợp  
(b4) có cấu tạo âm tiết là “2+2”, tức bao gồm  
hai bước âm cơ bản, vì thế cũng có thể coi là  
một tổ hợp ngữ, độ ngưng kết của tổ hợp này  
không cao, song do là một kết cấu hướng tâm  
nên cũng không hoàn toàn tự do như các tổ  
hợp từ khác. Thành tố động từ định ngữ không  
còn mang tính vị từ đơn thuần, chúng cũng  
có xu hướng chuyển hoá thành thành tố mang  
thuộc tính của một khu biệt từ.  
có thể là một tổ hợp song âm tiết hoặc lớn hơn  
hai âm tiết. Trong đó khi động từ là các từ đơn  
âm tiết thì thường chꢀ làm định ngữ cho các  
danh từ đơn âm tiết. Rất hiếm khi có các động  
từ đơn âm tiết kết hợp với danh từ song âm  
tiết trở lên để tạo ra tổ hợp có cấu trúc “định -  
trung”. Nếu động từ là các từ song âm tiết thì  
chúng có thể cùng với các danh từ đơn âm tiết  
hoặc đa âm tiết tạo ra tổ hợp có cấu trúc “định  
- trung”. Các tổ hợp “định – trung” V+N này  
đều có thuộc tính của thể từ, tức có thể làm  
chủ ngữ, tân ngữ trong câu hoặc có thể kết  
hợp với số lượng từ. Khi tổ hợp này làm định  
ngữ cho các danh từ trung tâm khác thì sự ẩn  
hiện của trợ từ kết cấu “的” phụ thuộc vào vai  
trò ý nghĩa mà tổ hợp V+N tu sức cho danh từ  
trung tâm đó. Nếu trợ từ kết cấu “的” không  
xuất hiện mà danh từ trung tâm không phải là  
các phương vị từ thì thuộc tính thể từ của tổ  
hợp đã giảm xuống, tổ hợp khi đó có thể mang  
thuộc tính của một khu biệt từ nhằm phân loại  
sở chꢀ của danh từ trung tâm, liên kết chặt chẽ  
với danh từ trung tâm tạo ra một khái niệm có  
phạm vi sở chꢀ được thu hẹp hơn so với sở chꢀ  
của danh từ.  
Xét về chức năng ngữ pháp, tổ hợp “định  
– trung” V+N thuộc đơn vị mang tính thể từ,  
tức có thể làm chủ ngữ, tân ngữ trong câu hoặc  
có thể kết hợp với số lượng từ. Ví dụ:  
(14) 敬祝酒会随后在HBS演播大厅召  
开。  
(15) 我吃混合面儿。  
(16) 他是一个活地图,城里任何一  
个角落都能找到。  
Tổ hợp “định – trung” V+N cũng có thể  
làm định ngữ, tu sức cho danh từ trung tâm.  
Giữa danh từ trung tâm và định ngữ là kiểu tổ  
hợp này có hay không có trợ từ kết cấu “的”  
phụ thuộc vào quan hệ ngữ nghĩa giữa định ngữ  
và trung tâm ngữ. Nếu định ngữ nhấn mạnh sự  
sở thuộc hoặc nội dung của danh từ trung tâm  
thì thông thường có trợ từ kết cấu “的”, ví dụ:  
加油站的站长/理发店的门面; nếu là định  
ngữ dùng để phân loại sở chꢀ của danh từ trung  
tâm, hoặc định ngữ biểu thꢀ sở thuộc nhưng lại  
có quan hệ mật thiết với trung tâm ngữ, hoặc  
định ngữ cho danh từ phương vị thì thường  
không mang trợ từ kết cấu “的”. Ví dụ: 烫发发  
型/赛马场周围.Từ góc độ khác có thể thấy,  
sự ẩn hiện của trợ từ kết cấu “的” sẽ làm thay  
đổi một phần sắc thái quan hệ ngữ nghĩa giữa  
động từ định ngữ và danh từ trung tâm.  
4. Tổ hợp V+N hai cấu trúc “động - tân” và  
“định - trung”  
Hiện tượng đa cấu trúc của một tổ hợp  
thực từ trong tiếng Hán tồn tại khá phổ biến  
khi thiếu vắng các dấu hiệu hình thức. Tổ hợp  
V+N cũng có thể là một tổ hợp thuộc loại này  
với hai cấu trúc “động - tân” và cấu trúc “định  
- trung”. Ví dụ:  
(c1) 帮工/绑腿/包饭/包工/吃水/  
(c2)烤红薯/炝黄瓜/烤鸡翅/炸鱼段/炸  
酱面/  
(c3)分析材料/进口汽车/保护动物/  
出租汽车  
Như vậy cũng giống như tổ hợp có cấu  
trúc “động – tân”, tổ hợp “định – trung” V+N  
(c4) 炝拌鱼腥草  
6
Tạp chí Nghiên cꢀu Nưꢁc ngoꢂi, Tꢃp 33, Sꢄ 1 (2017) 1-10  
Theo khảo sát của chúng tôi, các tổ hợp  
sát những ví dụ trong nhóm (c2) và (c4) chúng  
tôi nhận thấy ở đây chủ yếu là các tổ hợp trong  
trường nghĩa ẩm thực. Theo chúng tôi có thể  
là do các động từ nấu nướng trong tiếng Hán  
chủ yếu là động từ đơn âm tiết, khi tên món  
ăn được đặt theo cách nấu nướng sẽ có cấu  
trúc như cấu trúc của nhóm tổ hơp (c2). Nhóm  
tổ hợp (c4) tuy có xuất hiện nhưng số lượng  
cũng rất hạn chế.  
V+N mang hai cấu trúc chủ yếu ở các trường  
hợp có cấu trúc âm tiết “1+1” (nhóm tổ hợp  
c1) (tức tổ hợp có bước âm không chiều)  
hoặc “2+2” (nhóm tổ hợp c3) (tức tổ hợp có  
hai bước âm lưỡng chiều. Như trên chúng  
tôi đã trình bày về lí thuyết âm luật từ của  
Feng Shengli, theo đó tổ hợp có bước âm  
thuận chiều thường tạo từ, tổ hợp có bước âm  
nghịch chiều thường tạo ngữ. Vậy từ đó có  
thể suy luận ra rằng, bước âm không chiều  
hoặc bước âm lưỡng chiều vừa có thể tạo ra  
từ, lại cũng có thể tạo ra ngữ. Khi tạo ra ngữ  
thì tổ hợp V+N thường có cấu trúc li tâm, tức  
có cấu trúc “động - tân”, khi tạo ra từ thì tổ  
hợp V+N thường có cấu trúc hướng tâm, tức  
có cấu trúc “định - trung”. Theo khảo sát của  
chúng tôi, giữa hai nhóm (c1) và (c3) cũng có  
sự khác biệt nhất định về số lượng. Do số âm  
tiết của nhóm (c1) là hai âm tiết, tức một bước  
âm cơ bản, vậy nên nhóm (c1) có xu hướng  
ngưng kết thành một từ. Cấu trúc của từ lại  
thường ổn định nên tổ hợp V+N có cấu trúc  
âm tiết “1+1” thường là tổ hợp đơn cấu trúc,  
tức hoặc là cấu trúc “động – tân”, hoặc cấu  
trúc “định – trung”. Còn tổ hợp (c3) có bốn  
âm tiết được tạo bởi hai bước âm cơ bản, do  
vậy chúng thường là tổ hợp ngữ, cấu trúc của  
nó khá lỏng lẻo và dễ mang tính đa cấu trúc.  
Vì thế mà số lượng tổ hợp hai cấu trúc (c1)  
ít hơn số lượng tổ hợp hai cấu trúc (c3). Các  
tổ hợp V+N hai cấu trúc có cấu trúc âm tiết  
“1+2” (nhóm tổ hợp c2) hoặc “2+3” (nhóm  
tổ hợp c4) có số lượng rất ít. Sở dĩ có hiện  
tượng này là vì tổ hợp thuộc nhóm (c2) có  
bước âm nghịch chiều và tổ hợp nhóm (c4)  
gồm hai bước âm độc lập nên chúng thường  
là các tổ hợp ngữ, mà các tổ hợp ngữ của cấu  
trúc V+N trong tiếng Hán thường là tổ hợp ưu  
tiên cho cấu trúc “động - tân”. Ngoài ra, quan  
Xét về mặt chức năng ngữ pháp của  
tổ hợp hai cấu trúc V+N cũng dễ dàng thấy  
được, nếu tổ hợp có dạng cấu trúc “động -  
tân” thì chức năng ngữ pháp của nó như một  
vị từ, tức tương tự với tổ hợp nhóm (a), mức  
độ ngưng kết của nó khá lỏng, giống như một  
ngữ hoặc một từ li hợp; Nếu tổ hợp có dạng  
cấu trúc “định - trung” thì mức độ ngưng kết  
của chúng lúc này khá chặt, chức năng ngữ  
pháp của nó như một thể từ, tức tương tự với  
tổ hợp nhóm (b) đã trình bày ở trên.  
Như vậy xét về mặt cấu trúc, tổ hợp V+N  
trong tiếng Hán được chia làm ba nhóm: (a)  
Nhóm có cấu trúc “động - tân”, đây cũng là  
cấu trúc ưu tiên của tổ hợp này. Khi đó tổ hợp  
mang tính chất và chức năng ngữ pháp như  
một vị từ. Động từ và danh từ trong tổ hợp  
nhìn chung vẫn giữ nguyên thuộc tính của  
mình; (b) Nhóm có cấu trúc “định - trung”,  
so với cấu trúc “động –tân”, là cấu trúc phái  
sinh của tổ hợp, khi đó danh từ trong tổ hợp  
vẫn giữ nguyên thuộc tính, còn thuộc tính vị  
từ của thành tố động từ trong tổ hợp đã nhoè  
đi, chꢀ còn có tác dụng như một khu biệt từ,  
hạn chế sở chꢀ của danh từ. Cả tổ hợp có chức  
năng ngữ pháp như một thể từ; (c) Nhóm có  
dạng hai cấu trúc, vừa có thể là “động - tân”,  
tức giống định dạng nhóm (a), vừa có thể là  
“định - trung”, tức giống định dạng nhóm (b).  
Nhóm này có số lượng không nhiều, nó sẽ  
được triệt tiêu tính đa cấu trúc khi đưa vào sử  
N.H. Anh / Tạp chí Nghiên cꢀu Nưꢁc ngoꢂi, Tꢃp 33, Sꢄ 1 (2017) 1-10  
7
dụng trong ngữ cảnh cụ thể. Khi xét về mặt  
cấu trúc của tổ hợp V+N chúng tôi nhận thấy,  
yếu tố ngữ âm, trong đó chủ yếu là cấu trúc  
âm tiết, tức chiều của bước âm trong tổ hợp có  
ảnh hưởng trực tiếp đến cấu tạo và độ ngưng  
kết của cả tổ hợp.  
hợp với tiếng Hán khi động từ song âm tiết  
cũng hiếm khi trực tiếp kết hợp với danh từ  
tân ngữ đơn âm tiết.  
Xét về mặt số lượng, tổ hợp “động – tân”  
V+N trong tiếng Việt có số lượng nhiều hơn  
tiếng Hán do các thành phần đứng sau động  
từ làm tân ngữ trong tiếng Việt ngoài kết tố  
bắt buộc còn có thể là các kết tố tự do biểu thị  
nguyên nhân, địa điểm, phương thức... Điều  
này chúng tôi sẽ thảo luận sâu khi có điều kiện  
bàn về đặc điểm ngữ nghĩa của tổ hợp V+N.  
5. Đối chiếu đặc điểm ngữ pháp tổ hợp V+N  
trong tiếng Hán với tiếng Việt  
Tổ hợp V+N trong tiếng Việt cũng  
thường có cấu trúc ưu tiên là cấu trúc “động  
- tân”, điều này giống với tiếng Hán. Ví dụ:  
Xét về chức năng ngữ pháp, các nhà ngữ  
pháp học Việt Nam (Cao Xuân Hạo, Nguyễn  
Văn Hiệp, Nguyễn Hữu Quỳnh,...) đều nhất  
trí cho rằng tổ hợp “động – tân” V+N trong  
tiếng Việt đều mang thuộc tính của một vị từ,  
tức thường làm vị ngữ chính của câu. Điều  
này tương tự như tổ hợp có cấu trúc động – tân  
V+N trong tiếng Hán,Ví dụ:  
(d1) ăn cơm/ đọc sách/ vẽ tranh/ học  
luật/ bơi ếch/ đi mây về gió/ ăn thùng uống  
vại/ đi khách/ đi chợ/ nói mồm/ chạy xe/ chạy  
chợ/ viết tay/ đá bóng/ học nhóm/ học vẹt  
(d2) ăn mì tôm/ đọc truyện tranh/ vẽ  
chữ nghĩa/ nói tiếng Việt/ học buổi chiều/ học  
nước ngoài/ đi Tây Thiên/  
(d3) vẽ tranh sơn mài/ đi chân chữ bát/  
học tiếng nước ngoài/ đi giày thể thao  
(17) Chủ khách bèn vào buồng ăn cơm.  
(18) Ai muốn nhờ vả cụ vẽ chữ nghĩa,  
(d4) giúp đỡ bạn/ cá cược tiền/ nghiên  
cứu thuốc/ xây dựng trường  
đều phải có đem cành cau, hoặc gói chè,..  
Cũng giống như tiếng Hán, các tổ hợp  
V+N nếu trong đó V là các động từ ba ngữ  
trị thì sau tổ hợp có thể xuất hiện một tân ngữ  
nữa của động từ. Ví dụ:  
(d5) hỏi han bạn bè/ nghiên cứu ngữ  
pháp/ di chuyển chỗ ở/ sản xuất hàng hoá/ ăn  
mày cửa phật  
(d6) giúp đỡ người tàn tật/ chuyển giao  
công nghệ cao/ nhập khẩu hàng mĩ phẩm  
(19) Lĩnh tháng lương đầu tiên Hoài đã  
tặng mẹ một chiếc khăn len.  
Xét về góc độ ngữ âm, trong tiếng Việt  
các động từ đơn âm tiết hoặc song âm tiết đều  
có thể kết hợp với các danh từ đơn âm tiết,  
song âm tiết hoặc từ ba âm tiết trở lên. Trong  
đó khả năng kết hợp của động từ đơn âm tiết  
có phần tự do hơn. Ví dụ trong số các nhóm  
tổ hợp từ (d1) đến (d6) nêu trên, nhóm tổ hợp  
(d4) với cấu trúc âm tiết “2+1” không được  
thực hiện hoá nhiều trong tiếng Việt so với các  
nhóm tổ hợp còn lại. Hiện tượng này trùng  
Hiện tượng cập vật hoá các tổ hợp V+N  
với các động từ khác trong tiếng Việt cũng rất  
hiếm như ở tiếng Hán vậy. Các cách nói “viết  
chữ bút lông, ăn cơm thìa, hạ cánh sân bay  
Tân Sơn Nhất...” trong tiếng Việt theo chúng  
tôi đều chꢀ là hiện tượng tꢀnh lược giới từ  
trong khẩu ngữ.  
Một số tổ hợp “động – tân” V+N trong  
tiếng Việt sau khi ngưng kết có thể chuyển hoá  
8
Tạp chí Nghiên cꢀu Nưꢁc ngoꢂi, Tꢃp 33, Sꢄ 1 (2017) 1-10  
thành một tính từ để miêu tả tính chất của sự vật,  
hiện tượng như: có trình độ/ biết việc/ hiểu lễ  
nghi. Điều này cũng giống với tiếng Hán. Ví dụ:  
Xét về mặt ngữ âm, các tổ hợp V+N có  
cấu trúc “định - trung” của tiếng Việt hoặc có  
cấu trúc âm tiết “1+1” hoặc có cấu trúc âm tiết  
“2+1” giống như phần lớn tổ hợp này trong  
tiếng Hán. Các tổ hợp này của tiếng Việt có  
độ ngưng kết cao, thường đã trở thành từ ghép  
hoặc một cụm từ cố định.  
(20) Tìm được người biết việc sẽ tiết  
kiệm được thời gian.  
Tổ hợp V+N trong tiếng Việt mặc dù có  
thuộc tính vị từ cao nhưng khi làm định ngữ,  
tu sức cho danh từ trung tâm thường không  
xuất hiện các trợ từ kết cấu. Ví dụ:  
Xét về nguồn gốc của thành tố cấu tạo thì  
đại đa số các thành tố cấu tạo của tổ hợp “định  
– trung” V+N này đều là âm Hán Việt, chꢀ một  
số ít thành tố là thuần Việt như “trò” là từ thuần  
Việt. Xét về nguồn gốc cả tổ hợp thì một bộ  
phận tổ hợp này mượn nguyên gốc Hán (gồm  
thành tố cấu tạo và trật tự từ) rồi chuyển âm  
Hán Việt để tạo thành từ Hán Việt (học sinh/  
độc giả/ tác gia/ chứng nhân/ trợ thủ/ thành  
phẩm). Một bộ phận khác là mượn các yếu tố  
Hán và cách tạo từ của tiếng Hán để sáng tạo ra  
một lớp từ “tựa từ Hán Việt” (thí sinh/ phi hành  
gia/ phát thanh viên). Các tổ hợp này không có  
nguyên gốc ở tiếng Hán. Còn một bộ phận nhỏ  
là mượn một yếu tố Hán ghép với một yếu tố  
thuần Việt theo cấu trúc Hán để tạo ra một kiểu  
tổ hợp “bán từ Hán Việt” (học trò).  
(21) công tác xây dựng trường/ người  
nói tiếng Việt/ cách đọc sách/ nghĩa cử giúp  
đỡ người tàn tật  
Đây cũng là điểm khác biệt giữa tổ hợp  
động – tân V+N trong tiếng Việt và tiếng Hán.  
Khác với tiếng Hán, cấu trúc danh ngữ  
trong tiếng Việt có trật tự danh từ trung tâm  
ngữ đứng trước, định ngữ đứng sau. Vì vậy tổ  
hợp V+N thuần Việt thường không có cấu trúc  
“định - trung”. Nói đúng hơn, cấu trúc “động -  
tân” là cấu trúc chiếm tuyệt đại đa số của tổ hợp  
V+N trong tiếng Việt. Chꢀ có một bộ phận nhỏ  
tổ hợp V+N do chịu ảnh hưởng của tiếng Hán  
qua quá trình tiếp xúc ngôn ngữ (ở đây là ảnh  
hưởng của trật tự “định - trung” trong danh ngữ  
tiếng Hán) nên có cấu trúc “định - trung”. Theo  
khảo sát của chúng tôi, các tổ hợp V+N có cấu  
trúc “định – trung” đều đã ngưng kết thành từ  
hoặc cụm từ cố định với yếu tố cấu tạo đều là  
âm Hán Việt hoặc một trong số thành tố cấu tạo  
là âm Hán Việt. Ví dụ:  
Xét về mặt chức năng ngữ pháp, tổ hợp  
“định – trung” V+N trong tiếng Việt đã ngưng  
kết như một danh từ, hoặc một cụm từ cố định  
mang tính danh từ nên nó mang đầy đủ chức  
năng ngữ pháp của danh từ. Tức tổ hợp này có  
thể làm chủ ngữ, tân ngữ, kết hợp được với số  
lượng từ. Ví dụ:  
(e1) học sinh/ học phí/ học trò/ độc giả/  
hoạ sĩ/ ca sĩ/ tác gia/ tác nhân/ chứng nhân/ hành  
trình/ trợ thủ/ thành phẩm/ thí sinh/ thích khách/  
thực khách/ bại tướng/ đấu trường/ xạ thủ.  
(22) Thí sinh đều đã có mặt đúng giờ.  
(23) Chúng tôi đã chuyển thực tập phí  
cho đơn vị tiếp nhận thực tập sinh.  
(24) Có một phát thanh viên của đài  
(e2) phi hành gia/ nhiếp ảnh gia/ phi  
hành đoàn/ khảo sát phí/ thực tập phí/ thực tập  
sinh/ phát thanh viên/ liên lạc viên/ điện báo  
viên/ chꢀ huy sở.  
truyền hình là người miền Nam.  
Tổ hợp này cũng có thể làm danh từ  
trung tâm trong cụm danh từ, ví dụ:  
N.H. Anh / Tạp chí Nghiên cꢀu Nưꢁc ngoꢂi, Tꢃp 33, Sꢄ 1 (2017) 1-10  
9
(25) Hắn hỏi tên điện báo viên người  
Bắc vừa ló đầu ra.  
là do trong tiếng Hán trật tự trong cụm danh  
từ là định ngữ đứng trước danh từ trung tâm,  
vì thế nếu động từ trong tổ hợp V+N tu sức  
được cho danh từ của chính tổ hợp đó thì cả  
tổ hợp có dạng cấu trúc “định - trung”. Còn  
trong tiếng Việt muốn tạo ra một cụm danh  
từ thì vị trí giữa động từ và danh từ trong tổ  
hợp phải đảo ngược lại, vì trật tự từ trong nội  
bộ cụm danh từ tiếng Việt là danh từ trung  
tâm ngữ đứng trước định ngữ. Khi là cấu trúc  
“động - tân” thì tổ hợp V+N ở cả tiếng Hán  
và tiếng Việt đều mang tính vị từ, khi là cấu  
trúc “định - trung” thì chúng đều mang tính  
thể từ. Giữa tổ hợp “động – tân” V+N trong  
tiếng Việt và tổ hợp cùng loại trong tiếng Hán  
cũng có khác biệt tế nhị. Theo đó khi cả tổ  
hợp V+N làm định ngữ tu sức cho một danh  
từ ngoài tổ hợp thì ở tiếng Hán thường phải  
xuất hiện trợ từ kết cấu “的”, tính vị từ của cả  
tổ hợp lúc này được thể hiện khá rõ rệt. Trong  
khi đó ở tiếng Việt nếu tổ hợp V+N làm định  
ngữ thường kết hợp trực tiếp với danh từ. Tính  
vị từ của nó vì thế có thể bị mờ đi, trở thành  
một đơn vị mang tính khu biệt từ, tương tự  
như khi tổ hợp “động – tân” V+N ở tiếng Hán  
kết hợp trực tiếp với danh từ trung tâm. Ngoài  
những khác biệt trên thì tổ hợp V+N của tiếng  
Hán và tiếng Việt đều chịu ảnh hưởng nhất  
định của yếu tố ngữ âm, tức cấu trúc âm tiết  
có ảnh hưởng đến cấu trúc nội tại của tổ hợp.  
Tuy nhiên ở tiếng Hán ảnh hưởng này rõ rệt  
hơn nên tạo ra những cấu trúc khá phức tạp  
trong nội bộ của tổ hợp.  
(26) Học phí của trường thu theo đúng  
thời gian quy định.  
Tổ hợp “định – trung” V+N trong tiếng  
Việt cũng có thể làm định ngữ như các danh  
từ khác. Khi làm định ngữ giữa tổ hợp định  
ngữ này với danh từ trung tâm có thể có hoặc  
không có trợ từ kết cấu, tuỳ thuộc vào mức độ  
quan hệ ngữ nghĩa lỏng chặt của định ngữ với  
danh từ trung tâm. Ví dụ:  
(27) Trang phục học sinh thường màu  
sáng,...  
(28) Giọng của ca sĩ cần phải được giữ  
gìn trước khi lên sân khấu.  
(29) Nhiệm vụ của hoạ sĩ là ghi lại vẻ  
đẹp của cuộc sống trong các tác phẩm hội hoạ  
của mình.  
Như vậy đối chiếu tiếng Hán và tiếng  
Việt chúng tôi nhận thấy mặc đây là hai ngôn  
ngữ cùng thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập  
[N.V.Xtankêvich], giữa chúng có nhiều điềm  
tương đồng nhưng cũng có những điểm khác  
biệt nhất định. Sự khác biệt rõ rệt nhất trong  
đặc điểm cấu trúc của tổ hợp V+N là trong  
tiếng Việt tổ hợp này phần lớn có cấu trúc  
“động - tân”, chꢀ một số ít tổ hợp có nguồn gốc  
liên quan đến tiếng Hán thì mới có cấu trúc  
“định - trung”. Khi đó tổ hợp “định - trung”  
V+N của tiếng Việt chủ yếu là các từ ghép  
hoặc các cụm từ cố định. Trong tiếng Việt  
không có tổ hợp V+N mang cả hai cấu cấu  
trúc “động – tân” và “định - trung”. Trong khi  
đó ở tiếng Hán, bên cạnh cấu trúc ưu tiên là  
cấu trúc “động - tân”, cấu trúc “định - trung”  
cũng khá phổ biến trong tổ hợp V+N. Ngoài  
ra một số tổ hợp V+N trong tiếng Hán còn  
mang cả hai cấu trúc trên. Sự khác biệt này  
Có thể nói, đặc điểm ngữ pháp của tổ  
hợp V+N trong tiếng Hán tuy không phải là  
vấn đề nghiên cứu mới, song đặt nó trong mối  
liên hệ với đặc điểm cấu trúc âm tiết và trong  
sự đối chiếu với tiếng Việt để làm rõ mối quan  
hệ giữa bình diện ngữ âm, ngữ pháp và tìm ra  
sự khác biệt giữa hai ngôn ngữ cùng loại hình  
10  
Tạp chí Nghiên cꢀu Nưꢁc ngoꢂi, Tꢃp 33, Sꢄ 1 (2017) 1-10  
Tiếng Trung  
đơn lập, thiết nghĩ cũng có tác dụng nhất định  
trong nghiên cứu giảng dạy tiếng Hán và tiếng  
Việt như một ngoại ngữ.  
冯胜利 (2005).《汉语韵律语法研究》北京大  
学出版社.  
郭锐 (2002).《现代汉语词类研究》商务印  
书馆.  
Tài liệu tham khảo  
Tiếng Việt  
黄伯荣、廖序东 (2002).《现代汉语》高等  
教育出版 社.  
Cao Xuân Hạo (1998). Tiꢈng Viꢅt: mꢃy vꢃn đꢉ ngữ  
âm, ngữ phꢇp, ngữ nghĩa . Nxb Giáo dục.  
张斌、齐沪扬 (2000).《现代汉语短语》华  
东师范大学出版社.  
Nguyễn Văn Hiệp (2009). Cú phꢇp tiꢈng Viꢅt, Nxb  
朱军、盛新华 (2008). “‘动宾结构带宾  
语’格式成因探究”《汉语学习》,第3  
期.  
Giáo dục Việt Nam.  
Nguyễn Hữu Quỳnh (1994). Tiꢈng Viꢅt hiꢅn đại  
(Ngữ âm, ngữ phꢇp, phong cꢇch), Trung tâm  
biên soạn từ điển bách khoa Việt Nam.  
Từ điển  
Trung tâm từ điển học (1997). Tꢆ điꢋn Tiꢈng Viꢅt,  
N.V.Xtankêvich (1982). Loại hꢊnh cꢇc ngôn ngữ  
(Bản dịch tiếng Việt). Nxb Đại học và trung  
học chuyên nghiệp.  
Nxb Đà Nẵng.  
中国社会科学院语言研究所 (2007).《现代汉  
语词典》第五版,商务出版社.  
GRAMMATICAL FEATURES OF V+N PHRASES IN CHINESE  
(IN CONTRAST WITH VIETNAMESE)  
Nguyen Hoang Anh  
Faculty of Chinese Language and Culture, VNU University and Languages  
and International Studies,  
Pham Van Dong, Cau Giay, Hanoi, Vietnam  
Abstract: The combinationsof verbs and nouns (V+N phrases) in Chinese are rich in internal structures  
and syntactic fusion, and their grammatical functions are closely related to their syllabic structures. Through  
data analysis, description of internal structures, degree of fusion and functions of Chinese V+N phrases, the  
paper discusses the relationship between these phrases and their syllabic structures. On that basis, Chinese  
V+N phrases are contrasted with their Vietnamese counterparts so as to identify their differences apart from  
similarities between the two languages of the same isolating type.  
Keywords: V+N phrases, grammatical features, Chinese-Vietnamese contrast  
pdf 10 trang Mãnh Khiết 15/01/2024 14420 Free
Bạn đang xem tài liệu "Đặc điểm ngữ pháp của tổ hợp V+N trong tiếng Hán (Đối chiếu với Tiếng Việt)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdac_diem_ngu_phap_cua_to_hop_vn_trong_tieng_han_doi_chieu_vo.pdf