Thiết kế và tổ chức dạy học chủ đề “Sinh trưởng của vi sinh vật - Nhân giống nấm men” (Sinh học 10) theo định hướng giáo dục stem cho học sinh hệ giáo dục thường xuyên

VJE  
Tạp chí Giáo dục, Số 450 (Kì 2 - 3/2019), tr 48-56  
THIẾT KẾ VÀ TỔ CHỨC DẠY HỌC CHỦ ĐỀ “SINH TRƯỞNG CỦA VI SINH VẬT  
-NHÂN GIỐNG NẤM MEN” (SINH HỌC 10) THEO ĐỊNH HƯỚNG GIÁO DỤC STEM  
CHO HỌC SINH HỆ GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN  
Phạm Thị Hồng Tú, Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên  
Ngọc Mạnh Huân, Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn  
Ngày nhận bài: 20/01/2019; ngày sửa chữa: 14/02/2019; ngày duyệt đăng: 20/02/2019.  
Abstract: STEM education is one of the teaching directions to develop the competency to apply  
interdisciplinary knowledge to solve practical problems. Derived from local practice in Cho Don  
district (Bac Kan), Saccharomyces cerevisiea is a microorganism that is used by many people to  
produce products such as pie leaven, sticky wine and ethyl wine..., we built the topic “Breeding  
Saccharomyces Cerevisiea (making Saccharomyces Cerevisiea cake)” to organize teaching for  
students of the regular education system. Through learning this STEM lesson, students experience  
practical, occupy knowledge actively, participate in technical processes to solve problems and apply  
solutions to change practical under the direction of teachers. Thereby students have more motivation,  
interest in learning, actively exploring subject knowledge and develop their own competencies.  
Keywords: STEM education, Breeding Saccharomyces Cerevisiea, microorganism.  
1. Mở đầu  
DạyhọctheođịnhhướngGiáodụcSTEMlàmộttrong  
2. Nội dung nghiên cứu  
2.1. Khái quát về giáo dục STEM  
những xu hướng giáo dục được coi trọng ở nhiều quốc gia  
trên thế giới và được đặc biệt quan tâm trong đổi mới giáo  
dục phổ thông của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.  
Trong Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể, giáo dục  
STEM là cách viết lấy chữ cái đầu tiên trong tiếng  
Anh của các từ Science (Khoa học), Technology (Công  
nghệ), Engineering (Kĩ thuật) và Maths (Toán học) [2].  
Giáo dục STEM là phương pháp tiếp cận, khám phá  
STEMđượcđề cậpđếnlàmộttrongnhữnghướngdạyhọc trong giảng dạy và học tập giữa hai hay nhiều hơn các  
môn học STEM, hoặc giữa một chủ đề STEM và một  
hoặc nhiều môn học khác trong nhà trường. Có nhiều  
hình thức tổ chức giáo dục STEM như dạy học các môn  
học thuộc lĩnh vực STEM; tổ chức các hoạt động trải  
nghiệm STEM; hoạt động nghiên cứu khoa học [3].  
Trong giới hạn bài báo, chúng tôi đề cập đến hình thức  
dạy học các môn học thuộc lĩnh vực STEM, trong đó  
trọng tâm là xây dựng chủ đề, bài học, hoạt động STEM  
bám sát chương trình của môn học. Từ nội dung môn học  
có thể thiết kế theo các chủ đề, bài học STEM và được tổ  
chức dạy học nhiều cách khác như có thể được dạy trong  
một môn học duy nhất, có thể được dạy trong nhiều môn  
học hoặc chủ đề STEM nhiều môn phối hợp nhau [4].  
pháttriểnnănglực,trongđónhấnmạnhnănglựcvậndụng  
kiến thức các lĩnh vực như Khoa học (S), Công nghệ (T),  
Kĩ thuật (E) và Toán học (M) để giải quyết các vấn đề thực  
tiễn. Giáo dục STEM được đề cập trong nhiều lĩnh vực  
như giáo dục Toán học, giáo dục Khoa học tự nhiên, giáo  
dục Công nghệ và tin học. “Giáo dục khoa học tự nhiên  
giúp học sinh dần hình thành và phát triển năng lực khoa  
học tự nhiên qua quan sát và thực nghiệm, vận dụng tổng  
hợp kiến thức, kĩ năng để giải quyết các vấn đề trong cuộc  
sống; đồng thời cùng với các môn Toán, Vật lí, Hoá học,  
Sinh học, Công nghệ, Tin học thực hiện giáo dục STEM”  
[1] . Tuy nhiên, việc dạy học môn học theo định hướng  
giáo dục STEM còn gặp rất nhiều khó khăn, trong đó có  
khó khăn về nhận thức của giáo viên (GV) về giáo dục  
STEM cũng như khó khăn về điều kiện thực hiện. Vì vậy,  
việc hỗ trợ các GV trong việc tổ chức dạy học môn học  
theo định hướng Giáo dục STEM cho học sinh nói chung  
và học viên (HV) ở các trung tâm Giáo dục nghề nghiệp -  
Giáo dục thường xuyên (viết tắt là trung tâm GDNN-  
GDTX) nói riêng có ý nghĩa cấp thiết, góp phần đáp ứng  
được yêu cầu của đổi mới giáo dục phổ thông trong giai  
đoạn hiện nay.  
2.2. Sự phù hợp của dạy học môn học theo định hướng  
giáo dục STEM tại các trung tâm Giáo dục nghề  
nghiệp - Giáo dục thường xuyên  
Trong công văn hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm  
học 2018-2019 đối với GDNN-GDTX do Bộ GD-ĐT đã  
chỉ rõ: “Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát  
triển năng lực nhằm tạo động cơ và hứng thú học tập cho  
HV, khuyến khích GV sử dụng các phương pháp tích cực,  
đa dạng hóa các hình thức tổ chức dạy học nhằm phát huy  
tính chủ động sáng tạo và tự học của HV” [5]. Dạy học  
48  
Email: [email protected]om  
VJE  
Tạp chí Giáo dục, Số 450 (Kì 2 - 3/2019), tr 48-56  
theo định hướng giáo dục STEM là một trong những sở 6 nguyên tắc xây dựng bài học STEM, chúng tôi thiết  
hướngđổi mới,trongđóchútrọngđếnpháttriểntoàndiện, kế kế hoạch dạy học cho bài học STEM với chủ đề “Sinh  
hìnhthành phẩm chất và phát triển năng lực người học, bắt trưởng của VSV - Nhân giống nấm men”.  
đầu từ việc tạo sự hứng thú đến việc tạo điều kiện, tạo cơ  
* Quy trình thiết kế kế hoạch dạy học cho bài học  
hội để HV chủ động, sáng tạo trong các khâu: lựa chọn  
STEM: Trên cơ sở nghiên cứu quy trình xây dựng bài  
vấn đề giải quyết cho đến việc đề xuất phương án và thực  
học STEM của các tác giả [2], [4], [6], [7], chúng tôi đưa  
hiện các phương án giải quyết vấn đề (GQVĐ). Ngoài ra,  
ra quy trình thiết kế kế hoạch dạy học cho bài học STEM  
giáo dục STEM còn góp phần định hướng nghề nghiệp  
cho chủ đề “Sinh trưởng của VSV - Nhân giống nấm  
cho HV: HV GDNN-GDTX là đối tượng vừa học văn hóa  
men” gồm các bước như sau (hình 1):  
vừa có thể học nghề. Do đó, khi thực hiện các hoạt động  
trong bài học STEM, HV nhận thức những ưu, nhược  
điểm của bản thân rõ hơn, thấy được xu hướng nghề  
nghiệp tốt hơn, từ đó giúp cho việc đặt mục tiêu và lựa  
chọnnghề nghiệpcủa bảnthânhiệuquả hơn. Bêncạnhđó,  
dạy học theo định hướng giáo dục STEM còn giúp HV có  
thể vận dụng kiến thức thuộc các lĩnh vực STEM để áp  
dụng vào thực tiễn như:làm men, nấu rượu, trồng chè, làm  
tương… từ đó giúp giảm thời gian, công sức sản xuất và  
tăng năng suất, chất lượng sản phẩm.  
Môn Sinh học là môn học gồm các kiến thức ứng  
dụng thực tiễn, đặc biệt là phần Sinh học vi sinh vật  
(VSV), Sinh học 10. Phần Sinh học VSV gồm các nội  
dung nghiên cứu về đối tượng VSV và ứng dụng của  
VSV trong thực tiễn, là các vấn đề về trao đổi chất và  
chuyển hoá năng lượng ở VSV, sinh trưởng và sinh sản  
của VSV. Những hiểu biết trên là cơ sở để ứng dụng công  
nghệ VSV trong sản xuất các sản phẩm đáp ứng nhu cầu  
của đời sống con người, như sản xuất sinh khối VSV,  
ứng dụng các quá trìnhlên men VSV,… Vì vậy, nội dung  
phần Sinh học VSV thích hợp cho việc tổ chức dạy học  
theo định hướng giáo dục STEM cho HV ở các trung tâm  
GDNN-GDTX.  
Hình 1. Quy trình thiết kế kế hoạch dạy học  
cho bài học STEM  
* Vận dụng quy trình thiết kế kế hoạch dạy học cho  
bài học STEM với chủ đề “Sinh trưởng của VSV -  
Nhân giống nấm men”:  
- Bước 1: Xác định chủ đề STEM  
Từ việc phân tích nội dung kiến thức trong chương  
trình môn học, xác định các vấn đề thực tiễn có liên quan  
đến các hiện tượng, quá trình, cơ chế trong chương trình  
(ưu tiên những vấn đề thực tiễn liên quan đến địa  
phương). Căn cứ vào điều kiện thực tế của cơ sở giáo dục  
và căn cứ vào khả năng của các HV để lựa chọn bài học  
và chủ đề của bài học STEM. Phần Sinh học VSV nghiên  
cứu các VSV, trong đó nấm men là đối tượng được người  
dân ở địa phương huyện Chợ Đồn (tỉnh Bắc Kạn) ứng  
dụng nhiều để sản xuất nhiều sản phẩm ứng dụng. Vì  
vậy, nếu HV được học, được làm, được sáng tạo trong  
các khâu ứng dụng liên quan đến nấm men thì rất có ý  
nghĩa, vừa giúp các HV hứng thú trong học tập, vừa giúp  
hình thành phẩm chất, năng lực đáp ứng yêu cầu của đổi  
mới giáo dục phổ thông, đồng thời góp phần định hướng  
nghề nghiệp. Từ những phân tíchtrên, chúng tôi lựa chọn  
bài học “Sinh trưởng của VSV” và xác định chủ đề  
STEM là “Nhân giống nấm men”, trong đó lựa chọn  
việc nhân giống nấm men bằng hình thức Làm bánh men  
chuẩn bị nấm men giống làm thức ăn cho người, thức ăn  
2.3. Dạy học chủ đề “Sinh trưởng của vi sinh vật -  
Nhân giống nấm men” (Sinh học 10) ở Trung tâm  
Giáo dục nghề nghiệp-Giáo dục thường xuyên huyện  
Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn  
2.3.1. Thiết kế kế hoạch dạy học chủ đề “Sinh trưởng của  
vi sinh vật - Nhân giống nấm men” (Sinh học 10) theo  
định hướng giáo dục STEM  
Việc xây dựng chủ đề, bài học STEM dựa trên 6 tiêu  
chí cơ bản [3]: 1) Chủ đề, bài học STEM tập trung vào  
các vấn đề thực tiễn; 2) Cấu trúc bài học STEM theo quy  
trình thiết kế kĩ thuật; 3) Phương pháp dạy học bài học  
STEM đưa HV vào các hoạt động tìm tòi khám phá, định  
hướng hành động, trải nghiệm và sản phẩm; 4) Hình thức  
tổ chức bài học STEM lôi cuốn HV vào hoạt động nhóm  
kiến tạo; 5) Nội dung bài học STEM áp dụng chủ yếu từ  
nội dung Khoa học và Toán học đã và đang học; 6) Tiến  
trình bài học STEM tính đến nhiều đáp án đúng và coi sự  
trong chăn nuôi và sản xuất rượu etilic  
.
- Bước 2: Xác định vấn đề cần giải quyết của chủ đề  
thất bại như là một phần cần thiết trong học tập. Trên cơ STEM  
49  
VJE  
Tạp chí Giáo dục, Số 450 (Kì 2 - 3/2019), tr 48-56  
Đây là khâu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, xác định  
* Yếu tố về điều kiện cơ sở vật chất để thực hiện  
được vấn đề cần giải quyết là vấn đề trọng tâm. Kết quả GQVĐ: Các nguyên liệu, vật liệu và thiết bị để thực hiện.  
của việc xác định được vấn đề cần giải quyết chính là đưa  
ra được các câu hỏi nghiên cứu, từ các câu hỏi/vấn đề  
nghiên cứu này, GV tổ chức cho HV giải quyết từng câu  
hỏi/vấn đề nhỏ để ra sản phẩm cuối cùng có thể là một  
giải pháp, một bản thiết kế hoặc một sản phẩm thiết kế.  
Với chủ đề “Sinh trưởng của VSV - Nhân giống nấm  
men” thì các câu hỏi nghiên cứu cần giải quyết chính là:  
Vì sao cần phải sản xuất bánh men (hoặc bánh men lá)?  
Việc sản xuất bánh men tiến hành như thế nào? Để làm  
được bánh men hoặc bánh men lá thì cần vận dụng những  
kiến thức nào? Việc sản xuất bánh men truyền thống  
thường gặp những khó khăn gì?...  
- Bước 3: Xác định mục tiêu bài học STEM, dự kiến  
các sản phẩm  
Sau khi đã xác định vấn đề cần giải quyết/sản phẩm  
cần chế tạo, cần xác định rõ mục tiêu cần đạt được và dự  
kiến các sản phẩm có thể được tạo thành (bảng 1).  
- Bước 5: Thiết kế tiến trình tổ chức hoạt động dạy học  
Tiến trình tổ chức hoạt động dạy học được thiết kế  
theo các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực với  
các loại hoạt động học (Hoạt động tìm hiểu thực tiễn,  
phát hiện vấn đề; Hoạt động nghiên cứu kiến thức nền;  
Hoạt động GQVĐ). Mỗi hoạt động học được thiết kế rõ  
ràng về mục đích, nội dung và sản phẩm học tập mà học  
sinh phải hoàn thành. Các hoạt động học đó có thể được  
tổ chức cả ở trong và ngoài lớp học (ở trường, ở nhà và  
cộng đồng). Tiến trình tổ chức các hoạt động dạy - hoạt  
động học được thể hiện ở bảng 1.  
- Bước 6: Đánh giá điều chỉnh cho phù hợp  
2.3.2. Tổ chức dạy học chủ đề “Sinh trưởng của VSV -  
Nhân giống nấm men” heo định hướng giáo dục STEM  
Tổ chức dạy chủ đề “Sinh trưởng của VSV - Nhân  
giống nấm men” theo định hướng giáo dục STEM thực  
Bảng 1. Mục tiêu và dự kiến sản phẩm bài học STEM  
Mục tiêu  
Dự kiến sản phẩm  
* Kiến thức: - Xác định được môi trường nuôi cấy nấm men; kiểu dinh  
dưỡng của nấm men; kiểu hô hấp; - Nêu được khái niệm sinh trưởng của  
quần thể VSV; Phân biệt được đặc điểm và ưu nhược điểm của sự sinh HV xác định được các kiến thức có  
trưởng của quần thể VSV trong điều kiện nuôi cấy liên tục và nuôi cấy liên quan đến sinh trưởng của VSV  
không liên tục; - Chỉ ra được các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng sinh  
sản của VSV nói chung và của nấm men nói riêng.  
* Kĩ năng: Đề xuất được giải pháp trong việc ủ bánh men; Thiết kế được  
Quy trình làm bánh men; Bản thiết kế  
giá/tủ ủ bánh men từ nguyên liệu sẵn có; Đề xuất được quy trình làm  
giá ủ bánh men; Giá ủ bánh men; Bánh  
bánh men. Vận dụng quy trình và sử dụng những nguyên liệu tự nhiên  
men lá.  
để làm được bánh men.  
* Thái độ: Tăng hứng thú tìm hiểu, khám phá khoa học gắn liền với thực tiễn; tăng sự đoàn kết, hợp tác trong  
công việc để hoàn thành nhiệm vụ.  
* Năng lực được hình thành: Năng lực GQVĐ; năng lực vận dụng kiến thức sinh học vào thực tiễn.  
- Bước 4: Xác định những yếu tố thực hiện bài học chất là triển khai các hoạt động dạy và học theo kế hoạch  
STEM  
* Yếu tố về kiến thức được sử dụng thuộc các lĩnh vực Việc tổ chức dạy học chủ đề này được tiến hành trong  
liên quan để GQVĐ (bảng 2). theo các hoạt động chính sau (bảng 3):  
đã thiết kế nhằm đạt được mục tiêu của bài học đã đặt ra.  
Bảng 2. Những yếu tố về kiến thức được sử dụng trong các lĩnh vực  
STT  
1
Lĩnh vực  
Kiến thức  
Phần VSV (Sinh học 10): Dinh dưỡng, chuyển hoá vật chất và năng lượng ở sinh vật;  
Quá trình phân giải các chất ở VSV; Sinh trưởng của VSV và các yếu tố ảnh hưởng  
đến sinh trưởng của VSV  
Sinh học  
2
3
Kĩ thuật  
Xây dựng được quy trình sản xuất men lá; Thực hiện được các thao tác thiết kế  
Công nghệ  
Phần I: Vẽ kĩ thuật (Công nghệ 11)  
1. Xác định tỉ lệ các loại nguyên liệu.  
2. Xác định kích thước các vật liệu để chế tạo tủ ủ men mini  
4
Toán học  
50  
VJE  
Tạp chí Giáo dục, Số 450 (Kì 2 - 3/2019), tr 48-56  
Bảng 3. Hoạt động tổ chức dạy chủ đề “Sinh trưởng của VSV - Nhân giống nấm men”  
theo định hướng giáo dục STEM  
Hoạt động của HV -  
Dự kiến sản phẩm  
Hoạt động của GV  
Mục tiêu  
Hoạt động 1. Hoạt động tìm hiểu thực tiễn, phát hiện vấn đề (Thời gian 5 phút của tiết trước)  
- GV tổ chức cho HS chơi trò chơi “Đoán  
ý đồng đội”: GV cung cấp cho HV bát  
rượu nếp (Là sản phẩm của 1 nhóm HV  
làm từ bài trước) và nhiệm vụ của HV này  
là quan sát, nếm, ngửi sản phẩm và mô tả  
cho đồng đội để đồng đội đoán tên sản  
phẩm.  
- GV phỏng vấn HV: Về tác dụng của rượu  
nếp nói riêng và sản phẩm lên men nói  
chung trong đời sống, trong sản xuất kinh  
doanh và trong bối cảnh nhiều người sử  
dụng rượu cồn công nghiệp gây ngộ độc…  
- Vấn đề đặt ra: 1) Cơm rượu nếp là sản  
phẩm ứng dụng của VSV nào? 2) Để làm  
được cơm rượu nói chung, cần sử dụng  
những nguyên liệu chính nào và sử dụng  
loại VSV nào? Làm cách nào để có thể  
nhân giống được loại VSV đó?  
GV kết luận vấn đề: Bánh men là gì?  
Cách tiến hành làm bánh men như thế  
nào?  
HV tham gia trò chơi: Đoán ý đồng  
đội.  
- HV hứng thú trong tham  
gia Hoạt động học tập: HV  
được tận mắt nhìn, được  
ngửi, được thử sản phẩm do  
chính HV đã làm  
- HV chia sẻ thông tin hiểu biết của  
cá nhân về tác dụng của sản phẩm lên  
men từ VSV có tên nấm men: dùng  
làm thức ăn cho người và trong chăn  
nuôi (thơm ngon, giàu dinh dưỡng,  
kích thích tiêu hóa…); trong sản xuất  
kinh doanh thu lợi kinh tế; sử dụng  
cơm rượu chưngcất để sản xuất rượu.  
- HV huy động những hiểu  
biết của cá nhân từ thực tiễn  
vào trong bài học (vì địa  
phương có nhiều gia đình  
làm cơm rượu và nấu  
rượu…).  
HV: Loại VSV: Nấm men (bánh  
men); Tiến hành làm bánh men.  
- HV quan sát, sờ, ngửi bánh men và  
dự đoán là sản phẩm của sinh trưởng  
nấm men; nguyên liệu: gạo tẻ, nấm  
men, bột lá..., mỗi bánh men chứa  
hàng chục đến hàng trăm triệu tế bào  
nấm men, chúng có khả năng chuyển  
hóa đường thành rượu.  
- HV chỉ ra: Nuôi cấy nấm men và tạo  
điều kiện cho nấm men sinh trưởng,  
sinh sản tạo sinh khối.  
- GV tiếp tục cho HV quan sát, sờ, ngửi  
bánh men chứa nấm  
men giống và  
phỏng vấn hiểu biết  
của HV về bánh  
- HV đi trải nghiệm thực tiễn và thực  
hiện nhiệm vụ GV giao.  
men (vai trò của  
- HV tích cực hứng thú  
trong việc thực hiện nhiệm  
vụ GV giao  
bánh men, loại VSV trong bánh men,  
nguyên liệu làm bánh men…).  
- GV đặt vấn đề: Từ một vài bánh men, làm  
thế nào để tạo ra hàng trăm bánh men cho  
nhiều người được sử dụng?  
- Giao nhiệm vụ HV (hoạt động cá nhân)  
về nhà: 1) Tìm hiểu cách tạo ra bánh men  
lá; 2) Báo cáo quy trình làm bánh men; 3)  
Chỉ ra được những khó khăn của việc sản  
xuất bánh men ở nhà dân; 4) Đặt các câu  
hỏi thắc mắc liên quan.  
Hoạt động 2. Nghiên cứu kiến thức liên quan để GQVĐ (Thực hiện trên lớp tiết 1)  
1) Tổ chức HV báo cáo việc thực hiện HV thực hiện Nhiệm vụ 1: Báo cáo  
nhiệm vụ của hôm trước:  
quy trình làm bánh men;  
51  
VJE  
Tạp chí Giáo dục, Số 450 (Kì 2 - 3/2019), tr 48-56  
Nhiệm vụ 1: Báo cáo quy trình làm bánh HV đưa ra các câu hỏi: (1) Vai trò của Gắn kiến thức thực tiễn với  
men tìm hiểu được; Đưa ra những câu hỏi gạo, lá cây trong quá trình làm bánh bài học  
thắc mắc; Chỉ ra những khó khăn trong men; (2) Vì sao làm bánh men cần để  
quy trình làm bánh men ở nhà dân.  
thoáng khí (xếp ra nong, nia); tại sao  
trời lạnh không làm được bánh men;  
(3) Tại sao phải làm bánh men thật  
khô mới bảo quản?...  
- GV định hướng HV đi tìm câu trả lời cho  
những thắc mắc có liên quan đến làm bánh  
men: Bản chất của quá trình làm bánh men  
lá là quá trình sản xuất sinh khối nấm men; HV đưa ra những khó khăn: Tốn diện  
Để thu được sinh khối nấm men tốt nhất tích ủ, tốn thời gian, vấn đề vệ sinh,  
cần có những kiến thức về dinh dưỡng, phụ thuộc thời tiết (mùa đông thường  
sinh trưởng phát triển và các yếu tố ảnh không làm).  
- HV xác định được kiến  
thức:  
hưởng đến sinh trưởng của nấm men.  
Nhiệm vụ 2  
* Nghiên cứu Sách giáo khoa trang 90 và  
cho biết:  
+ Hô hấp ở VSV có những loại nào? Điều  
kiện xảy ra các loại hô hấp đó? Nấm men  
thuộc kiểu hô hấp nào?  
HV thực hiện Nhiệm vụ 2:  
* Nghiên cứu Sách giáo khoa và tìm  
câu trả lời:  
+ Có các kiểu hô hấp: Hô hấp hiếu  
khí, hô hấp kị khí; Nấm men thuộc  
nhóm hô hấp Kị khí không bắt buộc.  
+ Phân biệt được hô hấp và  
lên men, từ đó xác định  
được để sản xuất sinh khối  
nấm men cần tạo điều kiện  
hiếu khí.  
+ Từ kiến thức về hô hấp của nấm men hãy  
cho biết để tạo được nhiều sinh khối nấm  
men nhất thì nêntạo điều kiện nhưthế nào?  
Nuôi cấy hiếu Nuôi cấy kị  
khí  
khí  
Sản phẩm chủ  
yếu là sinh  
khối  
Thu được ít  
sinh khối  
* Cho HV quan sát video về sự sinh trưởng  
của quần thể VSV từ đó hình thành khái  
niệm sinh trưởng của quần thể VSV cho  
HV.  
Còn lại là CO2,  
một số sản  
CO2 là sản  
* Nghiên cứu đường cong sinh trưởng của  
quần thể vi khuẩn nói riêng và của VSV  
nói chung (trang 100-101 Sách giáo khoa)  
cho biết nếu nuôi cấy nấm men trong điều  
phẩm thứ cấp  
phẩm trao đổi  
chất (ethanol)  
kiện nuôi cấy không liên tục thì nên thu Để tạo được nhiều sinh khối nấm  
hoạch nấm men ở pha nào là hiệu quả men nhất thì nên tạo điều kiện hiếu  
nhất?  
khí.  
- HV trình bày được khái  
niệm sinh trưởng của quần  
thể VSV;  
- Xác định được đường  
cong sinh trưởng của quần  
thể VSV gồm 4 pha và nên  
thu sinh khối ở cuối pha lũy  
thừa đầu pha cân bằng.  
* Để nhân giống nấm men hiệu quả,  
nghiên cứu Sách giáo khoa trang 105-107  
xác định các yếu tố dinh dưỡng và các điều  
kiện vật lí, hóa học thuận lợi cho sinh  
trưởng của nấm men?  
Từ những phân tích ở trên, GV định hướng  
HV trả lời các câu hỏi băn khoăn đã nêu ở  
trên.  
* HV nghiên cứu hình 25 sách giáo  
khoa và nghiên cứu nội dung mục  
II.1 để xác định được: Sự sinh trưởng  
của quần thể VSV nói chung và của  
nấm men nói riêng trông điều kiện  
nuôi cấy không liên tục trải qua 4  
pha.  
- HV chỉ ra: Nấm men sinh trưởng  
trên môi trường chứa 50-60%  
glucoza; Nhiệt độ thích hợp để nấm  
men phát triển là 28-30oC; pH thích  
hợp = 4,5-5,5.  
- HV xác định được các  
điều kiện thuận lợi cho nấm  
men phát triển.  
52  
VJE  
Tạp chí Giáo dục, Số 450 (Kì 2 - 3/2019), tr 48-56  
- Vai trò của gạocung cấp môi trường  
chứa glucoza và vitamin B1; các loại  
lá thuốc có tác dụng cung cấp dưỡng  
chất, vừa ức chế VSV bất lợi, vừa  
giúp kích thích nấm men phát triển;  
thoáng khí tạo điều kiện hô hấp hiếu  
khí của nấm men…  
KẾT LUẬN: 1) Khái niệm sinh trưởng của VSV; 2) Đặc điểm sinh trưởng của VSV trong điều kiện nuôi cấy  
không liên tục (đường cong sinh trưởng gồm 4 pha); 3) Đặc điểm sinh trưởng của VSV trong điều kiện nuôi cấy  
liên tục; 4) Các nhân tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của VSV (nhân tố kích thích, yếu tố ức chế).  
Hoạt động 3. Hoạt động GQVĐ - Thực hiện trên lớp tiết 2, 3  
1. Đề xuất giải pháp (Thực hiện 20 phút)  
Nhiệm vụ 3: Trên cơ sở có những kiến thức  
liên quan đến quy trình làm bánh men, từ  
những khó khăn của làm bánh men ở nhà  
dân là tốn diện tích, không chủ động về  
nhiệt độ, thời gian…, hãy đề xuất các giải  
pháp khắc phục các khó khăn?  
- HV thảo luận và đề xuất những giải  
pháp khắc phục các khó khăn trong  
làm bánh men: Làm giá để ủ bánh  
men hoặc làm thùng ủ bánh men…  
- HV đề xuất được giải pháp  
khắc phục.  
- GV yêu cầu HS tự thiết kế giá ủ men theo  
sở thích hoặc GV đưa ra bài toán tình  
huống để định hướng HV: Biết rằng 1 bánh  
men khối cầu có đường kính 4cm. Khi ủ  
men, các bánh men xếp cách nhau 1cm.  
Em hãy đưa ra giải pháp để ủ hết 200 bánh  
men vào diện tích 0,25m2.  
- HV: dựa vào kiến thức toán học và  
thảo luận để tìm ra giải pháp.  
- HV đưa ra được phương  
án giải quyết: Thiết kế giá 2  
tầng, mỗi tầng có diện tích  
khay đựng là 0,25m2 nhằm  
tận dụng không gian chiều  
cao và chủ động về nhiệt độ  
- HV tính được: 1 bánh men khi ủ sẽ  
chiếm diện tích là: (4 + 1) x (4 + 1) =  
25cm2 = 0,0025m2 ; Với diện tích  
0,25m2 sẽ xếp được số men là: 0,25 :  
0,0025 = 100 bánh men; Số men còn  
dư là: 200 – 100 = 100 bánh men =>  
Còn thiếu 0,25m2 nữa nên làm giá 2  
tầng.  
- HV đưa ra giải pháp sao cho môi  
trường ủ men có nhiệt độ thích hợp  
để nấm men sinh sản tốt: Để vào chỗ  
ủ những chai nước ấm 30-35oC hoặc  
- GV đặt vấn đề: Nếu ủ men bằng cách xếp  
trên nong thì vào mùa đông, nhiệt độ  
xuống thấp lại không ủ men được. Em hãy  
đề xuất giải pháp khắc phục tình trạng trên.  
- Phỏng vấn HV về lợi ích và khó khăn khi  
sử dụng máy ấp trứng để điều hòa nhiệt độ.  
- GV yêu cầu HV đưa ra bản vẽ thiết kế gắn vào giá/tủ ủ máy ấp trứng CNE  
tủ/giá ủ men từ những vật liệu đơn giản, dễ 6...  
- HV vẽ được mô hình giá ủ  
men (hình 2):  
kiếm.  
- HV giải thích những lợi ích của máy  
ấp trứng: Đảm bảo nhiệt độ thích  
hợp, ổn định nhiệt độ, độ ẩm và sự  
thoáng khí theo yêu cầu.  
- HV Xác định kích thước giá: Dựa  
vào kích thước hộp xốp HV thiết kế  
giá ủ men 2 tầng với kích thước: Diện  
tích mặt giá là: 55x55cm; Chiều cao  
là 30cm, mỗi tầng của giá cao 15cm.  
Hình 2. Bản vẽ giá ủ men  
- Vẽ mô hình giá đựng khay.  
2. Thực hiện giải pháp/thực hiện thiết kế giải pháp (65 phút trên lớp)  
(1) Thiết kế tủ/giá để ủ bánh men  
- HV: Các nhóm thảo luận, thống HV thiết kế được: thùng  
nhất cách làm, phân công nhiệm vụ xốp, giá ủ men, khay ủ men,  
53  
VJE  
Tạp chí Giáo dục, Số 450 (Kì 2 - 3/2019), tr 48-56  
thực hiện để hoàn thành nhiệm vụ gắn bộ phận tạo nhiệt độ  
- GV chia lớp thành 4 nhóm, yêu cầu các  
nhóm thiết kế giá/ tủ ủ men từ những  
nguyên liệu sẵn có.  
được giao.  
phù hợp (hình 3).  
- GV có thể gợi ý cách thiết kế tủ ủ men từ  
nguyên liệu trên theo các bước sau: Chuẩn  
bị một thùng xốp làm vỏ tủ ủ men (với  
nhóm thiết kế giá ủ men không cần làm vỏ  
tủ); thiết kế giá ủ men; chuẩn bị khay ủ  
men; lắp máy điều chỉnh nhiệt độ, độ ẩm  
và thông khí (có nhóm đề xuất gắn chai  
nước) vào thùng xốp (hoặc giá); tạo tủ  
(giá) ủ men hoàn chỉnh.  
- Tiêu chí của tủ ủ men: Đơn giản, dễ thực  
hiện, tiết kiệm; tạo được nhiệt độ và độ ẩm  
thích hợp cho nấm men sinh trưởng; tránh  
được sự tấn công của những sinh vật gây  
hại; giúp nấm men sinh trưởng tốt nhất và  
chất lượng đảm bảo.  
- Nhóm HV thực hiện nhiệm vụ thiết  
kế giá ủ bánh men từ những vật liệu  
sẵn có.  
- Nhóm HV thực hiện nhiệm vụ thiết  
kế tủ ủ bánh men.  
Hình 3. Sản phẩm thiết kế  
của HV  
(2) Làm bánh men  
- HV: Các nhóm thực hiện nhiệm vụ HV xây dựng quy trình sản  
được giao.  
xuất bánh men dựa trên quy  
trình đã có (hình 4)  
- GV: Từ quy trình làm bánh men của các  
nhóm báo cáo, GV tổ chức cho HV phân (1) Đề xuất một số phương án cải  
tích và chọn 1 quy trình phù hợp để thảo tiến:  
luận. Nhiệm vụ đặt ra là từ quy trình đã  
chọn, các HV có thể đề xuất phương án cải  
tiến và đưa ra lí do của sự cải tiến đó.  
+ Thay vì ngâm gạo bằng nước lã thì  
ngâm gạo bằng nước đun sôi để  
nguội - Loại bỏ được một số VSV có  
- GV yêu cầu HV tự xác định nguyên liệu hại trong nước lã.  
cho việc làm bánh men của mỗi nhóm  
hoặc GV đưa ra bài tập để định hướng HV:  
Để sản xuất 25 bánh men lá đường kính 4  
cm người ta cần 1kg gạo, người ta cần 1kg  
thuốc lá cây, 50gam men giống, 50 gam  
bột riềng khô, 3 lít nước, 1 nồi đun có dung  
tích 1,5-2 lít. Vậy để sản xuất 200 bánh  
men lá thì các nguyên liệu và dụng cụ như  
thế nào?  
+ Bổ sung bột riềng khô - Tạo mùi  
thơm, tiêu diệt một số VSV gây hại,  
tạo điều kiện phù hợp cho nấm men  
phát triển.  
- HV: dựa vào kiến thức toán học để  
xác định tỉ lệ các thành phần nguyên  
liệu.  
-HV thực hiện các thao tác chính: cân  
bột, nặn bánh, cấy giống, xếp vào  
Hình 4. Sơ đồ quy trình  
làm bánh men  
54  
VJE  
Tạp chí Giáo dục, Số 450 (Kì 2 - 3/2019), tr 48-56  
khay/giá để ủ. Bước tiếp theo là ủ,  
phơi tiến hành sau giờ học (vì cần đủ  
thời gian).  
- GV tổ chức các nhóm sản xuất bánh men  
theo quy trình đã xây dựng và thống nhất  
(một số việc GV phải chuẩn bị trước: Bột  
đã nghiền, lá thuốc đã đun).  
- HV thực hiện giải pháp:  
Sản phẩm là bánh men  
(hình 5):  
(2) Các nhóm làm bánh men theo  
quy trình đã xây dựng.  
- Tiêu chuẩn của men thành phẩm là: Men  
phải giữ được độ sáng của bột gạo, có  
nhiều vân trông đẹp mắt và có mùi thơm  
đặc trưng. Khi ủ với nguyên liệu để nấu  
rượu phải tạo được bỗng rượu thơm đặc  
trưng.  
Hình 5. Bánh men  
Hoạt động 4. Định hướng nghiên cứu cho phần tiếp theo (5 phút trên lớp)  
GV định hướng mở rộng nghiên cứu (dành - HV xác định được là nuôi cấy - Những HV đam mê  
cho một số HS ham sáng tạo): Cách làm không liên tục và chỉ ra hạn chế của nghiên cứu được tiếp tục  
bánh men là ứng dụng của loại nuôi cấy nuôi cấy không liên tục.  
sáng tạo.  
VSV nào? Chỉ ra hạn chế của nuôi cấy  
không liên tục? Có thể nghiên cứu đề xuất  
cách nhân giống nấm men theo mô hình  
nuôi cấy liên tục được không? Đưa ra  
nguyên liệu và quy trình sản xuất nấm men  
giống theo mô hình nuôi cấy liên tục.  
- Những HV ham nghiêncứutiếptục  
đi tìm hiểu cách nhân giống nấm men  
theo mô hình nuôi cấy liên tục để  
tăng năng suất nhân giống nấm men.  
Hoạt động 5. Thảo luận và báo cáo kết quả (đầu giờ của tiết học tuần sau) điều chỉnh thiết kế  
GV tổ chức cho HV báo cáo sản phẩm HV báo cáo sản phẩm, so sánh chất - HV được rèn luyện kĩ  
bánh men đã làm từ giờ trước. Thảo luận lượng của 4 sản phẩm, thảo luận năng báo cáo, đánh giá sản  
đánh giá sản phẩmthông qua việc quansát, nguyên nhân thành công và chưa phẩm.  
ngửi… và xin ý kiến đánh giá của nghệ thành công từ đó điều chỉnh thiết kế  
- HV rèn luyện được kĩ  
năng so sánh phân tích.  
nhân.  
cho phù hợp.  
-Yêu cầu HV so sánh 4 sản phẩm: (1) Bánh  
men được ủ bằng tủ ủ có gắn máy ấp trứng  
CNE 6; (2)Bánh men được ủ từ giá ủ có  
gắn máy ấp trứng CNE 6; (3)Bánh men  
được ủ bằng giá ủ có gắn chai nước tạo  
nhiệt; (3)Bánh men được ủ bằng giá ủ bánh  
men có gắn máy ấp trứng CNE 6.  
- HV được điều chỉnh  
thiết kế.  
Thông qua việc so sánh yêu cầu HV tự  
điều chỉnh thiết kế cho hiệu quả nhất.  
môn học văn hóa tại trung tâm là các môn học để thi tốt  
nghiệp và thi chuyên nghiệp do đó HV không được học  
môn Công nghệ, vì vậy việc hướng dẫn HV vẽ các bản  
thiết kế cũng như chuyển từ bản thiết kế sang thiết kế sản  
phẩm gặp nhiều khó khăn; 5) GV dạy văn hóa chưa được  
tậphuấnchuyênmônvề dạyhọc theođịnhhướnggiáodục  
STEM. Mặt khác, mỗi môn học văn hóa tại các trung tâm  
thường chỉ có một GV giảng dạy nên việc trao đổi kinh  
nghiệm chuyên môn rất khó khăn. Từ những lí do trên dẫn  
đến việc áp dụng phương pháp dạy học mới theo định  
hướng phát triển năng lực, phẩm chất người học gặp nhiều  
khó khăn, trong đó có việc thực hiện bài học theo định  
hướng giáo dục STEM.  
2.4.NhữngkhókhănkhithựchiệnbàihọcSTEMởtrung  
tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên  
Thực tế khi tiến hành tổ chức dạy học theo định hướng  
giáo dục STEM tại trung tâm GDTX gặp nhiều khó khăn  
như: 1) Chất lượng đầu vào của HV còn thấp do phần lớn  
các em không thi được vào các trường công lập hoặc do  
hoàn cảnh gia đình khó khăn; 2)Nhiều em ngoài giờ học  
còn phải phụ giúp gia đình lao động sản xuất. Những em  
nhà xa phải đi trọ học thiếu sự quản lí của gia đình nên  
cũng ảnh hưởng đến việc học…; 3) Cơ sở vật chất phục  
vụchodạyvănhóa tại cáctrungtâmcònthiếunhiều.Chưa  
có phòng thí nghiệm, thực hành cho các môn học; 4) Các  
55  
VJE  
Tạp chí Giáo dục, Số 450 (Kì 2 - 3/2019), tr 48-56  
3. Kết luận  
Giáo dục STEM là một định hướng giáo dục có ý nghĩa  
QUY TRÌNH XÂY DỰNG...  
(Tiếp theo trang 62)  
quantrọngtrongviệctạohứngthú,độngcơhọctậpchoHV  
cũng nhưcógiá trị quantrọngtronghìnhthành và phát triển  
năng lực cho người học. Trong bài học STEM với chủ đề  
“Sinh trưởng của VSV - Nhân giống nấm men”, HV  
được đặt trước một vấn đề thực tiễn có liên quan đến các  
kiếnthức khoa học của phần VSVđể GQVĐ, HV được trải  
nghiệm thực tiễn, HV được tìm tòi, nghiên cứu những kiến  
thức thuộc các môn học có liên quan, HV được tham gia  
vào quy trình công nghệ dưới sự cố vấn, định hướng của  
GVđểGQVĐvàcóthểvậndụngcácgiảiphápvàocảibiến  
thực tiễn. Với phong cách học tập mới này, HV ở trung tâm  
GDNN-GDTX rất hứng thú, từ đó các em có thêm động cơ  
trong học tập cũng như phát triển được năng lực của bản  
thân. Tuy nhiên, việc dạy học môn học theo định hướng  
giáo dục STEM ở các trung tâm GDNN-GDTX còn gặp  
nhiều khó khăn, đòi hỏi sự nỗ lực cố gắng đồng bộ của cả  
lãnh đạo, GV và HV của trung tâm, trong đó đặc biệt là GV  
trong việc nâng cao sự hiểu biết về giáo dục STEM nói  
chung và sự đầu tư cả trí lực trong việc thiết kế và tổ chức  
dạy học các chủ đề theo định hướng giáo dục STEM.  
- Điều chỉnh chuẩn đánh giá NL môn Công nghệ:  
Trên cơ sở 6 mức độ phát triển từng thành tố của NL  
vừa được xác lập, tiến hành điều chỉnh lại chuẩn NL  
đã phác thảo.  
3. Kết luận  
Nghiên cứu và đề xuất quy trình xây dựng chuẩn  
đánh giá NL trong dạy học môn Công nghệ ở trường  
trung học phổ thông là cầnthiết để từ đây có thể xây dựng  
chuẩn đánh giá NL cho từng NL thành phần cụ thể trong  
NL công nghệ. Kiểm tra, đánh giá theo tiếp cận NL cần  
phải dựa trên chuẩn NL được xây dựng thì việc đổi mới  
theo hướng tiếp cận NL mới thành công. Quy trình xây  
dựng chuẩn đánh giá NL đã đề xuất sẽ góp phần tháo gỡ  
những khó khăn mà giáo viên gặp phải trong quá trình  
kiểm tra, đánh giá theo tiếp cận NL của HS.  
Tài liệu tham khảo  
[1] Nguyên Lộc - Nguyễn Thị Lan Phương (2015).  
Phương pháp, kĩ thuật xây dựng chuẩn đánh giá  
năng lực đọc hiểu và năng lực giải quyết vấn đề.  
NXB Giáo dục Việt Nam.  
[2] Bộ GD-ĐT (2018). Chương trình giáo dục phổ  
thông môn Công nghệ, ban hành kèm theo Thông tư  
số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26/12/2018 của Bộ  
trưởng Bộ GD-ĐT.  
[3] Vũ Phương Liên - Trần Lan Anh - Nguyễn Thị Như  
Ngọc (2018). Xây dựng bộ công cụ đánh giá năng  
lực thích ứng nghề nghiệp của giáo viên mầm non.  
Tạp chí Giáo dục, số 422, tr 15-22.  
[4] Ban Chấp hành Trung ương (2013). Nghị quyết số  
29-NQ/TW ngày 4/11/2013 về đổi mới căn bản toàn  
diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công  
nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị  
trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập  
quốc tế.  
Tài liệu tham khảo  
[1] Bộ GD-ĐT (2018). Chương trình giáo dục phổ  
thông - Chương trình tổng thể (Ban hành kèm theo  
Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26/12/2018  
của Bộ trưởng Bộ GD-ĐT).  
[2] Nguyễn Thanh Nga - Phùng Việt Hải - Nguyễn  
Quang Linh - Hoàng Phước Muội (2017). Thiết kế  
vàtổ chức chủ đề giáo dục STEM cho học sinh trung  
học cơ sở và trung học phổ thông. NXB Đại học Sư  
phạm TP. Hồ Chí Minh.  
[3] Bộ GD-ĐT (2018). Tài liệu hội thảo định hướng  
giáo dục STEM trong trường trung học.  
[4] Lê Xuân Quang (2015). Giáo dục STEM - một giải  
pháp trong xây dựng, phát triển chương trình giáo  
dục phổ thông sau năm 2015. Tạp chí Giáo dục và  
Xã hội, số đặc biệt tháng 6/2015, tr 37-39.  
[5] Bộ GD-ĐT (2018). Công văn số 3846/BGDĐT-  
GDTX ngày 28/8/ 2018 về hướng dẫn thực hiện  
nhiệm vụ năm học 2018-2019 đối với giáo dục  
thường xuyên.  
[5] Trần Khánh Đức (2015). Năng lực và tư duy sáng  
tạo trong giáo dục đại học. NXB Đại học Quốc gia  
Hà Nội.  
[6] Trần Khánh Đức (2017). Năng lực học tập và đánh  
giá năng lực học tập. NXB Đại học Bách khoa Hà  
Nội.  
[7] Nguyễn Văn khôi - Lê Ngọc Hòa (2015). Tiếp cận  
đào tạo năng lực - chiến lược phát triển năng lực  
thích ứng nghề cho sinh viên đại học ngành Công  
nghệ kĩ thuật điện. Tạp chí Khoa học Giáo dục, Viện  
Khoa học Giáo dục Việt Nam, số 113, tr 22-24.  
[6] Nguyễn Mậu Đức - Dương Thị Ánh Tuyết (2018).  
Dạy học chủ đề Axit - Bazo (hóa học 11) theo định  
hướng giáo dục STEM. Tạp chí Giáo dục, số đặc biệt  
tháng 8, tr 225-230.  
[7] Howard-Brown, B. - Martinez, D. (2012). Engaging  
Diverse Learners Through theProvision of STEM  
Education Opportunities. Southwest Educational  
DevelopmentLaboratory (SEDL).  
56  
pdf 9 trang Mãnh Khiết 15/01/2024 8100 Free
Bạn đang xem tài liệu "Thiết kế và tổ chức dạy học chủ đề “Sinh trưởng của vi sinh vật - Nhân giống nấm men” (Sinh học 10) theo định hướng giáo dục stem cho học sinh hệ giáo dục thường xuyên", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfthiet_ke_va_to_chuc_day_hoc_chu_de_sinh_truong_cua_vi_sinh_v.pdf