Bài giảng Pháp luật đại cương - Lê Thị Bích Ngọc

HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG  
- - - - - - -  
- - - - - - -  
BÀI GIẢNG  
PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG  
Biên soạn : Ths. LÊ THỊ BÍCH NGỌC  
Lưu hành nội bộ  
HÀ NỘI - 2006  
Lời nói đầu  
LỜI NÓI ĐẦU  
Đảng và nhà nước đã chủ trương tăng cường giáo dục pháp luật trong các trường đại  
học thông qua các chương trình môn học, giáo trình, tài liệu học tập đảm bảo đúng tinh thần  
và nội dung của Hiến pháp và pháp luật hiện hành. Thực hiện chủ trương đó tài liệu hướng  
dẫn học tập môn Pháp luật đại cương dùng cho sinh viên các ngành thuộc hệ Đào tạo từ xa  
thuộc Học viện Công nghệ BCVT đã được biên soạn. Đây là môn học thuộc phần kiến thức  
giáo dục đại cương theo chương trình khung trình độ đại học của Bộ giáo dục và Đào tạo.  
Tài liệu đặt mục tiêu hướng dẫn các sinh viên nghiên cứu môn học Pháp luật đại cương  
nhằm trang bị những kiến thức cơ bản, cần thiết nhất về nhà nước và pháp luật nói chung,  
nhà nước và pháp luật Việt Nam nói riêng, các ngành luật cơ bản của hệ thống pháp luật  
Việt Nam đủ làm cơ sở để tiếp tục nghiên cứu các môn học pháp luật khác trong chương  
trình đào tạo.  
Tài liệu được kết cấu gồm 9 chương theo đề cương môn Pháp luật đại cương dành  
cho chương trình đại học ngành Quản trị kinh doanh của Học viện Công nghệ BCVT.  
Trong đó 3 chương đầu đề cập đến một số vấn đề cơ bản về nhà nước và pháp luật. Năm  
chương sau, mỗi chương đề cập chi tiết một số ngành luật quan trọng như Luật Hiến pháp,  
luật hành chính, luật Hình sự và tố tụng hình sự, luật dân sự và tố tụng dân sự, luật kinh tế  
và luật lao động. Đây là những ngành luật điều chỉnh những quan hệ xã hội cơ bản nhất và  
những quan hệ xã hội phổ biến trong đời sống xã hội.  
Tài liệu biên soạn đã cập nhật những quy định mới nhất của hệ thống pháp luật Việt  
Nam tuy nhiên có thể không tránh khỏi những thiếu sót mong nhận được sự đóng góp để tài  
liệu được hoàn thiện hơn.  
Xin trân trọng cảm ơn.!  
Hà Nội, tháng 3 năm 2006  
Ths. Lê Thị Bích Ngọc  
Chương 1: Lý luận chung về nhà nước  
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ NHÀ NƯỚC  
Nội dung của chương 1 trình bày những vấn đề lý luận hết sức cơ bản về Nhà nước  
với ý nghĩa là một hiện tượng lịch sử xã hội phức tạp. Đứng từ góc độ nghiên cứu theo  
phương pháp duy vật biện chứng khách quan, khoa học cho học viên thấy được sự phát  
triển của lịch sử xã hội loài người được tiếp cận từ phương diện nhà nước. Qua những vấn  
đề chung nhất về lý luận và thực tiễn cho thấy nhà nước có quá trình phát sinh, phát triển và  
tồn tại trên những cơ sở kinh tế và xã hội nhất định. Qua đó khẳng định sự ra đời của Nhà  
nước là một tất yếu lịch sử.  
Nhà nước được tồn tại dưới những kiểu và được tổ chức dưới những hình thức nhất  
định. Qua những vấn đề lý luận chung về Nhà nước từ đó liên hệ với nhà nước Cộng hoà xã  
hội chủ nghĩa Việt Nam cụ thể về đặc trưng, bản chất, tổ chức bộ máy, chức năng của Nhà  
nước. Học viên có thể biết được địa vị pháp lý của các cơ quan quyền lực, hành pháp, tư  
pháp trong bộ máy nhà nước được tổ chức như thế nào? Vị trí? thẩm quyền ra sao? Qua  
những vấn đề lý luận được trình bày trong tài liệu học tập người học có thể tự liên hệ với  
những gì liên quan đang diễn ra trong đời sống nhà nước bằng những ví dụ thực tế để minh  
họa. Các vấn đề lý luận về nhà nước Việt Nam đều khẳng định và làm rõ hơn “tính nhân  
dân” của nhà nước Việt Nam, cho thấy nhà nước Việt Nam là một nhà nước XHCN kiểu  
mới nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Tất cả tổ chức và hoạt động của  
bộ máy nhà nước, từng cơ quan nhà nước cũng như những người làm trong các cơ quan đó  
đều đặt việc phục vụ lợi ích của nhân dân lên hàng đầu. Nhằm phục vụ tốt hơn nữa quyền  
lợi của nhân dân, nội dung chương 1 đề cập đến việc cần thiết phải cải cách bộ máy nhà  
nước - đây là vấn đề mà Đảng, Nhà nước và toàn xã hội rất quan tâm mà chi tiết hơn là  
những phương hướng và mục tiêu cụ thể. Điều này cũng đáp ứng cho việc hoàn thành mục  
tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam. Ngoài việc cải cách bộ máy nhà  
nước thì hệ thống chính trị cũng như các nhân tố trong hệ thống đó như Đảng cộng sản, Nhà  
nước, các tổ chức xã hội cũng cần phải được cải cách, đổi mới và hoàn thiện hơn nữa nhằm  
xây dựng 1 cơ chế thực sự dân chủ, văn minh đáp ứng ngày càng tốt hơn các nhu cầu của  
quần chúng nhân dân.  
1.1. BẢN CHẤT NHÀ NƯỚC, KIỂU VÀ HÌNH THỨC NHÀ NUỚC  
1.1.1. Nguồn gốc, bản chất của Nhà nước  
1.1.1.1. Nguồn gốc của Nhà nước  
Nhà nước là một hiện tượng xã hội đa dạng và phức tạp. Để có nhận thức đúng về bản  
chất Nhà nước, cũng như những biến động trong đời sống Nhà nước cần lý giải nhiều vấn  
đề trong đó nhất thiết phải làm sáng tỏ nguồn gốc hình thành Nhà nước, chỉ ra những  
nguyên nhân đích thực làm xuất hiện Nhà nước.  
3
Chương 1: Lý luận chung về nhà nước  
Có nhiều quan điểm khác nhau giải thích về nguồn gốc của Nhà nước như các học  
thuyết phi mác-xít (thuyết quyền gia trưởng, thuyết thần quyền, thuyết khế ước xã hội,  
thuyết bạo lực...) và học thuyết của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác-Lênin. Theo các nhà  
sáng lập chủ nghĩa Mác-Lênin giải thích nguồn gốc Nhà nước trên cơ sở phương pháp luận  
duy vật biện chứng và lịch sử, đã chỉ ra rằng Nhà nước không phải là một hiện tượng xã hội  
vĩnh cữu, bất biến mà là một phạm trù lịch sử có quá trình phát sinh, phát triển và tiêu vong.  
Lịch sử xã hội loài người đã trải qua một thời kỳ chưa có Nhà nước đó là chế độ công xã  
nguyên thuỷ và sẽ phát triển đến giai đoạn không cần đến Nhà nước. Nhà nước nảy sinh từ  
trong đời sống xã hội, xuất hiện khi xã hội loài người phát triển đến một trình độ nhất định,  
và khi những điều kiện khách quan của sự tồn tại Nhà nước không còn nữa thì Nhà nước sẽ  
tiêu vong.  
Xã hội loài người phát triển qua nhiều hình thái kinh tế xã hội khác nhau trong đó chế  
độ công xã nguyên thủy là hình thái kinh tế xã hội đầu tiên không tồn tại giai cấp và Nhà  
nước. Trong chế độ công xã nguyên thủy do trình độ phát triển của lực lượng sản xuất còn  
rất thấp kém và tình trạng bất lực của con người trước những hiện tượng thiên nhiên và thú  
dữ, nên để kiếm sống và tự bảo vệ mình con người buộc phải co cụm lại dựa vào nhau cùng  
chung sống, cùng lao động và cùng hưởng thụ những thành quả do lao động mang lại. Mọi  
tư liệu sản xuất và sản phẩm lao động đều thuộc sở hữu chung của mọi thành viên trong  
cộng đồng. Tính chất xã hội trong chế độ công xã nguyên thủy còn rất đơn giản gồm có tổ  
chức thị tộc - là tế bào, là cơ sở cấu thành xã hội. Thị tộc được tổ chức theo nguyên tắc  
huyết thống, lúc đầu huyết thống được xác lập theo dòng mẹ gọi là thị tộc mẫu hệ và về sau  
được xác lập theo dòng cha gọi là thị tộc phụ hệ. Mỗi thành viên của thị tộc đều bình đẳng  
về quyền lợi và địa vị xã hội, trong xã hội không tồn tại đặc quyền, đặc lợi không có sự  
phân hóa giàu nghèo. Hệ thống quản lý của công xã thị tộc là Hội đồng thị tộc và tù trưởng  
Hội đồng thị tộc hợp thành bởi tất cả các thành viên đã trưởng thành của thị tộc là tổ chức  
quyền lực cao nhất của thị tộc. Tù trưởng do hội nghị toàn thể thị tộc bầu ra, được lựa chọn  
từ những người nhiều tuổi, có kinh nghiệm và uy tín trong cộng đồng. Tù trưởng đứng đầu  
thị tộc song không có đặc quyền so với các thành viên khác của thị tộc, họ cũng phải lao  
động và được hưởng thụ như mọi người. Quá trình phát triển xã hội công xã nguyên thuỷ đã  
xuất hiện hình thức tổ chức cao hơn là bào tộc, bộ lạc và liên minh bộ lạc. Xã hội công xã  
nguyên thủy có sự phân công lao động nhưng mang tính tự nhiên giữa các thành viên của  
thị tộc để làm những công việc thích hợp khác nhau: giữa đàn ông và đàn bà, người khỏe,  
người già và trẻ em. Phân công lao động chưa mang tính xã hội nên không tạo ra vị trí khác  
nhau của con người trong sản xuất và đời sống.  
Xã hội công xã nguyên thủy chưa có Nhà nước nhưng quá trình vận động và phát  
triển của nó đã làm xuất hiện những tiền đề vật chất cho sự tan rã của tổ chức thị tộc - bộ lạc  
và sự ra đời của Nhà nước. Trong quá trình sống và lao động sản xuất, con người ngày một  
phát triển hơn về thể chất, trí lực, cấu trúc các giác quan ngày một hoàn thiện, hiểu biết  
nhiều hơn các quy luật tự nhiên và xã hội, tích lũy được nhiều kinh nghiệm sản xuất, luôn  
tìm kiếm và cải tiến các công cụ lao động. Tất cả những yếu tố này đưa đến năng suất lao  
động xã hội tăng lên không ngừng, lực lượng sản xuất có những bước tiến rõ rệt đòi hỏi có  
sự phân công lao động theo hướng chuyên môn hóa. Vào thời kỳ cuối của chế độ công xã  
4
Chương 1: Lý luận chung về nhà nước  
nguyên thủy đã diễn ra lần lượt 3 lần phân công lao động xã hội: 1. Chăn nuôi tách khỏi  
trồng trọt; 2. Thủ công nghiệp tách khỏi nông nghiệp; 3. Buôn bán phát triển, thương  
nghiệp ra đời.  
Sự phát triển của công cụ sản xuất, sự phân công lao động xã hội làm cho kinh tế đạt  
những bước tiến dài, sản phẩm làm ra ngày một nhiều hơn so với yêu cầu của xã hội xuất  
hiện dầu hiệu của cải dư thừa, phát sinh khả năng chiếm đoạt sản phẩm thừa làm của riêng.  
Quá trình phân hóa tài sản bắt đầu nảy sinh, những người có địa vị và uy tín trong xã hội  
như tù trưởng, thủ lĩnh quân sự lợi dụng ưu thế sẵn có của mình chiếm đoạt tài sản của thị  
tộc - bộ lạc thành tài sản riêng. Chế độ tư hữu được hình thành. Trước đây do khả năng kinh  
tế không cho phép và nhu cầu về sức lao động không đặt ra nên tù binh bị bắt trong các  
cuộc giao tranh giữa các thị tộc - bộ lạc đều bị giết, về sau do sản xuất phát triển, nhu cầu  
sức lao động tăng tù binh được giữ lại nuôi để bổ sung vào nguồn lao động và những người  
có địa vị trong thị tộc đã chiếm hữu và khai thác lao động cho cá nhân họ. Chế độ hôn nhân  
một vợ, một chồng xuất hiện gia đình có cơ cấu nhỏ tách khỏi gia đình phụ hệ cơ cấu lớn và  
trở thành đơn vị kinh tế tự chủ trong sản xuất, độc lập tài sản, tự định đoạt sản phẩm lao  
động. Trong quá trình sản xuất, những người có công cụ tốt, có sức khỏe và kinh nghiệm  
thu được hiệu quả cao, ngày càng giàu có. Một số người giàu có do chiếm được tư liệu sản  
xuất, do bóc lột lao động tù binh và bóc lột những người nghèo khác, đã giành được vị trí  
ưu thế trong xã hội và trở thành giai cấp bóc lột. Những người không có tư liệu sản xuất, bị  
bóc lột ngày càng nghèo khó trở thành giai cấp bị bóc lột. Hai bộ phận dân cư này do quyền  
lợi đối lập nhau nên mâu thuẫn ngày càng gay gắt và quyết liệt, điều kiện kinh tế - xã hội là  
cơ sở tồn tại của xã hội công xã nguyên thủy bị phá vỡ, quyền lực xã hội và hệ thống quản  
lý do toàn thể các thành viên cộng đồng tổ chức ra để bảo vệ lợi ích của các thành viên bình  
đẳng nay không thích hợp với xã hội đã phân hóa và mâu thuẫn gay gắt về lợi ích. Để duy  
trì trật tự và quản lý một xã hội đã có những thay đổi rất cơ bản đòi hỏi phải có một tổ chức  
và một quyền lực mới khác về chất. Tổ chức đó do giai cấp chiếm được ưu thế về kinh tế tổ  
chức ra để thực hiện sự thống trị giai cấp, dập tắt xung đột công khai giữa các giai cấp, giữ  
các xung đột ấy trong một vòng trật tự, bảo vệ lợi ích và địa vị của giai cấp thống trị. Đó là  
Nhà nước chế độ công xã nguyên thủy tan rã, Nhà nước xuất hiện là kết quả của sự vận  
động, phát triển nội tại của xã hội loài người. Tiền đề kinh tế cho sự ra đời của Nhà nước là  
chế độ tư hữu tài sản, tiền đề xã hội cho sự ra đời của Nhà nước là sự phân hóa xã hội thành  
các giai cấp, các tầng lớp có lợi ích đối lập nhau và mâu thuẫn giữa các giai cấp, các tầng  
lớp ấy gay gắt đến mức không thể điều hòa được.  
* Định nghĩa Nhà nước: Nhà nước là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị,  
một bộ máy chuyên làm nhiệm vụ cưỡng chế và thực hiện các chức năng quản lý đặc biệt  
nhằm duy trì trật tự xã hội, thực hiện mục đích bảo vệ địa vị của giai cấp thống trị.  
* Các dấu hiệu đặc trưng của Nhà nước:  
- Nhà nước là một tổ chức quyền lực chính trị công cộng đặc biệt, có bộ máy chuyên  
thực hiện cưỡng chế và quản lý những công việc chung của xã hội.  
- Nhà nước thực hiện quản lý dân cư theo lãnh thổ.  
- Nhà nước có chủ quyền quốc gia.  
5
Chương 1: Lý luận chung về nhà nước  
- Nhà nước ban hành pháp luật và thực hiện quản lý bắt buộc với công dân.  
- Nhà nước quy định các loại thuế và thực hiện thu thuế dưới hình thức bắt buộc.  
1.1.1.2. Bản chất của Nhà nước  
a. Tính chất giai cấp của Nhà nước  
Đi từ sự phân tích nguồn gốc Nhà nước các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin  
cho rằng nhà nước chỉ xuất hiện và tồn tại trong xã hội có giai cấp và luôn mang tính chất  
giai cấp sâu sắc. Làm rõ tính chất giai cấp của Nhà nước phải giải đáp được câu hỏi: Nhà  
nước do giai cấp nào tổ chức ra và lãnh đạo, nhà nước tồn tại và hoạt động trước hết phục  
vụ lợi ích của giai cấp nào trong xã hội.  
Nghiên cứu nguồn gốc ra đời của nhà nước, các nhà tư tưởng khẳng định: “Nhà nước  
là sản phẩm và biểu hiện của những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa được”. Nhà  
nước trước hết là “bộ máy trấn áp đặc biệt của giai cấp này đối với giai cấp khác”, là bộ  
máy để duy trì sự thống trị giai cấp. Trong xã hội có giai cấp, sự thống trị giai cấp xét về nội  
dung thể hiện ở 3 mặt: kinh tế, chính trị và tư tuởng. Để thực hiện sự thống trị của mình,  
giai cấp thống trị phải tổ chức và sử dụng nhà nuớc, củng cố và duy trì quyền lực về chính  
trị, kinh tế và tư tưởng đối với toàn xã hội. Bằng nhà nước, giai cấp thống trị về kinh tế trở  
thành giai cấp thống trị về chính trị, ý chí của giai cấp thống trị được thể hiện một cách tập  
trung và biến thành ý chí nhà nước, bắt buộc mọi thành viên trong xã hội phải tuân theo, các  
giai cấp, các tầng lớp dân cư phải hành động trong một giới hạn và trật tự phù hợp với lợi  
ích của giai cấp thống trị.  
Nhà nước là một bộ máy cưỡng chế đặc biệt, là công cụ sắc bén nhất duy trì sự thống  
trị giai cấp, đàn áp lại sự phản kháng của các giai cấp bị thống trị, bảo vệ địa vị và lợi ích  
của giai cấp thống trị. Do nắm được quyền lực nhà nước, hệ tư tưởng của giai cấp thống trị  
biến thành hệ tư tưởng thống trị trong xã hội. Trong các xã hội bóc lột, nhà nước có thuộc  
tính chung là bộ máy đặc biệt duy trì sự thống trị về kinh tế, chính trị, tư tưởng của thiểu số  
đối với đa số là nhân dân lao động, thực hiện nền chuyên chính của giai cấp bóc lột. Nhà  
nước XHCN là nhà nước kiểu mới, là công cụ thực hiện nền chuyên chính và bảo vệ lợi ích  
của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Nhà nước XHCN là một bộ máy thống trị của  
đa số với thiểu số.  
b. Vai trò xã hội của nhà nước  
Nhà nước ngoài tính cách là công cụ duy trì sự thống trị và bảo vệ lợi ích của giai cấp  
thống trị, còn phải là một tổ chức quyền lực công, là phương thức tổ chức bảo đảm lợi ích  
chung của xã hội. Nhà nước không chỉ phục vụ lợi ích của giai cấp thống trị mà còn đứng ra  
giải quyết những vấn đề nảy sinh từ trong đời sống xã hội, bảo đảm trật tự chung, sự ổn  
định, bảo đảm các giá trị chung của xã hội để xã hội tồn tại và phát triển. Như vậy nhà nước  
không chỉ bảo vệ lợi ích của giai cấp cầm quyền mà phải bảo đảm lợi ích của các giai tầng  
khác trong xã hội khi mà những lợi ích đó không mâu thuẫn căn bản với lợi ích của giai cấp  
thống trị.  
6
Chương 1: Lý luận chung về nhà nước  
1.1.2. Các kiểu và hình thức nhà nước  
1.1.2.1. Kiểu nhà nước  
Nhà nước là thực thể xã hội tồn tại trong lịch sử, dưới hình thái kinh tế xã hội nhất  
định. Do vậy, dựa trên nội dung của phạm trù hình thái kinh tế-xã hội, học thuyết Mác-  
Lênin đã phân chia các nhà nước trong lịch sử thành các kiểu khác nhau.  
Kiểu nhà nước là tổng thể các dấu hiệu cơ bản của nhà nước, thể hiện bản chất, vai  
trò xã hội, những điều kiện, phát sinh, tồn tại và phát triển của nhà nước trong hình thái  
kinh tế-xã hội nhất định.  
Trong lịch sử tư tưởng chính trị - pháp lí đã có những cách khác nhau trong việc phân  
chia các kiểu nhà nước. Tuy nhiên, học thuyết Mác-Lênin về hình thái kinh tế - xã hội đem  
lại cơ sở khoa học để phân biệt các kiểu nhà nước trong lịch sử.  
Mỗi hình thái - kinh tế xã hội là một kiểu tổ chức đời sống xã hội tương ứng với một  
phương thức sản xuất nhất định. Từ khi phân chia thành các giai cấp đến nat, xã hội loài  
người đã và đang trải qua bốn hình thái kinh tế - xã hội là chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư  
sản và XHCN. Trong các hình thái kinh tế - xã hội đó, nhà nước - yếu tố thuộc kiến trúc  
thượng tầng của xã hội phát sinh, tồn tại và phát triển dựa trên và phù hợp với bản chất, đặc  
điểm của mỗi cơ sở hạ tầng nhất định là các quan hệ sản xuất trong mỗi phương thức sản  
xuất tương ứng. Theo các hình thái kinh tế - xã hội đã nêu, có bốn kiểu nhà nước là:  
- Nhà nước chủ nô;  
- Nhà nước phong kiến;  
- Nhà nước tư sản;  
- Nhà nước XHCN.  
Nhà nước là bộ phận quan trọng nhấ trong kiến trúc thượng tầng xã hội, khi hạ tầng  
cơ sở thay đổi, các quan hệ kinh tế mới tiến bộ hơn thay thế các quan hệ kinh tế cũ đã lạc  
hậu, kéo theo sự thay đổi kiểu nhà nước thông qua các cuộc cách mạng xã hội. Như vậy, sự  
thay thế các kiểu nhà nước trong lịch sử gắn liền và là biểu hiện của sự thay đổi các hình  
thái kinh tế - xã hội.  
Trong bốn kiểu nhà nước nêu trên, các nhà nước chủ nô, phong kiến, tư sản đều dựa  
trên nền tảng kinh tế là chế độ người bóc lột người đồng thời phục vụ và bảo vệ chế độ đó  
nên người ta gọi kiểu nhà nước bóc lột.  
Nhà nước XHCN dựa trên chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất nên có bản chất  
khác hẳn, nó bảo vệvà phục vụ cho lợi ích của đại đa số nhân dân lao động gồm giai cấp  
công nhân, nông dân và đọi ngũ trí thức.  
1.1.2.2. Hình thức nhà nước  
a. Khái niệm: Hình thức nhà nước là sự biểu hiện ra bên ngoài của việc tổ chức  
quyền lực nhà nước ở mỗi kiểu nhà nước trong một hình thái kinh tế xã hội nhất định. Hình  
thức nhà nước do bản chất và nội dung của nhà nước quy định.  
b. Phân loại: Có 2 loại hình thức chính thể và hình thức cấu trúc:  
7
Chương 1: Lý luận chung về nhà nước  
- Hình thức chính thể: là hình thức tổ chức các cơ quan quyền lực tối cao, cơ cấu,  
trình tự và mối quan hệ giữa chúng với nhau cũng như mức độ tham gia của nhân dân vào  
việc thiết lập các cơ quan này.  
Hình thức chính thể gồm 2 dạng cơ bản là:  
+ Chính thể quân chủ: quyền lực nhà nước tập trung toàn bộ hay phần lớn trong  
tay người đứng đầu nhà nước (Vua, Hoàng đế...) theo nguyên tắc thừa kế.  
+ Chính thể cộng hòa: quyền lực nhà nước được thực hiện bởi các cơ quan đại  
diện do dân bầu ra trong một thời gian nhất định.  
- Hình thức cấu trúc: là sự tổ chức nhà nước theo các đơn vị hành chính - lãnh thổ và  
tính chất quan hệ giữa các bộ phận cấu thành nhà nước, giữa cơ quan nhà nước trung ương  
với cơ quan nhà nước địa phương.  
Có hai hình thức cấu trúc nhà nước chủ yếu đó là:  
+ Nhà nước đơn nhất: là nhà nước có lãnh thổ toàn vẹn, thống nhất Các bộ  
phận hợp thành nhà nước là các đơn vị hành chính lãnh thổ không có chủ quyền quốc  
gia và các đặc điểm khác của nhà nước; đồng thời nó có hệ thống các cơ quan nhà  
nước từ trung ương xuống địa phương.  
Ví dụ: Nhà nước Việt Nam, Lào, Trung Quốc...  
+ Nhà nước liên bang: do nhiều nhà nước hợp lại. Trong nhà nước liên bang thì  
không chỉ liên bang có dấu hiệu của nhà nước mà các nhà nước thành viên cũng có.  
Có hai hệ thống cơ quan nhà nước và hai hệ thống pháp luật của chung liên bang và  
từng nhà nước thành viên.  
Ví dụ: Nhà nước liên bang Mỹ, Malaixia, Braxin...  
+ Ngoài ra có một loại hành nhà nước khác nữa là Nhà nước liên minh - chỉ là  
sự liên kết tạm thời của các quốc gia để thực hiện những nhiệm vụ và mục tiêu nhất  
định. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ và đạt được mục đích rồi thì nhà nước liên minh  
tự giải tán, cũng có trường hợp nó phát triển thành nhà nước liên bang.  
Ví dụ: Từ năm 1776 đến 1787 Hợp chủng quốc Hoa Kỳ là nhà nước liên  
minh sau đó phát triển thành nhà nước liên bang.  
c. Chế độ chính trị  
Là toàn bộ các phương pháp, cách thức, phương tiện mà các cơ quan nhà nước sử  
dụng để thực hiện quyền lực nhà nước. Nói cách khác, chế độ chính trị là phương pháp cai  
trị và quản lý xã hội của giai cấp cầm quyền nhằm thực hiện những mục tiêu chính trị nhất  
định. Chế độ chính trị quan hệ chặt chẽ với bản chất, nhiệm vụ, mục tiêu hoạt động của nhà  
nước và các điều kiện khác về kinh tế, chính trị - xã hội, thể hiện mức độ dân chủ trong một  
nhà nước.  
Từ khi nhà nước xuất hiện cho tới nay các giai cấp cầm quyền đã sử dụng nhiều  
phương pháp cai trị khác nhau nhưng nhìn chung có hai phương pháp chính là phương pháp  
dân chủ và phương pháp phản dân chủ. Tương ứng với 2 phương pháp ấy là 2 chế độ nhà  
nước:  
8
Chương 1: Lý luận chung về nhà nước  
- Chế độ dân chủ: tôn trọng các quyền cơ bản của công dân được đảm bảo trong thực  
tế bằng việc được pháp luật bảo vệ. Công dân được tham gia vào việc xây dựng nhà nước,  
tham gia quản lý và giải quyết những công việc hệ trọng của nhà nước.  
Ví dụ: chế độ dân chủ chủ nô, chế độ dân chủ qúy tộc phong kiến, chế độ dân chủ  
tư sản.  
- Chế độ phản dân chủ: chà đạp lên quyền tự do dân chủ của công dân.  
Ví dụ: chế độ độc tài chuyên chế chủ nô, chế độ độc tài chuyên chế phong kiến, chế  
độ độc tài phát xít tư sản.  
1.2. NHÀ NƯỚC CỘNG HÒA XHCN VIỆT NAM  
1.2.1. Bản chất của nhà nước CHXHCN Việt Nam  
Bản chất bao trùm nhất, chi phối mọi lĩnh vực của đời sống nhà nước Việt Nam hiện  
nay từ tổ chức đến hoạt động thực tiễn là tính nhân dân của nhà nước. Điều 2 Hiến pháp  
Việt Nam năm 1992 quy định: “Nhà nước công hòa XHCN Việt Nam là nhà nước pháp  
quyền XHCN của dân, do dân và vì dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà  
nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và với giới trí thức”. Bản  
chất này được cụ thể bằng những đặc trưng sau:  
a. Nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước, thực hiện quyền lực nhà nước  
dưới nhiều hình thức khác nhau. Hình thức cơ bản nhất là thông qua bầu cử lập ra các cơ  
quan đại diện quyền lực của mình đó là Quốc hội và Hội đồng nhân dân. Ngoài ra còn thực  
hiện quyền thông qua các hình thức kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước  
hoặc trực tiếp trình bày các yêu cầu, kiến nghị của mình đối với các cơ quan nhà nước...  
b. Nhà nước cộng hòa XHCN Việt Nam là nhà nước của tất cả các dân tộc trên lãnh  
thổ Việt Nam, là biểu hiện tập trung của khối đại đoàn kết các dân tộc anh em.  
Tính dân tộc của nhà nước Việt Nam là vấn đề có tính lịch sử, truyền thống lâu dài  
chính là nguồn gốc sức mạnh của nhà nước. Ngày nay đặc tính dân tộc ấy lại được tăng  
cường và nâng cao nhờ khả năng kết hợp thống nhất giữa tính giai cấp, tính nhân dân, tính  
dân tộc và tính thời đại.  
c. Nhà nước cộng hòa XHCN Việt Nam được tổ chức và hoạt động trên cơ sở nguyên  
tắc bình đẳng trong các mối quan hệ giữa nhà nước và công dân. Công dân có đầy đủ các  
quyền tự do, dân chủ trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Đồng thời công dân cũng  
phải tự giác thực hiện mọi nghĩa vụ trước nhà nước, về phần mình nhà nước cũng tôn trọng  
các quyền tự do dân chủ của công dân ghi nhận đảm bảo cho các quyền đó được thực hiện  
đầy đủ. Mối quan hệ giữa nhà nước và công dân được xác lập trên cơ sở tôn trọng lợi ích  
giữa các bên.  
d. Tính chất dân chủ rộng rãi trong lĩnh vực kinh tế - xã hội: chế độ kinh tế được Hiến  
pháp Việt Nam năm 1992 quy định là một sự khẳng định pháp lý không chỉ đối với công  
cuộc cải cách kinh tế hiện nay mà còn là sự biểu hiện cụ thể tính chất dân chủ của nhà nước  
ta trong lĩnh vực kinh tế: “ Nhà nước phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo  
cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN ”. Thật ra nền kinh tế  
thị trường không phải là mục đích tự thân của CNXH nhưng đó là phương tiện rất cần thiết  
9
Chương 1: Lý luận chung về nhà nước  
để nhà nước và xã hội đạt được mục tiêu “dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân  
chủ, văn minh ”.  
Về chính trị, nhà nước tạo ra cơ sở pháp lý vững chắc bảo đảm các quyền tự do dân  
chủ của công dân được tôn trọng. Về văn hóa - xã hội, nhà nước thực hiện chủ trương tự do  
tư tưởng, giải phóng mọi khả năng sáng tạo của con người, quy định các quyền tự do báo  
chí, hội họp, tín ngưỡng, quyền bất khả xâm phạm về thân thể, nhà ở,… Nhà nước quan tâm  
giải quyết nhiều vấn đề xã hội như việc làm, thất nghiệp, người già cô đơn, trẻ em mồ côi,  
đấu tranh chống các tệ nạn xã hội, quan tâm phát triển giáo dục, khoa học công nghệ, bảo  
vệ sức khỏe nhân dân… Nhà nước kiên quyết trừng trị các hành vi phá hoại, lật đổ, xâm hại  
đến an ninh quốc gia đồng thời bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, đấu  
tranh chống các vi phạm pháp luật.  
e. Nhà nước thực hiện chính sách đối ngoại hòa bình, hữu nghị, mở rộng giao lưu và  
hợp tác với tất cả các nước trên thế giới không phân biệt chế độ chính trị và xã hội khác  
nhau trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp  
vào công việc nội bộ, các bên bình đẳng và cùng có lợi, đồng thời tích cực ủng hộ cuộc đấu  
tranh của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.  
1.2.2. Chức năng của Nhà nước CHXHCN Việt Nam  
1.2.2.1. Các chức năng đối nội  
Trong điều kiện nền kinh tế tập trung tập trung bao cấp, nhà nước đã tự biến mình  
thành một tổ chức siêu kinh tế, trực tiếp quản lý mọi mặt của đời sống kinh tế từ sản xuất  
đến phân phối lưu thông. Với một nền kinh tế tập trung ấy, nhà nước vùă đóng vai trò của  
người quản lý, người sản xuất, người tiêu thụ sản phẩm và người phân phối sản phẩm.  
Ngày nay trong điều kiện của nền kinh tế mới - nền kinh tế thị trường với sự tham gia  
của nhiều thành phần kinh tế, vai trò và chức năng kinh tế của nhà nước đã căn bản thay  
đổi. Nền kinh tế thị trường và nhiều thành phần không những không làm yếu đi vai trò kinh  
tế của nhà nước mà ngược lại nó đang và đã đặt ra trước nhà nước những nhiệm vụ và trách  
nhiệm hết sức nặng nề đối với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân. Trước nhu cầu của cơ  
chế kinh tế mới, chức năng kinh tế của nhà nước ta nhằm vào việc giải quyết các nhiệm vụ  
quan trọng sau đây:  
- Tạo lập, đảm bảo sự ổn định và bầu không khí xã hội lành mạnh để giải phóng tất cả  
các tiềm năng phát triển kinh tế của đất nước, khắc phục các hậu quả do cuộc khủng hoảng  
của cơ chế kinh tế cũ và kiên quyết chuyển toàn bộ nền kinh tế quốc dân sang cơ chế thị  
trường có sự điều tiết của nhà nước.  
- Xây dựng và đảm bảo các điều kiện chính trị, xã hội, pháp luật, tổ chức cần thiết  
cho sự bình đẳng và khả năng phát triển có hiệu quả của tất cả các thành phần kinh tế trong  
nền kinh tế quốc dân.  
- Củng cố phát triển các hình thức sở hữu với phương châm bảo đảm vai trò chủ đạo  
của sở hữu quốc doanh và tập thể, trên cơ sở đó tạo điều kiện phát triển lực lượng sản xuất,  
áp dụng các tiến bộ của khoa học và công nghệ vào sản xuất.  
10  
Chương 1: Lý luận chung về nhà nước  
- Tạo lập các tiền đề cần thiết và đảm bảo các điều kiện thuận lợi để các đơn vị kinh  
tế thuộc mọi thành phần kinh tế vươn tới các thị trường ngoài nước và tham gia tích cực có  
hiệu quả vào sự hợp tác kinh tế quốc tế.  
Để thực hiện được các nhiệm vụ quan trọng đối với các nhu cầu phát triển của nền  
kinh tế, nhà nước ta đã và đang tường bước đổi mới hoạt động của mình trên lĩnh vực lãnh  
đạo và điều tiết nền kinh tế ở tầm vĩ mô. Sự điều tiết vĩ mô của nhà nước đảm bảo cho các  
dơn vị kinh tế một khả năng độc lập tự giải quyết các vấn đề thuộc lĩnh vực sản xuất kinh  
doanh, tự chịu trách nhiệm về lỗ, lãi trước cơ chế thị trường và theo luật pháp. Mặt khác nó  
đảm bảo cho nhà nước khả năng kiểm tra, giám sát đối với toàn bộ quá trình phát triển của  
kinh tế, chủ động đưa ra kịp thời các giải pháp cụ thể và cần thiết trong các biến động của  
đời sống kinh tế.  
* Chức năng xã hội:  
Khi nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị trường với nhiều thành phần kinh tế, vai trò  
chức năng xã hội của nhà nước càng trở nên quan trọng.Bởi lẽ, kinh tế thị trường đặt ra  
nhiều vấn đề như văn hoá, giáo dục, bảo vệ sức khoẻ, công ăn việc làm, người già cô đơn...  
Những vấn đề này cần được giải quyết trong mối quan hệ mật thiết giữa nhu cầu tăng  
trưởng của nền kinh tế và các nhu cầu nhân đạo của xã hội. Trách nhiệm giải quyết những  
vấn đề này chiếm vai trò chủ đạo vẫn là nhà nước. Chức năng xã hội của nhà nước Việt  
Nam nhìn chung có những điểm chính như sau:  
- Nhà nước xem giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu. Nhà nước phát triển giáo  
dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài.  
- Nhà nước xác định khoa học và công nghệ giữ vai trò then chốt trong sự nghiệp phát  
triển kinh tế xã hội của đất nước. Nhà nước xây dựng và thực hiện một chính sách khoa học  
và công nghệ quốc gia.  
- Nhà nước đầu tư phát triển và thống nhất quản lý sự nghiệp bảo vệ sức khoẻ của  
nhân dân.  
- Nhà nước tạo mọi điều kiện để mỗi công dân có năng lực lao động được thực hiện  
quyền làm việc; thông qua các chính sách kinh tế, tài chính và pháp luật lao động nhà nước  
khuyến khích các cơ sở kinh tế mở rộng sản xuất để có thể thu hút ngày càng nhiều người  
lao động vào làm việc; nhà nước tích cực quan tâm giải quyết vấn đề thât nghiệp, nở rộng  
dịch vụ giới thiệu việc làm.  
- Nhà nước xây dựng và thực hiện chính sách thu nhập hợp lý.  
- Có chính sách chăm lo giúp đỡ người về hưu, những đối tượng chính sách để giúp  
họ giảm bớt những khó khăn về vật chất và tinh thần.  
- Chủ động giải quyết các vấn đề xã hội nảy sinh...  
* Chức năng đảm bảo sự ổn định an ninh - chính trị, bảo vệ các quyền tự do dân chủ  
của công dân, bảo vệ trật tự an toàn xã hội.  
Sự phát triển của đất nước trong các điều kiện hiện nay đòi hỏi nhà nước phải ưu tiên  
áp dụng các biện pháp mạnh mẽ bảo đảm sự ổn định về an ninh chính trị, kiên quyết chống  
lại mọi ý đồ, hành vi nhằm gây mất ổn định an ninh chính trị cản trở sự nghiệp đổi mới của  
11  
Chương 1: Lý luận chung về nhà nước  
đất nước. Thực hiện nhiệm vụ này, nhà nước sử dụng toàn bộ sức mạnh bạo lực của mình  
để phòng ngừa, ngăn chặn mọi âm mưu gây rối, xâm hại đến nền an ninh quốc gia, đến sự  
ổn định chính trị trong nước, đồng thời kiên quyết trấn áp mọi hành động của các thế lực  
thù địch, âm mưu chống phá sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Hoạt động trấn áp của  
nhà nước được thực hiện trong những phạm vi, dưới những hình thức và bằng các biện pháp  
được luật định một cách chặt chẽ. Hoạt động này do vậy không những nhằm hạn chế dân  
chủ, mà ngược lại là những biện pháp quan trọng để củng cố, bảo vệ và tăng cường các cơ  
sở dân chủ của đời sống xã hội.  
1.2.2.2. Chức năng đối ngoại  
- Bảo vệ vững chắc tổ quốc XHCN, ngăn ngừa mọi nguy cơ xâm lăng từ các quốc gia  
bên ngoài.  
Để thực hiện được nhiệm vụ này, nhà nước ta chăm lo xây dựng và củng cố khả năng  
quốc phòng của đất nước. Tiềm năng quốc phòng của đất nước là yếu tố đảm bảo cho quốc  
gia khả năng phòng thủ hiệu quả và chống trả kịp thời mọi âm mưu xâm lược từ các lực  
lượng thù địch bên ngoài. Do vậy nhà nước phát huy tinh thần yêu nước và chủ nghĩa anh  
hùng cách mạng của nhân dân, giáo dục quốc phòng và an ninh cho toàn dân, thực hiện chế  
độ nghĩa vụ quân sự, chính sách hậu phương quân đội; xây dựng công nghiệp quốc phòng.  
Bảo đảm trang bị cho lực lượng vũ trang, kết hợp kinh tế với quốc phòng, bảo đảm đời sống  
vật chất và tinh thần cho cán bộ chiến sỹ, công nhân viên quốc phòng, xây dựng các lực  
lượng vũ trang nhân dân hùng mạnh, không ngừng tăng cường khả năng bảo vệ đất nước.  
- Thiết lập, củng cố và phát triển các mối quan hệ và sự hợp tác với tất cả các nước có  
chế độ chính trị - xã hôi khác nhau trên nguyên tắc cùng tồn tại hoà bình, tôn trọng độc lập,  
chủ quyền của nhau, bình đẳng và cùng có lợi.  
Trong bối cảnh quốc tế có nhiều biến đổi nhanh chóng và phức tạp, với sự phát triển  
mạnh mẽ của lực lượng sản xuất và xu hướng quốc tế hoá nền kinh tế thế giới, hoạt động  
đối ngoại của nhà nước ngày càng trở nên đa dạng về hình thức, phong phú về nội dung.  
Hiện nay, nhà nước ta thực hiện chính sách mở cửa, quan hệ với tất cả các nước, mở rộng  
quan hệ kinh tế, chính trị, văn hoá theo các nguyên tắc của pháp luật quốc tế.  
- Thiết lập và tăng cường các nỗ lực chung trong cuộc đấu tranh vì một trật tự thế giới  
mới, vì sự hợp tác bình đẳng và dân chủ, vì hoà bình và tiến bộ xã hội trên toàn thế giới.  
Ngày nay nhà nước ta là thành viên chính thức của nhiều tổ chức quốc tế như Liên  
hiệp quốc, phong trào không liên kết và rất nhiều tổ chức quốc tế khác. Trên diễn đàn quốc  
tế hoặc khu vực nhà nước ta luôn tỏ rõ thiện chí và nỗ lực hịưp tác để góp phần giải quyết  
hoà bình nhiều vấn đề quốc tế. Vì vậy, ảnh hưởng và uy tín của nhà nước ta trên trường  
quốc tế ngày càng được củng cố và tăng cường.  
1.2.3. Bộ máy nhà nước CHXHN Việt Nam  
1.2.3.1. Địa vị pháp lý của các cơ quan Nhà nước  
a. Quốc hội  
12  
Chương 1: Lý luận chung về nhà nước  
- Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước  
cao nhất của nước CHXHCN VN.  
- Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến pháp và lập pháp.  
- Quốc hội quyết định những chính sách cơ bản về đối nội và đối ngoại, nhiệm vụ  
kinh tế-xã hội, quốc phòng an ninh của đất nước, những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và  
hoạt động của bộ máy nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân.  
- Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của nhà nước.  
- Nhiệm kỳ hoạt động của quốc hội là 5 năm, họp thường kỳ mỗi năm 2 lần có thể  
họp bất thường.  
- Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất do nhân dân trực tiếp bầu ra, thay  
mặt cho toàn thể nhân dân Việt Nam quyết định những vấn đề quan trọng nhất của đất  
nước. Các đại biểu Quốc hội được bầu ra từ các đơn vị bầu cử.  
Giữa hai kỳ họp, nhiệm vụ và quyền hạn của Quốc hội do Ủy ban thường vụ Quốc  
hội đảm nhiệm.  
- Tổ chức:  
+ UBTVQH: là cơ quan thường trực của Quốc hội, chủ tịch quốc hội đồng thời là  
Chủ tịch UBTVQH. UBTVQH có nhiệm vụ ban hành pháp lệnh và tổ chức các hoạt động  
có tính chất chuẩn bị cho Quốc hội hoạt động thay mặt Quốc hội quyết định các vấn đề  
thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội khi cần thiết.  
+ Các Ủy ban có nhiệm vụ thẩm tra trước các dự án và kiểm tra việc thực hiện các  
quyết định của Quốc hội. Có hai loại Ủy ban:  
* UB thường xuyên: gồm 7 ủy ban:  
- Ủy ban pháp luật.  
- Ủy ban kế hoạch và ngân sách.  
- Ủy ban quốc phòng và an ninh.  
- Ủy ban văn hóa - giáo dục.  
- Ủy ban các vấn đề xã hội.  
- Ủy ban khoa học, công nghệ và môi trường.  
- Ủy ban đối ngoại.  
* UB không thường xuyên: UB dự thảo, sửa đổi Hiến pháp, luật …  
+ Hội đồng dân tộc: có chức năng tham mưu, cố vấn cho Quốc hội về các vấn đề dân  
tộc.  
b. Chủ tịch nước  
Chủ tịch nước là người đứng đầu nhà nước, thay mặt nước CHXHCNVN về đối nội  
và đối ngoại.  
Chủ tịch nước do Quốc hội bầu trong số đại biểu Quốc hội. Chủ tịch nước chịu trách  
nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội. Nhiệm kỳ của Chủ tịch nước theo nhiệm kỳ của  
Quốc hội.  
13  
Chương 1: Lý luận chung về nhà nước  
Với tư cách là nguyên thủ quốc gia, đứng đầu bộ máy nhà nước Chủ tịch nước có  
quyền:  
- Tiếp nhận đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước ngoài.  
- Ký kết các điều ước quốc tế.  
- Đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Phó chủ tịch nước, Thủ tướng Chính  
phủ, Chánh án TANDTC, Viện trưởng VKSNDTC.  
- Thống lĩnh các lực lượng vũ trang …  
Để thực hiện nhiệm vụ của mình, Chủ tịch nước được quyền ban hành lệnh, quyết  
định.  
c. Chính phủ  
- Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính nhà nước cao  
nhất của nước CHXHCN Việt Nam.  
- Chính phủ thống nhất quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa  
xã hội, quốc phòng an ninh và đối ngoại của nhà nước.  
- Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác với Quốc hội,  
UBTVQH và Chủ tịch nước.  
- Chính phủ gồm có: Thủ tướng, các Phó Thủ tướng, các bộ trưởng. Ngoài Thủ tướng,  
các thành viên khác của Chính phủ không nhất thiết phải là đại biểu Quốc hội.  
- Nhiệm kỳ của Chính phủ theo nhiệm kỳ của Quốc hội.  
Với tư cách là cơ quan chấp hành của Quốc hội, Chính phủ tổ chức thực hiện các văn  
bản luật và nghị quyết của Quốc hội. Với tư cách là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất  
Chính phủ được quyền điều hành toàn bộ bộ máy hành chính nhà nước từ trung ương đến  
cơ sở.  
- Thủ tướng là người lãnh đạo Chính phủ, đứng đầu bộ máy hành pháp.  
Trong thành phần của Chính phủ ngoài Thủ tướng, các Phó thủ tướng còn có các bộ  
trưởng phụ trách các bộ và cơ quan ngang bộ.  
+ Bộ, các cơ quan ngang bộ là cơ quan của Chính phủ thực hiện chức năng quản lý  
nhà nước đối với ngành hoặc lĩnh vực công tác trong phạm vi cả nước.  
+ Đứng đầu các bộ là Bộ trưởng, đứng đầu các cơ quan ngang bộ là Chủ nhiệm ủy  
ban. Bộ trưởng, Chủ nhiệm ủy ban đều là thành viên của Chính phủ, đều là người chịu trách  
nhiệm quản lý nhà nước về lĩnh vực, ngành phụ trách trong phạm vi cả nước.  
+ Các cơ quan khác trực thuộc Chính phủ, đứng đầu các cơ quan này là các Trưởng  
ban, Tổng cục trưởng, Cục trưởng nhưng không phải là thành viên của Chính phủ như Tổng  
cục du lịch, hải quan, địa chính…  
d. Tòa án và Viện kiểm sát nhân dân  
Trong cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước Việt Nam, ngoài các cơ quan lập pháp và  
hành pháp, còn có hệ thống các cơ quan bảo vệ pháp chế XHCN hay còn gọi là hệ thống tư  
pháp Việt Nam. Hệ thống này được hình thành từ hai cơ quan: Tòa án và Viện kiểm sát.  
14  
Chương 1: Lý luận chung về nhà nước  
- Tòa án nhân dân tối cao, các Tòa án nhân dân địa phương, các Tòa án quân sự và  
các Tòa án khác do luật định là những cơ quan xét xử của nước CHXHCN VN. Hoạt động  
xét xử là hoạt động nhân danh nhà nước Việt Nam, căn cứ vào pháp luật Tòa án đưa ra các  
phán quyết về các vụ việc tranh chấp hoặc hình phạt đối với các hành vi có lỗi và trái pháp  
luật trong mỗi vụ án. Tòa án nhân dân tối cao là cơ quan xét xử cao nhất của nước Việt  
Nam.  
Việc xét xử ở Tòa án do thẩm phán và hội thẩm nhân dân thực hiện, khi xét xử thẩm  
phán và hội thẩm nhân dân ngang quyền nhau, độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Trước  
Tòa mọi công dân đều bình đẳng, Tòa án xét xử công khai trừ những trường hợp đặc biệt.  
- Viện kiểm sát có chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư  
pháp, thực hành quyền công tố bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và  
thống nhất.  
Bao gồm: Viện KSNDTC, Viện KSND địa phương, Viện KS quân sự.  
e. Hội đồng nhân dân  
- Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí,  
nguyện vọng của nhân dân địa phương, do nhân dân địa phương trực tiếp bầu ra chịu trách  
nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan cấp trên.  
- Hội đồng nhân dân có nhiệm kỳ 5 năm, được thành lập ở các đơn vị hành chính  
tỉnh-thành phố trực thuộc TW, quận - huyện - thị xã - thành phố thuộc tỉnh, xã - phường -  
thị trấn.  
- Hình thức hoạt động chủ yếu thông qua các kỳ họp. HĐND gồm có các đại biểu do  
nhân dân địa phương bầu ra theo các đơn vị bầu cử.  
- Có cơ quan thường trực được tổ chức từ cấp huyện trở lên.  
g. Ủy ban nhân dân  
- Là cơ quan chấp hành và hành chính nhà nước ở địa phương, do HĐND cùng cấp  
bầu ra, chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp  
trên và cácnghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp.  
- Các ban, ngành trực thuộc UBND thành lập ra có nhiệm vụ quản lý một hoặc một số  
ngành, lĩnh vực trong phạm vi lãnh thổ địa phương.  
1.2.3.2. Hệ thống chính trị của nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam  
a. Khái niệm, đặc điểm của hệ thống chính trị nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa  
Việt Nam  
Trong các quan hệ xã hội tồn tại ở nước ta, quan hệ chính trị giữ vị trí rất quan trọng.  
Quan hệ chính trị là quan hệ giữa các giai cấp, các tầng lớp nhân dân trong xã hội, phản ánh  
nhu cầu của các giai cấp, các tầng lớp đó. Quan hệ chính trị do các chủ thể nhất định thực  
hiện. Đó là các chủ thể mang quyền lực, các tổ chức chính trị, các tổ chức xã hội.v.v... Tất  
cả các tổ chức do các giai cấp, các tầng lớp nhân dân thành lập nên nhằm thực hiện những  
mục tiêu chính trị hợp thành hệ thống chính trị xã hội.  
15  
Chương 1: Lý luận chung về nhà nước  
Hệ thống chính trị của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là tổng thể các thiết  
chế chính trị tồn tại và hoạt động trong mối liên hệ hữu cơ với nhau nhằm tạo ra một cơ chế  
thực hiện quyền lực của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.  
Hệ thống chính trị của nước ta bao gồm Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng  
hào xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã  
hội như: Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh,  
Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam.  
Hệ thống chính trị của nước ta có những đặc điểm cơ bản sau đây:  
- Là một hệ thống tổ chức chặt, khoa học trên cơ sở phân định rõ ràng chức năng,  
nhiệm vụ của từng tổ chức. Tính tổ chức cao của hệ thống chính trị nước ta được bảo đảm  
bởi các nguyên tắc chỉ đạo thống nhất như tất cả quyền lực thuộc về nhân dân, sự lãnh đạo  
của Đảng Cộng sản, tập trung dân chủ, pháp chế xã hội chủ nghĩa.  
- Có sự thống nhất cao về lợi ích lâu dài cũng như mục tiêu hoạt động. Sự thống nhất  
đó được quy định bởi sự thống nhất về kinh tế, chính trị, tư tưởng trong xã hội ta dưới sự  
lãnh đạo của một chính đảng duy nhất. Các thiết chế của hệ chính trị của nước ta tuy có mục  
tiêu hoạt động cụ thể riêng, có vị trí, chức năng khác nhau nhưng đều nhằm phục vụ cho lợi  
ích của nhân dân lao động.  
b. Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong hệ thống chính trị  
Nhà nước là thiết chế trung tâm trong hệ thống chính trị, là biểu hiện tập trung quyền  
lực của nhân dân và là công cụ hữu hiệu nhất để nhân dân và là công cụ hữu hiệu nhất để  
nhân dân thực hiện quyền lực chính trị của mình. Vai trò, vị trí đó của Nhà nước là do Nhà  
nước có những điều kiện sau đây:  
- Nhà nước là người đại diện chính thức của mọi giai cấp, mọi tầng lớp trong xã hội.  
Điều đó cho phép Nhà nước thực hiện triệt để các quyết định, chính sách của mình đối với  
xã hội.  
- Nhà nước là chủ thể của quyền lực chính trị. Nhà nước có một bộ máy chuyên làm  
chức năng quản lý, có hệ thống lực hượng vũ trang và bộ máy cưỡng chế để duy trì trật tự  
xã hội mà không một tổ chức nào có được. Nhà nước sử dụng pháp luật trong việc thực hiện  
các chủ trương, chính sách, bảo đảm cho các chủ trương, chính sách đó được triển khai rộng  
rãi và thống nhất trên quy mô toàn xã hội.  
- Nhà nước có chủ quyền quốc gia. Đó là quyền tối cao của Nhà nước trong lĩnh vực  
đối nội và đối ngoại của đất nước. Điều này giúp cho Nhà nước kết hợp các quan hệ trong  
nứpc và quan hệ quỗc tế một cách thống nhất.  
- Nhà nước là chủ sở hữu lớn nhất đối với các tư liệu sản xuất chủ yếu và quan trọng  
cảu đất nước. Với tư cách đó, Nhà nước có sức mạnh vật chất để điều tiết vĩ mô nên kinh tế,  
tạo điều kiện xã hội hoạt động.  
c. Đảng Cộng sản Việt Nam trong hệ thống chính trị  
Hệ thống chính trị của mỗi nước đều có các đảng chính trị và các tổ chức xã hội hoạt  
động nhưng thường có một chính đảng cầm quyền, giữ vai trò lãnh đạo. Hệ thống chính trị  
nước ta chỉ tồn tại một chính đảng, đó là Đảng Cộng sản Việt Nam - lực lượng lãnh đạo duy  
16  
Chương 1: Lý luận chung về nhà nước  
nhất đối với nhà nước và xã hội. Đây là điều khác biệt với hệ thống chính trị của nhiều nước  
trên thế giới, nơi tồn tại chế độ đa đảng. Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân  
tố quyết định đối với sự phát triển của hệ thống chính trị, là hạt nhân bảo đảm sự thống nhất  
của hệ thống đó. Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là một tất yếu lịch sử do:  
- Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng chính trị tiên tiến nhất được vũ trang bằng lý  
luận khoa học của Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Với những trí thức khoa  
học đó, Đảng đề ra những đường lối, chính sách phát triển xã hội phù hợp với quy luật và  
có đầy đủ khả năng để tổ chức thực hiện thành công đường lối, chính sách đó.  
- Bằng thực tiễn đấu tranh kiên cường trong gần ba phần tư thế kỷ qua, với những hy  
sinh và những cống hiến lớn lao cho dân tộc, Đảng ta đã củng cố được lòng tin của tuyệt đại  
đa số nhân dân. Do đó, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị có cơ sở vững  
chắc về tình cảm và tinh thần mà các tổ chức khác không thể nào có được.  
Là một chính đảng kiên trì đấu tranh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, chống chủ  
nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân cũ và mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã có uy tín quốc tế  
lớn và được sự đoàn kết, giúp đỡ của các quốc gia và dân tộc trên thế giới. Điều đó có tác  
dụng quan trọng trong việc khẳng định vai trò của Đảng đối với hệ thống chính trị nước ta.  
Đảng Cộng sản Việt Nam là người lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối hệ thống chính  
trị. Sự lãnh đạo của Đảng thể hiện ở các hình thức chủ yếu sau đây:  
+ Định ra chiến lược, mục tiêu cơ bản, đường lối chính sách phát triển xã hội, làm  
cơ sở định hướng cho các hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị;  
+ Bồi dưỡng cán bộ có phẩm chất, đạo đức và năng lực để giới thiệu vào các cương  
vị quan trọng của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội.  
+ Đảng tiến hành kiểm tra hoạt động của các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện  
đường lối, chính sách của Đảng. Thông qua công tác kiểm tra mà phát hiện những thiếu sót,  
khuyết điểm trong quản lý nhà nước để đề ra các biện pháp khắc phục.  
+ Cán bộ, đảng viên và các tổ chức Đảng gương mẫu trong việc thực hiện đường lối,  
chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Đây là hình thức hữu hiệu để bảo đảm cho  
cán bộ, công chức nhà nước thực hiện tốt chức trách của mình trong quản lý nhà nước.  
Đảng thực hiện sự lãnh đạo đối với Nhà nước bằng phương pháp giáo dục, thuyết  
phục. Thông qua phương pháp đó, Đảng tạo cho cán bộ, công chức nhận thức đúng đắn và  
thực hiện đầy đủ đường lối chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước.  
d. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội trong hệ thống  
chính trị  
Trong hệ thống chính trị nước ta, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các Tổ chức chính  
trị - xã hội có vị trí rất quan trọng.  
Là tổ chức liên minh chính trị tự nguyện của các tổ chức và cá nhân tiêu biểu trong xã  
hội, “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là bộ phận của hệ thống chính trị của nước Cộng hoà xã  
hội chủ nghĩa Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, là cơ sở chính trị của chính  
quyền nhân dân, nơi thể hiện ý chí, nguyện vọng, tập hợp khối đại đoàn kết toàn dân, phát  
huy quyền làm chủ của nhân dân, nơi hiệp thương, phối hợp và thống nhất hành động của  
17  
Chương 1: Lý luận chung về nhà nước  
các thành viên, góp phần giữ vững độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ,  
thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước vì mục tiêu dân giàu,  
nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” (Điều 1 Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam  
do Quốc hội thông qua ngày 12/6/1999).  
Các tổ chức chính trị - xã hội khác như: Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Đoàn  
Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Nông dân Việt  
Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam là những tổ chức tập hợp rộng rãi những thành viên  
trên cơ sở sự đồng nhất về những phương diện nhất định (giới tính, lứa tuổi, nghề nghiệp  
v.v...) có vai trò quan trọng trong việc tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia kiểm  
tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nứơc, tổ chức kinh tế, giáo dục các thành viên của  
tổ chức mình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.  
Trong mối quan hệ gữa các tổ chức chính trị - xã hội với Nhà nước thì các tổ chức  
chính trị - xã hội là chỗ dựa của Nhà nước, là “cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân”  
(Điều 9 Hiến pháp năm 1992). Nhà nước phải tạo cơ sở pháp lý, điều kiện tài chính v.v...  
cho các tổ chức chính trị - xã hội hoạt động, định ra những hình thức và phương pháp để  
các tổ chức chính trị - xã hội tham gia quản lý nhà nước. Về phía mình, các tổ chức chính trị  
- xã hội phải giáo dục thành viên của tổ chức mình nghiêm chỉnh chấp hành đường lối,  
chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, tham gia vào các lĩnh vực xây dựng và  
hoạt động của bộ máy nhà nước, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, của cán bộ và  
công chức nhà nước.  
1.2.4. Vấn đề nhà nước pháp quyền ở Việt Nam  
Tư tưởng về nhà nước pháp quyền dã xuất hiện từ lâu, được bổ sung và hoàn thiện  
qua quá trình phát triển lâu dài của lịch sử tư tưởng về nhà nước và pháp luật. Ngày nay,  
dựa trên các kết quả nghiên cứu đã dược công bố có thể nêu ra những đặc điểm cơ bản của  
nhà nước pháp quyền như sau:  
- Nhà nước pháp quyền phải là nhà nước có một hệ thống pháp luật, đồng bộ, thống  
nhất, hoàn chỉnh, phản ánh đúng yêu cầu khách quan của quản lý nhà nước và quản lý xã  
hội. Các đạo luật phải có vai trò tối thượng trong hệ thống pháp luật Nhà nước và các thiết  
chế của nó phải dược xác định rõ ràng về mặt pháp luật, tất cả các cơ quan nhà nước, các tổ  
chức xã hội, viên chức và công dân phải tuân thủ nghiêm chỉnh và triệt để pháp luật.  
- Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, công dân có trách nhiệm đối với nhà  
nước và nhà nước cũng có trách nhiệm đối với công dân. Quan hệ giữa công dân và nhà  
nước là quan hệ bình đẳng về quyền và nghĩa vụ.  
- Là một tổ chức thực hiện công quyền dựa trên nền tảng pháp luật vững chắc, các  
quyền tự do, dân chủ, các lợi ích chính đáng của con người phải được pháp luật bảo đảm và  
bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm đến các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân do bất kỳ  
cơ quan nhà nước, người có chức quyền hay công dân nào thực hiện đều phải bị phát hiện  
và nghiêm trị.  
- Quyền lực nhà nước về lập pháp, hành pháp, tư pháp được phân định rõ ràng, hợp lý  
cho ba hệ thống các cơ quan nhà nước tương ứng trong một cơ chế kiểm tra, giám sát và  
18  
Chương 1: Lý luận chung về nhà nước  
chế ước nhau tạo thành cơ chế đồng bộ bảo đảm sự thống nhất của quyền lực nhà nước,  
nhân dân thực sự là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước.  
Như vậy Nhà nước pháp quyền phải là nhà nước của dân, do dân và vì dân, tất cả  
quyền lực nhà nước thực sự thuộc về nhân dân, pháp luật có tính pháp lý và công bằng, thể  
hiện đầy đủ các giá trị cao cả của xã hội và của con người, pháp luật phải giữ vai trò chủ  
đạo trong mọi hoạt dộng, trong xử sự của các chủ thể và toàn xã hội.  
Trong điều kiện đổi mới hiện nay, Đảng ta đặt vấn đề đẩy mạnh cải cách tổ chức và  
hoạt động của nhà nước theo định hướng xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN thực chất  
là tiếp thu những tư tưởng, quan điểm tích cực, tiến bộ về nhà nước pháp quyền với tính  
cách là giá trị chung của nhân loại nhằm xây dựng nhà nước Cộng Hoà XHCN Việt Nam  
thực sự là nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân dựa trên nền tảng liên minh  
giai cấp công nhân với giai cấp nông dân, tầng lớp trí thức và khối đại đoàn kết toàn dân do  
đảng lãnh đạo.  
TÓM TẮT CHƯƠNG 1  
1. Nhà nước là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị, một bộ máy chuyên làm  
nhiệm vụ cưỡng chế và thực hiện các chức năng quản lý đặc biệt nhằm duy trì trật tự xã hội,  
thực hiện mục đích bảo vệ địa vị của giai cấp thống trị.  
* Các dấu hiệu đặc trưng của Nhà nước:  
- Nhà nước là một tổ chức quyền lực chính trị công cộng đặc biệt, có bộ máy  
chuyên thực hiện cưỡng chế và quản lý những công việc chung của xã hội.  
- Nhà nước thực hiện quản lý dân cư theo lãnh thổ.  
- Nhà nước có chủ quyền quốc gia.  
- Nhà nước ban hành pháp luật và thực hiện quản lý bắt buộc với công dân.  
- Nhà nước quy định các loại thuế và thực hiện thu thuế dưới hình thức bắt  
buộc.  
2. Bằng nhà nước, giai cấp thống trị về kinh tế trở thành giai cấp thống trị về chính  
trị, ý chí của giai cấp thống trị được thể hiện một cách tập trung và biến thành ý chí nhà  
nước, bắt buộc mọi thành viên trong xã hội phải tuân theo, các giai cấp, các tầng lớp dân cư  
phải hành động trong một giới hạn và trật tự phù hợp với lợi ích của giai cấp thống trị.  
Nhà nước ngoài tính cách là công cụ duy trì sự thống trị và bảo vệ lợi ích của giai cấp  
thống trị, còn phải là một tổ chức quyền lực công, là phương thức tổ chức bảo đảm lợi ích  
chung của xã hội. Nhà nước không chỉ phục vụ lợi ích của giai cấp thống trị mà còn đứng ra  
giải quyết những vấn đề nảy sinh từ trong đời sống xã hội, bảo đảm trật tự chung, sự ổn  
định, bảo đảm các giá trị chung của xã hội để xã hội tồn tại và phát triển.  
3. Kiểu nhà nước là tổng thể các dấu hiệu cơ bản của nhà nước, thể hiện bản chất, vai  
trò xã hội, những điều kiện, phát sinh, tồn tại và phát triển của nhà nước trong hình thái  
kinh tế - xã hội nhất định.  
19  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 140 trang myanh 27220 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Bài giảng Pháp luật đại cương - Lê Thị Bích Ngọc", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbai_giang_phap_luat_dai_cuong_le_thi_bich_ngoc.pdf