Ảnh hưởng của nhiệt độ khuôn phun ép đến độ co rút của sản phẩm nhựa dạng tấm

ẢNH HƯỞNG CỦA NHIỆT ĐỘ KHUÔN PHUN ÉP ĐẾN ĐỘ CO RÚT CỦA SẢN PHẨM  
NHỰA DẠNG TẤM  
EFFECT OF MOLD TEMPERATURE TO SHRINKAGE OF FLAT PLASTIC PRODUCT  
Đỗ Thành Trung1, Huỳnh Chí Linh2  
1Trường đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM  
2Trường cao đẳng nghề Cần Thơ  
TÓM TẮT  
Trong công nghệ đúc phun, nhiệt độ khuôn có ảnh hưởng lớn đến độ co rút của sản phẩm  
dẫn đến sự sai lệch về hình dạng và kích thước nhất là với các sản phẩm thành mỏng, sản phẩm  
dạng tấm. Các nghiên cứu liên quan hầu hết đều tập trung nghiên cứu độ co rút của sản phẩm ở  
mức nhiệt độ khuôn khoảng 400C – 1200C, trong khi đó ảnh hưởng của nhiệt độ khuôn ở các  
mức nhiệt thấp hơn nhiệt độ môi trường chưa được đánh giá đầy đủ.  
Bài báo này được thực hiện nhằm đánh giá co rút của mẫu sản phẩm nhựa dạng tấm dày  
1,5mm khi dẫn nước có nhiệt độ thấp hơn nhiệt độ môi trường từ 50C - 250C, và nước có nhiệt độ  
cao hơn nhiệt độ môi trường từ 300C - 900C qua kênh dẫn của khuôn ép để thay đổi nhiệt độ  
khuôn, trong khi các thông số phun ép còn lại được giữ không đổi. Các giá trị nhiệt độ khuôn đạt  
được tương ứng được ghi nhận trước khi tiến hành thí nghiệm phun ép. Số liệu thực nghiệm sẽ  
được phân tích để làm cơ sở kết luận của thí nghiệm. Đồng thời quá trình mô phỏng trên phần  
mềm cũng được thực hiện để so sánh với kết quả thực nghiệm. Kết quả thực nghiệm cho thấy giá  
trị co rút kích thước của sản phẩm tăng theo đường bậc 2 khi thay đổi nhiệt độ nước trong kênh  
dẫn lần lượt từ 50C đến 900C. Điều này cho thấy khi sử dụng kênh dẫn với nhiệt độ nước thấp  
hơn nhiệt độ môi trường có khả năng hạn chế độ co rút của sản phẩm, cụ thể trong phạm vi thí  
nghiệm của bài báo cho thấy giá trị co rút của sản phẩm giảm từ 10% đến 16%.  
Từ khóa: Công nghệ ép phun; khuôn lanh; nhiệt độ khuôn; điều khiển nhiệt độ khuôn; co  
rút và cong vênh.  
ABSTRACT  
In the injection molding technology, the mold temperature is a great influence on the shrinkage  
of the product resulting to deviations in shape and size especially with thin and flat products. The  
most relevant studies focused on the shrinkage of the product at a mold temperature of 400C –  
1200C, while the effect of mold temperature is lower temperatures than the environment  
temperature has not been fully investigated.  
This article is effectuated evaluate the shrinkage of 1.5mm thick plastic fat products when  
water temperature of 50C - 250C and 300C - 900C, it is led through the cooling channel of the  
mold to change the mold temperature while the injection molding parameters are kept constant.  
The corresponding mold temperature data were recorded before to injection. Also, the  
experimental shrinkage results of ABS plastic product are analyzed, evaluated and compared  
with the numerical results. Experimental results show that the warping value of the product  
increases with the quadratic equations when the water temperature in the channel changes from  
500C to 900C, respectively. This suggests that when using a channel with a lower water  
temperature than the environment temperature is possible to limit the shrinkage of the product,  
particularly within the scope of the article's experiments showing the warping value of the  
product down from 10% to 16%.  
Keywords: Injection molding; cool mold; mold temperature; temperature control  
injection mold; shinkage and warpage.  
nhựa bằng phương pháp phun ép, nhiệt độ bề  
mặt lòng khuôn là một trong những thông số  
1. GIỚI THIỆU  
Trong công nghệ gia công sản phẩm  
quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng thấp hơn nhiệt độ môi trường còn hạn chế.  
sản phẩm nhựa [1], trong đó ảnh hưởng lớn Một nghiên cứu sử dụng phương pháp gia  
đến độ co rút và cong vênh của sản phẩm. nhiệt và làm mát bằng xung động nhiệt để xác  
Trong một chu kỳ phun ép thì sự co rút bắt đầu định ảnh hưởng của bốn yếu tố: nhiệt độ nước  
xuất hiện khi kết thúc giai đoạn điền đầy cho đầu vào, nhiệt độ nóng chảy của polymer,  
đến khi nhiệt độ sản phẩm về bằng nhiệt độ nhiệt độ khuôn và thời gian làm mát đến độ  
môi trường. Trong giai đoạn giải nhiệt, nhựa cong vênh của sản phẩm ép phun [2]. Kết quả  
chuyển từ trạng thái lỏng sang rắn sự co rút đạt được cho thấy yếu tố thời gian làm mát là  
diễn ra mạnh mẽ nhưng bị giới hạn bởi không ảnh hưởng nhiều nhất đến độ cong vênh, yếu  
gian lòng khuôn. Sau khi mở khuôn do sự tố ảnh hưởng lớn thứ hai đến độ cong vênh là  
chênh lệch nhiệt độ giữa sản phẩm và nhiệt độ nhiệt độ khuôn và nhiệt độ chảy của polymer.  
môi trường quá trình co rút tiếp tục diễn ra.  
Tương tự Trong nghiên cứu Shia -  
Gọi η là yếu tố ảnh hưởng đến độ co rút, ta có:  
Chung Chen và các cộng sự đã tìm mối tương  
 T (T T )  
,
quan giữa nhiệt độ khuôn, thời gian chu kỳ và  
thời gian trễ của xung làm mát với độ chính  
xác độ sâu và độ trùng lặp của rãnh micro trên  
đĩa Blu – ray [3, 4]. Thí nghiệm thực hiện trên  
4 mức nhiệt độ khuôn 200C, 250C, 350C và  
500C cùng với nhiệt độ nước làm mát được  
giảm xuống còn 320C nhờ phương pháp xung  
động dòng chảy thay vì 400C như phương  
pháp thông thường. Các kết quả cho thấy  
phương pháp này đã giúp giảm đáng kể độ  
cong vênh của đĩa blu – ray và chất lượng các  
rãnh micrô trên bề mặt đĩa cũng được cải thiện  
đáng kể.  
P
R
trong đó:  
P : nhiệt độ sản phẩm (0C)  
T
R : nhiệt độ môi trường (0C)  
T
Giả sử một chu kỳ phun ép có thời gian chu kỳ  
20s; nhiệt độ khuôn 2000C; nhiệt độ nước làm  
mát ở hai mức: 300C và 150C Ảnh hưởng của  
nhiệt độ mở khuôn đến độ co rút của sản phẩm  
có thể được thể hiện qua biểu đồ hình 1:  
Một nghiên cứu của nhóm tác giả Phạm  
Sơn Minh, Đỗ Thành Trung và Lê Võ về ảnh  
hưởng của nhiệt độ nhựa đến độ cong vênh  
của sản phẩm nhựa dạng tấm với chiều dày  
thay đổi từ 1mm đến 2,5mm [5]. Trong nghiên  
cứu này, quá trình phun ép các tấm nhựa  
polypropylene đã được tiến hành mô phỏng và  
thí nghiệm với sự thay đổi nhiệt độ từ nhựa từ  
2000C đến 2800C. Ảnh hưởng của nhiệt độ  
nhựa đến độ cong vênh của sản phẩm dạng  
tấm cũng được xem xét với chiều dày tấm thay  
đổi từ 1,0mm đến 2,5mm. Kết quả nghiên cứu  
cho thấy khi tăng nhiệt độ nhựa từ 2000C lên  
2800C độ cong vênh của sản phẩm nhựa có xu  
hướng giảm. Tuy nhiên việc tăng nhiệt độ  
nhựa bị giới hạn bởi khả năng công nghệ của  
máy ép và đặc tính của vật liệu nhựa được sử  
dụng  
Hình 1. Ảnh hưởng của nhiệt độ khuôn đến độ  
co rút của sản phẩm  
Do đó, theo lý thuyết trên nếu trong cùng thời  
gian chu kỳ phun ép, nếu nhiệt khuôn ở mức  
cao thì nhiệt độ mở khuôn sẽ lớn hơn, khả  
năng ảnh hưởng đến độ co rút của sản phẩm sẽ  
lớn hơn so với mức nhiệt độ khuôn thấp hơn  
dẫn đến cong vênh của sản phẩm sẽ tăng theo.  
Trong nghiên cứu của bài báo này,  
một hệ thống điều khiển nhiệt độ khuôn gồm  
một máy làm lạnh nước và một máy gia nhiệt  
nước sẽ được sử dụng để dẫn dòng nước có  
nhiệt độ từ thấp hơn nhiệt độ môi trường đến  
cao hơn nhiệt độ môi trường qua kênh làm mát  
của khuôn ép nhằm đạt được nhiệt độ khuôn ở  
các mức nhiệt khác nhau. Quá trình thực  
nghiệm sẽ tiến hành phun ép với các mức nhiệt  
Một số nghiên cứu trước đây đã  
chứng minh sự ảnh hưởng của nhiệt độ khuôn  
đến độ co rút và cong vênh của sản phẩm. Tuy  
nhiên các nghên cứu hầu hết đều tập trung vào  
khảo sát tính hiệu quả của phương pháp điều  
khiển nhiệt độ khuôn để để hạn chế các khuyết  
tật của sản phẩm và rút ngắn thời gian chu kỳ  
gia công, các nghiên cứu khảo sát độ co rút  
của sản phẩm khi phun ép với nhiệt độ khuôn  
độ khuôn này trong khi các thông số phun ép  
Trong thí nghiệm của bài báo này sẽ sử  
còn lại được giữ không đổi. Quá trình phân dụng một máy làm lạnh nước (hình 2.2) và  
tích nhằm đánh giá đồng thời chứng minh ảnh một máy gia nhiệt nước (hình 2.3). Hai máy  
hưởng của nhiệt độ khuôn lạnh đến sự co rút này có chức năng điều khiển nhiệt độ nước ở  
của sản phẩm thí nghiệm.  
các mức nhiệt độ mong muốn trước khi được  
dẫn qua kênh làm nguội của lòng khuôn để xác  
lập nhiệt độ khuôn ở các mức nhiệt từ thấp  
hơn đến cao hơn nhiệt độ môi trường trong  
quá trình thí nghiệm.  
2. MÔ TẢ THÍ NGHIỆM VÀ MÔ PHỎNG  
2.1. Mô hình, thiết bị thí nghiệm  
Trong chu kỳ phun ép, nếu nhiệt độ  
khuôn quá cao sản phẩm sẽ mắc phải những  
khuyết tật như cong vênh, co rút vượt quá giới  
hạn cho phép, quá trình lấy sản phẩm ra khỏi  
khuôn sẽ khó khăn vì sản phẩm chưa đạt đủ độ  
cứng cho phép, ngược lại nếu nhiệt độ khuôn  
quá thấp thời gian chu kỳ gia công sẽ kéo dài  
đồng thời dòng nhựa có khả năng không điền  
đầy lòng khuôn [6]. Do đó trong phạm vi bài  
báo này một mô hình sản phẩm dạng tấm có  
kích thước 100x30x1,5mmm (trong đó 2 kích  
thước 90mm và 20mm được chọn để đo giá trị  
co rút kích thước của sản phẩm) như hình 2.1  
được sử dụng nhằm đảm bảo khả năng định  
hình của sản phẩm trong lòng khuôn khi phun  
ép với nhiệt độ khuôn thấp. Khả năng này  
cũng được kiểm tra qua mô phỏng trên phần  
mềm Moldex3D.  
Hình 2.2. Máy làm lạnh nước  
Hình 2.3. Máy gia nhiệt nước  
Bộ khuôn ép được sử dụng là bộ khuôn  
hai tấm có kết cấu tấm khuôn dương như hình  
2.4. Kênh dẫn nước được bố trí song song với  
bề mặt lõi khuôn. Tiết diện kênh dẫn nước và  
khoảng cách giữa kênh dẫn với thành sản  
phẩm thiết kế theo tiêu chuẩn [7].  
Hình 2.1. Mô hình sản phẩm thí nghiệm  
Nhựa ABS được sử dụng trong thí  
nghiệm đây là loại nhựa được ứng dụng nhiều  
trong sản xuất các sản phẩm như linh kiện điện  
tử, viễn thông, điện lạnh, công nghiệp ô  
tô,…Hệ số co rút của nhựa ABS vào khoảng  
0,4% – 0,9% nằm ở mức trung bình so với các  
loại nhựa thông dụng khác như PP, PA,…Ở  
điều kiện nhiệt độ thấp, tính chất vật lý của  
nhựa ABS ít thay đổi mà chỉ ảnh hưởng đến sự  
ổn định kích thước.  
gl3t  
Tiêu chuẩn Grashoff: Gr   
2  
a
Tiêu chuẩn Prandtl: P   
r
: Hệ số dẫn nhiệt; W/m2.0K  
: Tốc độ dòng chảy; m/s  
v
: Độ nhớt động học; m2/s  
t: Độ chênh lệch nhiệt độ t = tf - tw ; 0C  
g: Gia tốc trọng trường g = 9,81m/s2;  
: Hệ số giản nở thể tích; 1/0K.  
: Kích thước xác định; m  
l
Công thức xác định hệ số tỏa nhiệt  
đối lưu cưỡng bức khi chất lỏng chảy tầng  
trong ống (hệ số Re <2300) [9]:  
Pr  
0,25  
f
Nuf 0,15Re0f,33 Prf0,43 Gr0,1  
lR  
Prw  
Công thức xác định hệ số tỏa nhiệt  
đối lưu cưỡng bức khi chất lỏng chảy rối trong  
ống (hệ số Re >2300):  
+ Đối với chất lỏng:  
Hình 2.4. Kết cấu tấm khuôn dương  
Pr  
0,25  
f
Nuf 0,021Re0f,8 Prf0,43  
lR  
thí nghiệm đo nhiệt được thực hiện  
nhằm để xác định được nhiệt độ thực của  
khuôn ép khi dẫn dòng nước với các mức nhiệt  
độ từ lạnh đến nóng có giá trị được xác định  
trước qua kênh làm mát của khuôn. Giá trị  
nhiệt độ khuôn thu được trong thí nghiệm này  
được lấy làm thông số mô phỏng và cài đặt  
nhiệt độ khuôn cho thí nghiệm ép phun. Các  
tính toán về trao đổi nhiệt trên lý thuyết giữa  
dòng nước trong kênh dẫn và tấm khuôn được  
thực hiện dựa trên lý thuyết trao đổi nhiệt đối  
lưu cưỡng bức giữa dòng lưu chất trong kênh  
làm nguội và khuôn ép theo các công thức sau  
[9]:  
Prw  
0,25  
+ Đối với không khí: Nu 0,5 Gr .Pr  
f
  
f
f
(đối lưu tự nhiên)  
Prf ,Prw : Các hệ số tra bảng theo nhiệt độ  
l ;  
R : Hệ số hiệu chỉnh và hệ số hiệu chỉnh  
tính đến độ cong của ống.  
Tiến hành dẫn dòng nước mang nhiệt  
qua kênh dẫn của khuôn, thực hiện đo nhiệt độ  
khuôn như hình 2.5. Ghi nhận các giá trị nhiệt  
độ khuôn đạt được làm thông số cho quá trình  
mô phỏng và thí nghiệm ép.  
Công thức Newton để xác định hệ số tỏa nhiệt:  
Q
  
(W / m2.0K)  
F t t  
f
  
w
: Hệ số tỏa nhiệt.  
Q: Mật độ dòng nhiệt hay nhiệt lượng.  
F: Diện tích bề mặt trao đổi nhiệt.  
tw: nhiệt độ của bề mặt vách.  
tf: nhiệt độ của chất lỏng ở xa bề mặt vách.  
Các tiêu chuẩn đồng dạng cơ bản trong  
trao đổi nhiệt đối lưu:  
l  
Tiêu chuẩn Nusselt: Nn   
l  
Tiêu chuẩn Reynold: Re   
Hình 2.5. Đo nhiệt độ khuôn  
nghiệm do sự chênh lệch nhiệt độ giữa nước  
trong kênh dẫn và nhiệt độ ban đầu của khuôn.  
Sau đó ở những giây cuối quá trình thí nghiệm  
nhiệt độ khuôn thay đổi chậm và dần cân bằng.  
Nhiệt độ thực tế đạt được của khuôn chênh  
lệch từ 00C đến 50C so với nhiệt độ nước được  
cài đặt và lệch khoảng 30C đến 50C so với tính  
toán, đây là giá trị chấp nhận được đối với  
thực nghiệm gia nhiệt bằng nước. Sự chênh  
lệch này là do thất thoát nhiệt trên ống dẫn và  
sự truyền nhiệt từ khuôn ra môi trường.  
2.2. Mô phỏng  
Quá trình mô phỏng được thực hiện  
trên phần mềm Moldex3D R14 theo các thông  
số phun ép như quá trình thí nghiệm. Giá trị co  
rút của sản phẩm theo phương X (kích thước  
A) và phương Y (kích thước B) (hình 2.6)  
được tổng hợp để so sánh với kết quả thực  
nghiệm. Các điều kiện biên trong mô phỏng  
như sau:  
Dạng phần tử: edesign2  
Số phần tử chia lưới: 104347  
Số điểm chia: 128132  
3.2. Kết quả mô phỏng co rút của sản phẩm  
Bảng 3.2. Kết quả mô phỏng co rút của sản  
phẩm  
Số lòng khuôn: 1, thể tích lòng khuôn  
4,64083mm3  
Giá trị cong vênh mô phỏng  
Nhiệt độ  
TT  
khuôn (0C)  
Vật liệu nhựa: 1 loại (ABS)  
A (mm)  
0,329  
0,333  
0,332  
0,332  
0,334  
0,338  
0,341  
0,340  
0,342  
0,343  
0,348  
0,350  
0,357  
0,359  
0,359  
0,362  
0,363  
0,365  
B (mm)  
0,666  
0,682  
0,680  
0,683  
0,688  
0,704  
0,714  
0,714  
0,721  
0,730  
0,748  
0,756  
0,783  
0,788  
0,790  
0,798  
0,805  
0,816  
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10  
11  
12  
13  
14  
15  
16  
17  
18  
110C  
160C  
200C  
240C  
270C  
300C  
350C  
400C  
450C  
500C  
550C  
600C  
650C  
700C  
730C  
770C  
820C  
860C  
Số kênh làm mát thành phần: 4  
Hình 2.6. Kích thước mô phỏng và kiểm tra  
của sản phẩm  
3. KẾT QUẢ MÔ PHỎNG VÀ THỰC  
NGHIỆM  
3.1. Kết quả đo nhiệt độ khuôn  
Thực hiện thí nghiệm với các mức  
nhiệt độ nước khác nhau được dẫn qua kênh  
làm mát của tấm khuôn (nước lạnh từ 50C –  
250C, nước nóng từ 300C – 900C) và đo nhiệt  
độ thực tế đạt được của khuôn. Tổng hợp các  
kết quả thu được như bảng 3.1:  
Kết quả mô phỏng trên phần mềm  
Moldex 3D cho thấy có sự ảnh hưởng rõ rệt  
của nhiệt độ khuôn đến độ co rút của sản phẩm  
(bảng 3.2). Độ co rút của sản phẩm có xu  
hướng tăng dần theo nhiệt độ khuôn. Giá trị co  
rút kích thước nhỏ nhất ở mô phỏng với mức  
nhiệt độ khuôn 110C, lớn nhất ở mức nhiệt độ  
khuôn 860C. Ngoài ra có thể thấy ở mức nhiệt  
độ khuôn từ 110C – 270C giá trị co rút của sản  
phẩm tăng ít cho thấy việc sử dụng kênh dẫn  
lạnh có khả năng làm giảm độ co rút của sản  
phẩm. Kết quả mô phỏng quá trình filling cũng  
cho thấy sản phẩm được điền đầy hoàn toàn  
sau 0,478s đảm bảo cho quá trình thành hình  
của sản phẩm.  
Bảng 3.1. Kết quả đo nhiệt khuôn  
Nhiệt  
độ  
Nhiệt  
độ  
Nhiệt  
độ  
Nhiệt  
độ  
TT  
TT  
nước  
khuôn  
nước  
khuôn  
(0C)  
(0C)  
(0C)  
(0C)  
1
2
3
4
5
6
7
8
9
5
11  
16  
20  
24  
27  
30  
35  
40  
45  
10  
11  
12  
13  
14  
15  
16  
17  
18  
50  
55  
60  
65  
70  
75  
80  
85  
90  
50  
55  
60  
65  
70  
73  
77  
82  
86  
10  
15  
20  
25  
30  
35  
40  
45  
3.3. Phân tích kết quả thí nghiệm phun ép  
Nhiệt độ khuôn giảm (hoặc tăng)  
nhanh trong khoảng 0 – 150 giây đầu thí  
Thí nghiệm ép được thực hiện tại  
phòng thí nghiệm khuôn mẫu của Trường đại  
55  
60  
65  
70  
75  
80  
85  
90  
55  
60  
65  
70  
73  
77  
82  
86  
19,648 0,352 89,244 0,756  
19,642 0,358 89,236 0,764  
19,642 0,358 89,214 0,786  
19,638 0,362 89,204 0,796  
19,634 0,366 89,189 0,811  
19,630 0,370 89,180 0,820  
19,628 0,372 89,174 0,826  
19,622 0,378 89,169 0,831  
học sư phạm kỹ thuật Tp Hồ Chí Minh. Các  
thông số phun ép được trình bày ở bảng 3.3.  
Thí nghiệm sẽ được thực hiện với 18 mức  
nhiệt độ khuôn từ 110C đến 860 theo kết quả đo  
nhiệt độ khuôn được trình bày ở phần 3.1 còn  
các thông số phun ép còn lại được giữ không  
đổi.  
Bảng 3.3. Thông số phun ép  
Tiến hành xử lý số liệu thực nghiệm với  
kích thước mẫu n = 18, ước lượng đường hồi  
quy của mô hình, kiểm định giả thuyết của mô  
hình hồi quy với mức ý nghĩa 5%, phân tích  
tương quan để tìm mối liên hệ giữa nhiệt độ  
khuôn và giá trị co rút của sản phẩm. Đặt X là  
biến nhiệt độ khuôn (0C), Y là biến giá trị co  
rút kích thước của sản phẩm (mm). Phân tích  
số liệu ta có được với kích thước A đường  
cong bậc 2 thể hiện sự thay đổi giá co rút kích  
Thông số phun ép  
Loại nhựa  
ABS_Polylacpa709  
Thời gian  
điền đầy  
Nhiệt độ  
nhựa  
0,5 s  
2300C  
Nhiệt độ thực của khuôn khuôn  
(ứng với các mức nhiệt độ nước  
đã cài đặt) lần lượt là: 110C,  
160C, 200C, 240C, 270C, 300C,  
350C, 400C, 450C, 500C, 550C,  
600C, 650C, 700C, 730C, 770C,  
820C, 860C  
Nhiệt độ  
khuôn  
thước của sản phẩm theo nhiệt độ khuôn là  
^
Y a bX cX 2 0,32870,000131X 0,000005X 2  
.
Tỉ số tương quan thể hiện mối quan hệ giữa  
biến nhiệt độ khuôn và sự thay đổi giá trị co  
rút của sản phẩm được xác định như sau:  
Áp suất phun  
60 kg/cm2  
4,84249  
Thể tích phun  
Thời gian  
định hình  
Áp suất bảo  
hòa  
Thời gian làm  
mát  
Thời gian mở  
khuôn  
5 s  
60 Mpa  
11,3 s  
2 s  
n
^
2  
Y Y  
  
i1  
SY2 SY2X  
SY2X  
SY2  
i
X
  
1  
1  
n
SY2  
2
Y Y  
i
i1  
2  
n
^
Y Y  
0,000094  
  
X   
i
Chu kì 1 lần  
ép  
i1  
18,8 s  
n
2
Y Y 0,0043  
i
Kết quả đo giá trị co rút kích thước  
trên các mẫu sản phẩm thu được ở thí nghiệm  
này được trình bày qua bảng 3.4:  
i1  
Vậy tỉ số tương quan của mô hình là:  
0,000094  
1  
0,98  
Bảng 3.4.Giá trị co rút kích thước của sản  
phẩm  
0,0043  
0,98 cho thấy giá trị co rút kích thước  
Kích thước A  
Kích thước B  
của sản phẩm có liên quan mật thiết với sự  
thay đổi nhiệt độ khuôn ép [10]. Biểu đồ hình  
3.1 cho thấy độ co rút của sản phẩm tăng theo  
sự thay đổi nhiệt độ khuôn. Điều này chứng  
minh khi sử dụng kênh dẫn lạnh sẽ hạn chế độ  
co rút của sản phẩm nhựa. Phân tích số liệu  
của kích thước B cho kết quả tương tự với  
đường hồi quy thể hiện mối liên hệ giữa nhiệt  
(mm)  
Kích  
thước  
trị co  
sản  
phẩm  
19,670 0,330 89,332 0,668  
19,668 0,332 89,324 0,676  
19,670 0,330 89,326 0,674  
19,666 0,334 89,310 0,690  
19,664 0,336 89,312 0,688  
19,666 0,334 89,298 0,702  
19,660 0,340 89,292 0,708  
19,660 0,340 89,288 0,712  
19,656 0,344 89,276 0,724  
19,658 0,342 89,260 0,74  
(mm)  
Kích  
thước  
trị co  
sản  
phẩm  
Nhiệt Nhiệt  
độ độ  
Giá  
Giá  
nước khuôn  
(0C)  
(0C)  
rút  
rút  
5
11  
16  
20  
24  
27  
30  
35  
40  
45  
50  
10  
15  
20  
25  
30  
35  
40  
45  
50  
độ khuôn và giá trị co rút của sản phẩm theo  
^
kích thước làY 0,65810,001181X 0,00001X 2  
.
Tỉ số tương quan cho mối liên hệ này là  
=  
0,98, đường diễn biến độ co rút của sản phẩm  
ứng với các giá trị nhiệt độ khuôn thể hiện qua  
hình 3.2.  
Hình 3.3. Kết quả so sánh giữa mô phỏng và  
thí nghiệm của kích thước A  
Hình 3.1. Quan hệ giữa nhiệt độ nước thí nghiệm  
và giá trị co rút kích thước A của sản phẩm  
Hình 3.4. Kết quả so sánh giữa mô phỏng và  
thí nghiệm của kích thước B  
4. KẾT LUẬN  
Kết quả thí nghiệm cho thấy với cùng  
một thông số phun ép, khi tăng nhiệt độ khuôn  
(tăng nhiệt độ nước trong kênh dẫn) thì giá trị  
co rút kích thước của sản phẩm cũng tăng theo  
hay nói cách khác độ co rút của sản phẩm  
giảm khi sử dụng kênh dẫn có nhiệt độ thấp  
hơn nhiệt độ môi trường. Phân tích kết quả đo  
kích thước A cho thấy khi giảm nhiệt độ khuôn  
10C thì độ co rút sẽ giảm sấp xỉ 0,00014 mm  
theo kích thước A và 0,0012 mm theo kích  
thước B  
Hình 3.2. Quan hệ giữa nhiệt độ nước thí nghiệm  
và giá trị co rút kích thước B của sản phẩm  
So sánh giữa thí nghiệm và mô phỏng  
có thể thấy giá trị co rút chênh lệch không quá  
lớn, đường đặc tính của đồ thị có sự tương  
đồng. Đối với kích thước A giá trị co rút chênh  
lệch lớn nhất là 3,4% ở nhiệt độ khuôn 860C,  
còn với kích thước B chênh lệch là 2,7% ở  
nhiệt độ khuôn 770C. Đây là giá trị chấp nhận  
được trong thực nghiệm, sự chênh lệch lớn xảy  
ra chủ yếu từ mức nhiệt độ nước khoảng 500C  
đến 860C do khi gia nhiệt ở mức nhiệt này  
nhiệt độ khuôn tăng cao và thiếu ổn định.  
Giá trị co rút trung bình kích thước A  
khi phun ép với nhiệt độ khuôn từ 110C - 270C  
là 0,332mm so với giá trị co rút trung bình khi  
phun ép với nhiệt độ khuôn từ 400C - 600C là  
0,347mm giảm 4,3%; so với nhiệt độ khuôn từ  
700C - 860C là 0,370mm giảm 10,3%. Tương  
tự với kích thước B các giá trị này lần lượt là  
8,1% và 16,9%. Kết quả này cùng với biểu đồ  
hình 3.3 và 3.4 cho thấy khi làm lạnh kênh dẫn  
nguội độ co rút của sản phẩm sẽ ít đi so với  
kênh dẫn có nhiệt độ cao hơn nhiệt độ môi  
trường. Sự khác nhau này cho thấy sử dụng  
kênh dẫn lạnh đã đạt được hiệu quả làm giảm  
sự chênh lệch giữa nhiệt độ sản phẩm và nhiệt  
độ môi trường nguyên nhân chính gây ra co rút  
của sản phẩm. Vì thế kết quả của bài báo có  
thể được ứng dụng để tiến hành các nghiên  
cứu sâu hơn trong lĩnh vực ép phun.  
LỜI CẢM ƠN  
Nhóm nghiên cứu xin chân thành cảm  
ơn sâu sắc đến quí Thầy cô khoa Cơ khí máy,  
trường Đai học Sư phạm Kỹ thuật Tp. HCM.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[2] Charles A. Harper, Timonium, Maryland. Handbook of plastic processes. A John Wiley  
& Sons, INC., Publication, 2006.  
[2] Phạm Sơn Minh, Thanh Trung Do. Điều chỉnh nhiệt độ khuôn bằng quá trình làm nguội  
theo xung động dòng chảy. Tạp chí Khoa học và Công nghệ 52 (1) (2014) 123 – 132.  
[3] Andrew S. Lamont, Corey J. Linden. The effects of pulse cooling on the molding cycle  
and part variation. Pennsylvania State University, The Behrend College.  
[4] Benjamin A McCalla, Peter S. Allan and Peter R.Hornsby, Andrew G. Smith and Luiz  
Wrobel. Evaluation of pulsed cooling in injection mould tools. ANTEC 2004 / 461 –  
464.  
[5] Shia-Chung Chen, Ying Chang, Tsung-Hai Chang, Rean-Der Chien. Influence of using  
pulsed cooling for mold temperature control on microgroove duplication accuracy and  
warpage of the Blu-ray Disc. International Communications in Heat and Mass Transfer  
35 (2008) 130–138.  
[6] Phạm Sơn Minh, Thanh Trung Do, Lê Võ. Hạn chế độ cong vênh của sản phẩm nhựa  
Polypropylene dạng tấm bằng phương pháp điều chỉnh nhiệt độ. Tạp chí cơ khí Việt  
Nam, số 7, 2014.  
[7] Phạm Sơn Minh, Trần Minh Thế Uyên. Thiết kế chế tạo khuôn phun ép nhựa. NXB Đại  
học quốc gia TP HCM, 2014, tr.  
[8] ThS. Lê Dung. Sổ tay máy bơm.NXB Xây dựng, 2006.  
[9] PGS.TS Bùi Hải, PGS.TS Trần Thế Sơn. Kỹ thuật nhiệt. NXB khoa học và kỹ thuật,  
2004, tr 130 – 218.  
[10] Giang Thị Kim Liên. Bài giảng môn quy hoạch thực nghiệm (các phương pháp thống  
kê và xử lý số liệu thực nghiệm). Trường Đại học Đà Nẵng, 2009.  
Tác giả chịu trách nhiệm bài viết:  
1/ Họ tên: Đỗ Thành Trung  
Đơn vị: Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Tp.HCM  
Điện thoại: 0989881588  
2/ Họ tên: Huỳnh Chí Linh  
Đơn vị: Trường Cao đẳng nghề Cần Thơ  
Điện thoại:01673871995  
BÀI BÁO KHOA HỌC  
THỰC HIỆN CÔNG BỐ THEO QUY CHẾ ĐÀO TẠO THẠC SỸ  
Bài báo khoa học của học viên  
có xác nhận và đề xuất cho đăng của Giảng viên hướng dẫn  
Bản tiếng Việt ©, TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP. HỒ CHÍ MINH và TÁC GIẢ  
Bản quyền tác phẩm đã được bảo hộ bởi Luật xuất bản và Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam.  
Nghiêm cấm mọi hình thức xuất bản, sao chụp, phát tán nội dung khi chưa có sự đồng ý  
của tác giả và Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh.  
ĐỂ CÓ BÀI BÁO KHOA HỌC TỐT, CẦN CHUNG TAY BẢO VỆ TÁC QUYỀN!  
Thực hiện theo MTCL & KHTHMTCL Năm học 2018-2019 của Thư viện Trường Đại học  
Sư phạm Kỹ thuật Tp. Hồ Chí Minh.  
pdf 9 trang Mãnh Khiết 09/01/2024 16720 Free
Bạn đang xem tài liệu "Ảnh hưởng của nhiệt độ khuôn phun ép đến độ co rút của sản phẩm nhựa dạng tấm", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfanh_huong_cua_nhiet_do_khuon_phun_ep_den_do_co_rut_cua_san_p.pdf