Tài liệu Giới thiệu về kĩ thuật Fish

A./ GIỚI THIỆU VỀ KĨ THUẬT FISH.  
FISH là một kỹ thuật cho phép hiển thị, nhận dạng, liệt kê và định vị các tế  
bào vi khuẩn. FISH không chỉ cho phép nhận ra các vi sinh vật quen thuộc, đã biết  
môi trường nuôi cấy đặc hiệu mà còn xác định được các vi sinh vật lạ, chưa biết rõ  
về điều kiện và môi trường nuôi cấy, do đó FISH có thể giúp chúng ta biết rõ về hệ  
thống phức tạp của các quần thể vi sinh vật. FISH kết hợp sự chính xác của các kỹ  
thuật di truyền phân tử và sự quan sát trực quan từ kính hiển vi, cho phép hình  
dung và nhận biết các tế bào vi khuẩn trong môi trường tự nhiên hay trong các mô  
bệnh. Độ nhạy và tốc độ thực hiện là những đặc điểm nổi bật đã giúp FISH trở  
thành công cụng hiến cứu hữu hiệu nhất.  
Trên thế giới, FISH được sử dụng trong việc mô tả quần thể vi sinh vật trong môi  
trường tự nhiên, nổi bật là hệ vi sinh vật ở trầm tích biển Wadden, tại vịnh hẹp ở  
Na-uy, sinh vật phù du ở sông hoặc biển, tuyết hồ trên núi cao, trong đất và trên bề  
mặt rễ thực vật. FISH đặc biệt phổ biến trong y học, ngoài mục đích xác định các  
mầm bệnh có nguồn gốc từ vi khuẩn (các bệnh về đường hô hấp, tiêu hóa, các bệnh  
lây qua đường máu, ung thư…) FISH còn được sử dụng để chẩn đoán thường qui  
sự bất thường về cấu trúc và số lượng nhiễm sắc thể (trước sinh và sau sinh) của  
thai nhi.  
Ở Việt Nam những nghiên cứu sử dụng FISH còn hạn chế, chủ yếu là ứng dụng  
trong chẩn đoán các bệnh về di truyền. Do đó việc đẩy mạnh phát triển kỹ thuật  
này ở nước ta trong tương lai sẽ mở ra một bước tiến mới trong việc nghiên cứu và  
chẩn đoán vi sinh vật so với phương pháp nuôi cấy cổ điển.  
B. PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN FISH  
I. QUY TRÌNH THỰC HIỆN.  
1.1. Tóm tắt qui trình thí nghiệm FISH  
FISH dò tìm và phát hiện ra các trình tự acid nucleic của các loài vi sinh vật  
mong muốn bằng cách dùng đầu dò được đánh dấu huỳnh quang lai đặc hiệu với  
các trình tự đích đặc hiệu bổ sung với nó bên trong tế bào nguyên vẹn (không cần  
phá vỡ tế bào).  
Quy trình thực hiện bao gồm các bước cơ bản sau:  
- Chuẩn bị mẫu và đầu dò.  
- Cố định mẫu.  
- Lai giữa đầu dò và trình tự đích đặc hiệu nằm trong tế bào.  
- Rửa mẫu để loại bỏ các đầu dò không được lai.  
- Dò tìm mẫu (bước này có thể bỏ qua nếu sử dụng đầu dò phát huỳnh quang  
trực tiếp).  
- Quan sát, hiển thị và lưu trữ kết quả.  
Hình 1: Các bước chính của phương pháp FISH  
1.2. Lựa chọn đầu dò đánh dấu huỳnh quang  
Lựa chọn đầu dò: Như đã được đề cập từ trước, các trình tự đích được sử dụng  
phổ biến trong FISH là các rRNA 16S vì chúng ổn định về mặt di truyền, số lượng  
bản sao nhiều và cấu trúc được bán bảo tồn. Các đầu dò oligonucleotide ứng với  
mỗi cấp độ phân loại, giữa các loài vi khuẩn nhân thật hay khuẩn cổ, cho đến các  
chi và loài cụ thể đều có thể thiết kế được dựa theo kích thước của rRNA đích  
Với sự tăng lên nhanh chóng của các đoạn thông tin di truyền trong các cơ  
sở dữ liệu chung và thương mại, đoạn gen rRNA 16S giúp cho việc nhận  
biết và định danh các loài vi sinh vật trở nên dễ dàng và chính xác. Điều này đặc  
biệt có ý nghĩa khi tiến hành phân lập hỗn hợp vi khuẩn tạp hay các sinh vật chưa  
từng nuôi cấy đặc hiệu. Số lượng lớn các bản sao rRNA 16S trong mỗi lần sao  
chép và trong các quá trình hoạt động trao đổi chất của tế bào luôn cung cấp đủ số  
lượng các trình tự đích để hiển thị được các dòng tế bào cụ thể, ngay cả các  
oligonucleotide chỉ gắn một nhãn huỳnh quang trong thí nghiệm FISH. Việc lựa  
chọn vị trí trình tự đích và quá trình thiết kế đầu dò phải được tiến hành với sự thận  
trọng cao nhất. Gần đây, các trình tự đích khác như rRNA 23S, rRNA 18S mà gần  
đây là mRNA cũng đã được xác định thành công bởi thí nghiệm FISH.  
Việc lựa chọn đầu dò để sử dụng trong FISH phải xem xét đến tính đặc hiệu, độ  
nhạy và khả năng xâm nhập vào tế bào. Một đầu dò oligonucleotide điển hình  
thì có chiều dài khoảng 15 đến 30 bp, được tạo ra bằng một thiết bị tổng hợp tự  
động. Các đầu dò ngắn thì dễ dàng tiếp cận được với trình tự đích, nhưng chúng lại  
mang được ít các trình tự đánh dấu. Trong FISH, các trình tự đích thông dụng nhất  
là rRNA 16S bởi vì chúng ổn định về mặt di truyền, cấu trúc được bán bảo tồn, và  
số lượng các bản sao nhiều. Do đó, các đầu dò được lựa chọn thường là các  
oligonucleotide rRNA 16S để đảm bảo sự liên kết bổ sung đạt hiệu quả cao nhất  
trong quá trình lai. Các đầu dò oligonucleotide huỳnh quang ngày nay đã có một số  
sản phẩm được thương mại hóa. Chúng có thể lưu trữ được ở-20OC trong tối  
khoảng vài tháng.  
Có nhiều cách để đánh dấu đầu dò, đánh dấu trực tiếp chất nhuộm huỳnh quang  
lên đầu dò là cách thông dụng nhất, nhanh nhất, rẻ nhất và dễ dàng thực hiện nhất  
bởi vì chúng không đòi hỏi phải tiến hành các bước dò tìm sau quá trình lai. Một  
hoặc nhiều phân tử thuốc nhuộm huỳnh quang được liên kết trực tiếp với  
oligonucleotide trong suốt quá trình tổng hợp thông qua liên kết amino ở đầu 5’  
của đầu dò, hoặc sử dụng enzyme Terminal transferase để gắn các  
nucleotide có đánh dấu huỳnh quang vào đầu 3’ của đầu dò . Ngoài ra, một số  
thuốc nhuộm như Flourescein-Isothiocyanate (FITC) nếu được gắn vào  
oligonucleotide theo một dải đệm 18 carbon thì có thể làm tăng cường độ tín hiệu  
so với các đầu dò được đánh dấu trực tiếp .Sự tăng lên về tín hiệu huỳnh  
quang cũng được biểu hiện trên những đầu dò được gắn nhãn chất huỳnh quang  
trên cả hai đầu, một phân tử ở đầu 3’ và 4 phân tử ở đầu 5’ được sử dụng như  
những miếng đệm thích hợp để ngăn chặn sự che khuất lẫn nhau của các tín hiệu  
huỳnh quang.  
Trong một số trường hợp, việc dò tìm theo cách gián tiếp thì có hiệu quả hơn.  
Người ta thấy rằng, có thể tăng độ nhạy của thí nghiệm FISH lên bằng cách kết  
hợp các đầu dò với những chất chỉ thị như Digoxygenin (DIG), sau đó chúng sẽ  
được dò tìm thông qua một chất phản huỳnh quang . Độ nhạy của FISH còn có thể  
được tăng lên đáng kể khi sử dụng enzyme nhằm khuếch đại tín hiệu.  
Phương pháp này được phát triển bởi Kagiyama và cộng sự (1993) khi nghiên cứu  
về di truyền học tế bào, sau đó được Yamaguchi và cộng sự thay đổi để áp dụng  
vào định danh vi khuẩn (1996). Ban đầu, mỗi oligonucleotide vẫn sẽ được đánh  
dấu bằng digoxygenin như trên, sau đó được dò tìm bằng một thể kháng  
digoxygenin, kháng thể này tiếp tục được liên kết với enzyme phosphatase kiềm.  
Enzyme này chuyển hóa HNPP (2-hydroxy-3-naphtoic acid-2’-phenylanilide  
phosphate) thành dạng Dephosphoryl, thểnày tạo ra màu huỳnh quang đỏ sáng khi  
kết hợp với Fast Red TR. Tín hiệu huỳnh quang thu được theo cách thực hiện này  
có cường độ mạnh hơn 8 lần so với tín hiệu của các oligonucleotide chỉ gắn nhãn  
huỳnh quang duy nhất. Phương pháp khuếch đại tín hiệu bằng enzym ngày càng  
được cải tiến tốt hơn nhờ vào một kỹ thuật được gọi là “hệ thống khuếch đại tín  
hiệu Tyramide” (TSA) . Hệ thống TSA làm tăng cường độ tín hiệu lên  
khoảng 10 – 20 lần. Tuy nhiên, số lượng các tế bào được lai thành công đã giảm đi  
một cách rõ ràng so với việc sử dụng đầu dò thông thường được đánh dấu duy nhất  
một chất huỳnh quang. Điều này xảy ra là do quá trình xâm nhập của các chất cao  
phân tử bào trong tế bào vi khuẩn bị hạn chế hơn những chất nhuộm thông thường.  
Mặc dù enzyme lysozyme đã giúp cải thiện tính thấm của các đầu dò vào trong tế  
bào, dẫn tới cường độ tín hiệu được nâng cao, nhưng phương pháp này dường như  
không áp dụng được với một số loài vi khuẩn Gram dương, do đó phương pháp  
này chủ yếu được dùng để phân tích các quần thể vi khuẩn tạp.  
Hình 2: Đánh dấu trực tiếp (a) và (b); đánh dấu gián tiếp sử dụng DIG (c),  
TSA (d) hay đầu dò polyribonucleotide (e)(Moter et al., 2000).  
Có lẽ phương pháp hiệu quả nhất là kết hợp việc sử dụng các đầu dò  
polyribonucleotide, được đánh dấu với digoxygenin, đồng thời sử dụng hệ thống  
khuyếch đại tín hiệu tyramide (TSA). Kỹ thuật này đã được ứng dụng thành công  
khi dò tìm và phát hiện trực quan các độc tố trong Listeria(Hình 2e) .  
Lựa chọn thuốc nhuộm huỳnh quang: Các loại thuốc nhuộm huỳnh quang  
đều có các mức năng lượng kích thích và phát xạ tối đa khác nhau nên cho phép  
phát hiện đồng thời hai hoặc nhiều vi sinh vật khi chỉlai một lần duy nhất. Cùng  
với việc quan sát trực quan bằng kính hiển vi đa màu FISH, các bộ lọc màng nhiều  
dải cũng có thể được sử dụng. Các chất huỳnh quang tổng hợp có những điểm phát  
xạ sắc nét khác nhau nên sẽ loại bỏ được hiện tượng các phổ huỳnh quang chồng  
lên nhau giữa các đầu dò, đồng thời hạn chế các vấn đề về màu nền và sự dây,  
nhem màu. Chất màu huỳnh quang có màu sáng nhất và bền quang học nhất nên sử  
dụng để dò tìm các trình tự đích mà lượng mẫu rất ít.  
Bảng 1: Một số thuốc nhuộm được sử dụng để dò tìm vi sinh vật bằng phương  
pháp FISH  
Bước sóng có thể thay đổi ít nhiều tùy thuộc vào nhà sản xuất. Quang phổ phát  
xạ có thể thay đổi trong các dung môi khác nhau hoặc đặc tính của mẫu.  
*FITC : Fluorescein–isothiocyanate  
**FluoXE : 5-(-6-)carboxyfluorescein–N-hydroxysuccimideester  
***TRITC : Tetramethyl–rhodamine–isothiocyanate  
1.3. Chuẩn bị mẫu và xử lý sơ bộ  
Trước khi tiến hành lai, mẫu chứa vi sinh vật và các đầu dò phải được ngâm  
trong các hợp chất tạo tủa như ethanol hoặc methanol, hợp chất tạo được liên kết  
ngang như aldehyde hoặc hỗn hợp các chất trên để các đầu dò huỳnh quang có thể  
thấm vào bên trong tế bào và bảo vệ các rRNA không bị biến tính bởi các RNAse  
nội bào. Các điều kiện và phương pháp cố định mẫu có thể khác nhau tùy thuộc  
vào vi sinh vật đích và loại mẫu. Quá trình cố định mẫu tối ưu sẽ đưa được số  
lượng lớn các đầu dò thấm được vào tế bào, giữ lại tối đa số lượng các trình tự đích  
RNA, đồng thời bảo quản toàn vẹn cấu trúc tế bào và hình thái của chúng. Cố định  
đầu dò vào mẫu hiệu quả sẽ ảnh hưởng rất tích cực đến kết quả của FISH, nhưng  
việc cố định rất khó để có thể tối ưu hóa. Thông thường một lượng dung dịch  
formaldehyde hoặc paraformaldehyde 3-4% (v/v) thì phù hợp cho hầu hết các loại  
vi khuẩn Gram âm. Đối với các vi khuẩn Gram dương, sử dụng ethanol (50%), hỗn  
hợp ethanol/formalin (tỉlệ9:1 v/v) hoặc xử lý nhiệt là những biện pháp thông dụng  
nhất; ngoài ra có thể bổ sung thêm bước xử lý sơ bộ để tăng tính thấm của đầu dò.  
Khi áp dụng phương pháp FISH trên mẫu chứa nhiều đoạn mô khác nhau, các  
quá trình tiền xử lý bắt buộc phải được áp dụng để tăng khả năng tiếp cận của các  
đầu dò đối với các trình tự đích tương ứng, đồng thời hạn chế được các liên kết  
không đặc hiệu. Gần đây, FISH đã được áp dụng trên các mẫu mô tế bào được  
ngâm trong dung dịch keo lạnh. Trong các chất dẻo này, sự hiển thị của vi  
khuẩn và sự bảo vệ cấu trúc của mô của các tế bào rất hoàn chỉnh mà không hề có  
bất cứ quá trình tiền xử lý nào.  
1.4. Lai giữa đầu dò và trình tự đích đặc hiệu  
Trước khi tiến hành lai, các tế bào sau giai đoạn xử lý kể trên được cố định vào  
một mặt kính. Để quá trình gắn mẫu vào mặt kính được tốt hơn, người ta khuyên  
nên xử lý bề mặt kính trước bằng cách phủ lên mặt kính một lớp chất tráng kính  
ngoài. Các hóa chất được sử dụng cho hiệu quả tốt là gelatin , poly-L-lysine hay  
các hợp chất tạo muối.  
Quá trình lai phải được thực hiện trong những điều kiện hết sức nghiêm ngặt  
nhằm kết hợp chính xác các đầu dò đánh dấu huỳnh quang với trình tự đích bổ  
sung với chúng. Đối với thao tác quan trọng nhất trong thí nghiệm FISH, quá trình  
làm nóng sơ bộ các phân tử lai phải được thực hiện để các đầu dò huỳnh quang kết  
hợp bổ sung với các trình tự RNA đích tương ứng. Sự chính xác khi bắt cặp bổ  
sung có thể được điều khiển bằng cách thay đổi nồng độ formamide hay nhiệt độ  
của quá trình. Formamide sẽ làm giảm nhiệt độ nóng chảy của phân tử bằng cách  
làm suy yếu liên kết hydro, từ đó cho phép tiến hành quá trình nhuộm ở nhiệt độ  
thấp những vẫn đảm bảo độ chính xác cao.  
Quá trình lai xảy ra trong môi trường tối ẩm, nhiệt độ vào khoảng 37 đến 50oC.  
Thời gian lai có thể kéo dài từ 30 phút đến vài giờ. Sau đó, rửa mẫu bằng nước cất  
để loại bỏ các đầu dò không liên kết được với trình tự đích. Cuối cùng, rửa lại với  
nước một lần nữa, sấy và cố định các phân tử lai, có thể bổ sung thêm các chất  
chống phai màu.  
1.5. Quan sát và xử lý tín hiệu  
Để có thể quan sát được các tín hiệu huỳnh quang đa sắc trong thí nghiệm  
FISH, kính hiển vi thông thường sẽ được trang bị thêm một bộ lọc dải hẹp nhiều  
tần. Ngoài ra, để thu nhận và phân tích được các hình ảnh đó cần phải sử dụng một  
máy ảnh CCD (charged coupled device) kết hợp với phần mềm phân tích xử lý ảnh  
kỹ thuật số. Đây là hệ thống cảm biến chính xác nhất hiện nay và nó rất hữu dụng  
khi quan sát những mẫu vi sinh vật quan trọng, những nơi có cường độ tín hiệu  
thấp. Hệ thống này cũng đã được sử dụng để kiểm tra số lượng các tế bào vi sinh  
vật và xác định hoạt tính các dòng tế bào đơn trong màng sinh học thông qua  
việc xác định hàm lượng rRNA . Gần đây, phương pháp phân tích sự phân bố  
không gian của vi khuẩn đã được cải tiến hơn nữa khi sử dụng kính hiển vi quan  
sát huỳnh quang dải rộng. Một loại kính hiển vi khác được sử dụng cho thí  
nghiệm FISH là kính hiển vi quét laze đồng tiêu (CLSM). Thông qua việc hạn chế  
hệ thống tín hiệu trong những khoảng hẹp của đối tượng nghiên cứu, các tín hiệu  
huỳnh quang bị lệch tiêu sẽ bị loại bỏ, tạo ra những hình ảnh rõ nét. Điều này rất  
hữu dụng cho mẫu có độ phân bố dày đặc, như các lớp bùn, màng sinh học hay  
đoạn mô.  
.
Hình 4. Kính hiển vi quét laze đồng tiêu  
II. NHỮNG TRỞ NGẠI ĐỐI VỚI KỸ THUẬT FISH  
2.1. Kết quả không chính xác  
2.1.1. Các chất tự phát huỳnh quang  
Khi gặp phải những chất có khả năng tự phát huỳnh quang, phương pháp FISH  
sẽ có nhiều hạn chế. Vấn đề khó khăn nhất chính là khả năng tự phát huỳnh quang  
của bản thân vi sinh vật. Những trở ngại này đều đã được kiểm chứng trên nhiều  
loài nấm mốc hay nấm men khác nhau , trên một số loại vi khuẩn: Pseudomonas ,  
Legionella , Rhodospirillum centenum, vi khuẩn lam và gần đây nhất là sự thí  
nghiệm trên các loại vi khuẩn cổ như methanogenes đều thể hiện những phức tạp  
của FISH khi phân tích môi trường vi sinh vật.  
Hình 4: Sự tự phát huỳnh quang của Paraformaldehyde trong các tế bào Candida  
albicans(Moter et al., 2000)  
2.1.2. Đầu dò thiếu tính đặc hiệu  
Độ chính xác và độ tin cậy của FISH phụ thuộc nhiều vào tính đặc hiệu của các  
đầu dò oligonucleotide. Thiết kế cẩn thận và đánh giá giới hạn của các đầu dò mới  
là điều thiết yếu. Điều quan trọng cần lưu ý rằng mỗi một oligonucleotide chỉ phù  
hợp với duy nhất một dữ liệu thông tin mà nó có chung nguồn gốc. Do sự báo cáo  
thiếu chính xác thông tin của các trình tự và sự mở rộng nhanh chóng của cơ sở dữ  
liệu, nên các trình tự đầu dò cần được kiểm tra một cách thường xuyên để cập  
nhật các thông tin mới nhất. Khi phân lập các vi sinh vật khó nuôi cấy hoặc chưa  
biết môi trường đặc hiệu, việc cập nhật thông tin các trình tự tỏ ra rất hữu ích để  
kiểm tra tính đặc hiệu trước khi lai thử nghiệm như các phương pháp lai dot-blot  
2.2. Kết quả âm tính  
2.2.1. Số lượng đầu dò quá ít  
Cường độ tín hiệu thấp có thể do sự thâm nhập không đủ của đầu dò vào bên  
trong tế bào vi khuẩn. Các đầu dò polyribonucleotide khi thấm vào tế bào vi sinh  
vật gram âm thường không gặp phải bất cứ vấn đề nhỏ nào. Đối với vi sinh vật  
gram dương, đặc biệt là những đầu dò có trình tự dài hoặc trung bình thì sử dụng  
các acid mycolic kết hợp với cố định đặc hiệu và tiền xử lý có thể rất cần thiết.  
2.2.2. Những cấu trúc phức tạp của đầu dò hay trình tự đích  
Do cấu trúc ba chiều của rRNA nên không phải tất cả các chuỗi trình tự đích  
đều tiếp cận được với các đầu dò tương ứng. Cấu trúc vòng hoặc kẹp tóc cũng như  
sự tương tác giữa rRNA và protein cản trở dẫn đến sự cảm biến khác nhau của các  
đầu dò oligonucleotide. Điều này giải thích tại sao các đầu dò sử dụng tốt trong các  
phương pháp lai thông thường có giai đoạn biến tính RNA hoặc DNA đã không  
cho kết quả khả quan trong FISH. Một hệ thống nghiên cứu nhằm giải quyết  
vấn đề này đã được công bố bởi Fuchs và cộng sự (1998). Các nhà nghiên cứu đã  
tạo ra hơn 200 đầu dò oligonucleotide, xác định cụ thể những vị trí khác nhau trên  
16S rRNA của E.coli, rồi sử dụng phương pháp flow cytometry đo cường độ tín  
hiệu của chúng bằng thí nghiệm FISH. Dựa trên đầu dò phát sáng nhất, các  
oligonucleotide được phân thành 6 mức độ sáng khác nhau và dựng sẵn một biểu  
đồ thể hiện khả năng tiếp cận của 16S rRNA E.coli. Kể từ khi rRNA 16S được bảo  
quản tốt hơn, biểu đồ này có thể đơn giản việc thiết kế đầu dò hợp lý không chỉ đối  
với E.coli, mà còn cho tất cả các vi sinh vật khác. Tuy nhiên, theo một số nhà  
nghiên cứu khác, đây là điều bắt buộc để đánh giá và tối ưu hóa thiết kế tất cả các  
đầu dò tương ứng với các vi sinh vật và thích nghi với những ảnh hưởng tiêu cực  
trước khi được áp dụng trên các mẫu hỗn tạp và chưa xác định được thành phần.  
2.2.3. Hàm lượng rRNA thấp  
Mặc dù thông thường rất phong phú, nhưng hàm lượng rRNA của các tếbào vi  
khuẩn khác nhau rất đáng kể không chỉ giữa các loài, mà còn có sự khác nhau giữa  
các tế bào của cùng một chủng tùy theo các đặc điểm sinh lý liên quan trực tiếp  
đến tốc độ tăng trưởng của chúng  
2.2.4. Ảnh chụp bị mất màu  
Nhiều chất nhuộm huỳnh quang bị phai màu nhanh chóng theo sự kích thích  
của bước sóng ánh sáng, dẫn đến không thể phục hồi những chỗ hư hỏng. Những  
lần phơi sáng chỉ từ vài giây đến vài phút nhưng có ảnh hưởng rất quan trọng, đặc  
biệt với ảnh chụp qua kính hiển vi. Để khắc phục những khó khăn này, việc sử  
dụng bộ lọc dải hẹp, thuốc nhuộm cyanine bền quang học và các công cụ chống  
III./ Biện pháp khắc phục  
Sử dụng đầu dò vi khuẩn : Cách kiểm soát tốt nhất cho những kết quả bị âm  
tính về khía cạnh phương pháp là sử dụng một đầu dò vi khuẩn. Nếu tiến hành lai  
với một đầu dò phổ biến cho được kết quả khả quan trong FISH, thì việc cố định,  
sự thẩm thấu và hàm lượng rRNA của vi khuẩn không còn là chỉ số hạn chế.  
EUB338 là đầu dò thường được sử dụng cho mục đích này. Tuy nhiên, các  
phân tích gần đây đã chỉ ra rằng một số ngành vi khuẩn bao gồm Planctomycetales  
và Verhowrucomicrobia vẫn còn bị thiếu đầu dò này . Vì vậy, sử dụng một tập  
hợp nhiều đầu dò vi khuẩn là điều rất cần thiết có một cái nhìn toàn diện hơn khi  
phân tích các quần thểvi khuẩn phức tạp. Để kiểm soát những liên kết không đặc  
hiệu giữa các đầu dò của vi khuẩn nhân thật với 16S rRNA đích hay với các thành  
phần khác của tế bào so với acid nucleic, việc bổ sung đầu dò có tên là NON338  
có thể được sử dụng và nó không phải đưa ra bất cứ tín hiệu nào trong FISH.  
C. ỨNG DỤNG CỦA KĨ THUẬT FISH  
1. Hệ vi sinh vật trong nước thải  
Ardern và Lockett (1914) đã phát triển hệ thống hoạt hóa bùn đầu tiên để thanh  
lọc nước thải tại Manchester. Tuy nhiên, vai trò của quần thể vi sinh vật trong quá  
trình này vẫn chưa được hiểu hết. Bởi vì những kỹ thuật nuôi cấy thông thường đã  
được thực hiện là quá chọn lọc cung cấp một bức tranh toàn diện và đáng tin cậy  
của toàn bộ mạng lưới vi khuẩn , phân tích tập hợp các phân tử rRNA đã  
tìm thấy nhiều ứng dụng rộng rãi cho kỹ thuật phân tích của một số môi trường:  
bình phản ứng sinh học hay nhà máy xử lý chất thải. Các chuỗi trình tự được tạo ra  
bằng những kỹ thuật phân tích phân tử như kỹ thuật PCR đã được sử dụng tạo ra  
các đầu dò oligonucleotide mới cho FISH để nghiên cứu các quần thể vi khuẩn,  
như trong bùn hoạt tính. Gần đây, vào năm 1999 Bond và cộng sự đã  
tiến hành xác định các nhóm vi khuẩn trong bùn với sự tăng cường loại bỏ photpho  
sinh học. Một số nhóm nhà nghiên cứu khác thì tập trung vào Actinomycetes có  
chứa acid mycolic được cho là có chứa nhiều sợi nhỏ tạo bọt trong nhà máy xử lý  
nước thải. Ngoài các cá thể của nhóm khuẩn cổ, đặc biệt là  
methanogen (một loại khuẩn cổ kị khí có khả năng tạo khí methal), đã được tìm  
thấy bằng phương pháp FISH trong quá trình phân hủy kị khí và trong hạt bùn nhỏ,  
mặc dù khả năng tự phát huỳnh quang của chúng rất mạnh. Gần đây, sự  
kết hợp giữa FISH và bộ vi cảm biến cho phép phân tích đồng thời quần thể vi  
khuẩn và các hoạt động trao đổi chất, qua đó phát hiện ra các vi khuẩn kị khí nằm  
trong các khe nhỏ thiếu oxy trong môi trường hiếu khí.  
2. Vi khuẩn cộng sinh  
Hầu hết các vi sinh vật cộng sinh bắt buộc đều chưa tiến hành nuôi cấy được.  
Sử dụng rRNA 16S, chúng có thể được định danh và phân cấp phát sinh loài. Việc  
khoanh vùng vi sinh vật trong những bộ phận khác nhau của vật chủ bằng FISH có  
thể chứng minh được tính chất cộng sinh của chúng, như Amann và cộng sự (1991)  
đã làm, người đã xác định được vi khuẩn nội cộng sinh chưa nuôi cấy thuộc chi  
Holosporatrên lông của Paramecium caudatum. Từ khi loài Holospora được tìm  
thấy trong nhân của các vi sinh vật có lông mịn, nó có thể được nhận biết rõ ràng  
vi khuẩn tiêu hóa hiện diện trong các túi thức ăn. Tương tự, FISH cũng được sử  
dụng để chứng minh Paramecium caudatum cũng chứa Caedibacter caryophila,  
một “kẻ” tiêu diệt vi sinh vật nội cộng sinh mà sự phát triển có liên quan đến loài  
Rickettsia. Gần đây, những vi khuẩn nội cộng sinh mới cũng liên quan đến  
Rickettsia, điều này đã được chứng minh trên các loài Acanthamoeba[44]. Có một  
điều thú vị là các giống amip tương ứng đều đã được phân lập từ các lớp mô mỏng  
giác mạc người. Sarcobium lyticum, một loại vi khuẩn có liên quan mật thiết đến  
chi Legionella, cũng đã được chứng minh có trong amip được lấy từ mẫu nước bọt  
của bệnh nhân viêm phổi. Những chứng minh này cho thấy rằng amip không  
những được xem là nguồn gây bệnh cho con người mà còn là vật truyền cho nhiều  
loại vi khuẩn cộng sinh khác nhau. Đây có thể là những trường hợp các vi khuẩn  
nội cộng sinh không bắt buộc như Legionella pneumophila đã được tìm thấy trong  
tế bào Acanthamoeba castellani và trong Tetrahymena pyriformiscó lông  
Trong các môi trường nước nghèo dinh dưỡng, Legionellae có thể sống sót  
nhưng ở trạng thái vô hoạt, trong đó chúng không bị phát hiện bằng các kỹ thuật  
nuôi cấy thông thường. Phục hồi những tế bào vô hoạt trở lại trạng thái hoạt động  
đã được điều khiển thành công bằng FISH trong tế bào chủ Acanthamoeba  
castellanii. Những nghiên cứu này có một tác động to lớn đối với ngành dịch  
tễ học của những mầm bệnh này.  
Sử dụng các cách thức lai tại chỗ (ISH) khác nhau, vi khuẩn nội cộng sinh đã  
được tìm thấy trong mang của động vật thân mềm hai vỏ Solemya reidii.. Sinh vật  
này đã xử lý như một khuôn mẫu để đánh giá kỹ thuật cố định metacrylate và tách  
acetone nhằm tăng cường độ tín hiệu và nâng cao độ nhạy của ISH trên các đoạn  
mô. Gần đây, Methanobrevibacter– một loài có liên quan với vi khuẩn cổ–  
đã được tìm thấy bằng FISH trong một lượng nội bào của Reticulitermes speratus,  
một loài mối cánh được thu thập từ các quần đảo Nhật bản .  
3. FISH trong y học  
3.1. Các quần thể vi khuẩn phức tạp  
a. Khoang miệng  
Phân tích các quần thể bằng FISH đã thể hiện sự đặc biệt hữu ích trong việc mô  
tả các hỗn hợp vi khuẩn phổ biến hay các hệ vi sinh vật nhiễm tạp. Những phân  
tích này cho thấy trong khoang miệng người có chứa hơn 300 loài vi khuẩn khác  
nhau, trong đó có nhiều loài rất phức tạp khi tiến hành nuôi cấy hoặc chưa từng  
được nuôi cấy. Các bệnh về răng miệng như viêm răng hay viêm lợi có liên quan  
đến các mạng lưới vi khuẩn đặc thù này. Sử dụng kỹ thuật nuôi cấy chuyên biệt  
sẽ chỉ có được sự xem thường đối với đa dạng vi sinh vật. Những lợi ích khi sử  
dụng kỹ thuật FISH đã được thể hiện trên những vi khuẩn kị khí gram âm, như  
Porphyromonas gingivalis, Bacterroides forsythusvà Prevotella intermediatrong  
thành phần mảng bám răng của bệnh nhân viêm răng. Phân tích sâu hơn  
trên môi trường phân tử cho thấy một sự đa dạng không ngờ của các loại xoắn  
khuẩn trong khoang miệng của các bệnh nhân cùng với sự phát triển nhanh chóng  
của viêm răng. Số lượng lớn các vi khuẩn hình xoắn và sự đa dạng hình thái  
của chúng.  
Hình 6. Nhuộm huỳnh quang các lớp vi khuẩn từ bệnh nhân viêm răng. (a) lai  
với các đầu dò vi khuẩn là EUB338 gắn nhãn FITC (xanh lá cây) để hiển thị hình  
thái khác nhau của vi khuẩn ở cấp độ đơn bào và TRE I gắn nhãn Cy3 (vàng) để dò  
tìm các loài phát sinh thuộc xoắn khuẩn nhóm I, hầu hết chưa được nuôi cấy. (b)  
trên cùng một đối tượng, tiến hành lai với đầu dò TRE I gắn nhãn FITC (xanh lá  
cây) và TRE II gắn nhãn Cy3 (vàng) dò tìm xoắn khuẩn trong khoang miệng thuộc  
các loài phát sinh nhóm II . Cần lưu ý rằng sự phân loại xoắn khuẩn theo các nhóm  
phát sinh loài dựa trên những dữ liệu của rRNA 16S .  
Hình 7.  
FISH quan sát trên một màng sinh học sử dụng đầu dò EUB338 và TRE I. (a) độ  
phân giải thấp với chất mang FluoX Cy3.  
(b) độ phóng đại cao hơn, các xoắn khuẩn nhóm I (màu vàng), bao quanh là các vi  
khuẩn khác (màu xanh lá cây), các tế bào máu (đen) được nhóm lại xung quanh  
một lõi dày đặc các vi khuẩn ở trung tâm.  
b. Dạ dày – ruột  
Vì ruột là phần vi sinh vật phát triển nhiều nhất trong cơ thể con người, sự khỏe  
mạnh của hệ ruột và sự hình thành các hệ sinh vật bám dính trên thành ruột người  
là điều cần quan tâm nhất. Một lần nữa, các kỹ thuật nuôi cấy thông thường lại  
không đánh giá chính xác được số lượng vi khuẩn . Hiện nay, phương pháp  
FISH khi nghiên cứu các hệ vi sinh vật đường ruột ở người thường chỉ nghiên cứu  
hạn chế ở nguồn phân mà thôi. Số lượng Bifidobacteriumvà vi khuẩn gây hư hỏng  
thực phẩm Ramulus flavonoidtrong các mẫu phân được ước tính bằng cách sử  
dụng các đầu dò đặc hiệu tương ứng với các chủng, loài vi sinh vật . Sự  
biến thiên số lượng vi khuẩn, bao gồm các chủng Bacteroides và Clostridium ssp.,  
Streptococcus, Lactococcusvà nhóm Clostridium coccoides-Eubacterium rectale  
trong phân người được theo dõi trong khoảng thời gian 8 tháng . Kỹ thuật này  
đã được cải tiến tốt hơn bằng cách phát triển khả năng thu nhận hình ảnh tự động  
và các phần mềm phân tích cho phép đếm bằng kính hiển vi các nhóm vi khuẩn  
đường ruột một cách nhanh và chính xác. Gần đây, sự khác biệt về phát triển  
của vi khuẩn đường ruột của trẻ sơ sinh bú sữa mẹ và sữa bột đã được nghiên cứu  
. Tuy nhiên, sự phân bố không gian sinh lý của hệ vi khuẩn đường ruột người  
và màng sinh học đường ruột vẫn chưa được hiểu rõ hết.  
Hiện nay, một số phương pháp đã được áp dụng thành công trên động vật để  
nghiên cứu sự phân bố không gian của vi khuẩn đường ruột và để phát hiện toàn bộ  
mầm bệnh trong môi trường phức tạp này. E.coli đã được phát hiện trong phần  
đông lạnh của ruột lớn chuột bằng cách sử dụng các đầu dò ứng với các vùng đặc  
hiệu của 23S rRNA. Trong nghiên cứu này, các tế bào E.coli được quan sát trong  
chất nhờn nằm trên các tế bào biểu bì mà không hề có sự gắn kết trực tiếp nào đến  
các tế bào này . Các xoắn khuẩn của loài Brachyspira/Serpulina đã được hiển  
thị chính xác trong ruột lợn mắc bệnh lỵ (Boye et al., 1998). Brachyspira pilosicoly  
Tải về để xem bản đầy đủ
docx 30 trang myanh 30740 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tài liệu Giới thiệu về kĩ thuật Fish", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • docxtai_lieu_gioi_thieu_ve_ki_thuat_fish.docx