Giáo trình Vi sinh công nghiệp (Phần 1)

LỜI NÓI ĐẦU  
Vi sinh công nghiệp là một môn học thuộc khối kiến thức cơ sở chuyên ngành ,  
ngành Chế biến và bảo quản thực phẩm. Mục tiêu của môn học là học sinh có kiến thức  
về hình thái, cấu tạo, sinh sản, sinh lý, sinh hoá của vi sinh vật và những ứng dụng của vi  
sinh vật trong chế biến và bảo quản lƣơng thực, thực phẩm.  
Với mục tiêu trên, chúng tôi biên soạn Giáo trình Vi sinh công nghiệp. Nội dung  
của giáo trình sẽ đƣợc trình bày một cách ngắn gọn, đầy đủ và bám sát với chƣơng trình  
môn học, bao gồm các phần sau:  
Chương I: Hình thái, cấu tạo, sinh sản của vi sinh vật trình bày về đặc điểm  
hình thái, cấu tạo và sinh sản của các loài vi sinh vật phổ biến trong thực phẩm nhƣ: vi  
khuẩn, nấm men, nấm mốc, … hƣớng đến nhận biết và phân loại vi sinh vật.  
Chương II: Sinh lý của vi sinh vật giới thiệu chức năng sống của vi sinh vật bao  
gồm: quá trình trao đổi chất, quá trình sinh trƣởng, phát triển và mối quan hệ tƣơng tác  
của vi sinh vật với môi trƣờng bên ngoài.  
Chương III: Các quá trình sinh hoá của vi sinh vật trình bày những quá trình vi  
sinh quan trọng liên quan đến chế biến và bảo quản lƣơng thực thực phẩm nhƣ: quá trình  
lên men, thối rữa.  
Chương IV: Vi sinh vật trong tự nhiên giới thiệu đặc điểm và sự phân bố của vi  
sinh vật trong tự nhiên: đất, nƣớc, không khí, con ngƣời.  
Chương V: Vi sinh vật trong lương thực thực phẩm trình bày các nguồn lây  
nhiễm vi sinh vật vào thực phẩm, các loài vi sinh vật thƣờng gặp và biện pháp phòng trừ  
vi sinh vật gây hại thực phẩm.  
Chúng tôi hy vọng giáo trình vi sinh công nghiệp này sẽ là tài liệu hữu ích cho  
việc giảng dạy, học tập, nghiên cứu môn học Vi sinh công nghiệp của giáo viên, học sinh  
ngành Chế biến và bảo quản thực phẩm. Đây còn là tài liệu tham khảo đối với học sinh  
ngành học khác có giảng dạy môn Vi sinh công nghiệp.  
Trong quá trình biên soạn, vì thời gian có hạn nên giáo trình này chắc chắn không  
tránh khỏi thiếu sót, tác giả xin tiếp nhận và chân thành cảm ơn những ý  
kiến đóng góp của độc giả để lần tái bản sau đƣợc hoàn thiện hơn. Mọi ý kiến góp ý xin  
vui lòng gửi về khoa Công nghệ Lƣơng thực thực phẩm - Trƣờng Cao đẳng Công nghệ  
và Kinh tế Hà nội.  
Tác giả  
Nguyễn Thị Khả  
CHƢƠNG I: HÌNH THÁI, CẤU TẠO, SINH SẢN CỦA VI SINH VẬT  
Vi sinh vật là những sinh vật vô cùng nhỏ bé mà mắt thƣờng không nhìn  
thấy đƣợc. Muốn quan sát đƣợc chúng ta phải sử dụng kính hiển vi.  
Các dạng vi sinh vật khác nhau không những về hình dạng, kích thƣớc mà  
khác nhau cả về cấu tạo và đặc tính sinh học. Các dạng vi sinh vật thƣờng gặp là:  
vi khuẩn, nấm men, nấm mốc, xạ khuẩn, vi rút, thực khuẩn thể, một số loại tảo.  
I. Vi khuẩn  
Vi khuẩn là những sinh vật đơn bào, cấu tạo đơn giản (không có màng nhân)  
và kích thƣớc nhỏ bé. Mỗi một tế bào vi khuẩn có thể hoạt động sống độc lập.  
1. Hình dạng và kích thƣớc của vi khuẩn  
Vi khuẩn có nhiều hình dạng và kích thƣớc khác nhau. Căn cứ vào hình  
dạng của vi khuẩn ngƣời ta có thể chia chúng thành các nhóm sau: Cầu khuẩn, trực  
khuẩn, xoắn khuẩn.  
1.1. Cầu khuẩn  
Trong thiên nhiên cầu khuẩn rất phổ biến. Đại đa số cầu khuẩn có dạng hình  
cầu, có đƣờng kính từ 0,5-1µm (µm – micromet, 1 µm = 10-6m).  
Đặc tính chung của cầu khuẩn:  
- Tế bào hình cầu có thể đứng riêng rẽ hay liên kết với nhau  
- Có nhiều loài có khả năng gây bệnh cho ngƣời và gia súc  
- Không có cơ quan di động (tiên mao)  
- Không sinh bào tử.  
Tuỳ theo phƣơng hƣớng của mặt phẳng phân chia và cách liên kết giữa các  
tế bào mà hình thành các nhóm cầu khuẩn sau:  
2
* Đơn cầu khuẩn (Monococcus):  
Thƣờng đứng riêng rẽ từng tế bào một,  
đa số thuộc loại hoại sinh, chúng  
thƣờng có nhiều trong đất, nƣớc và  
không khí.  
* Song cầu khuẩn (Diplococcus): Tế  
bào phân cách theo mặt phẳng xác định  
và dính với nhau thành từng đôi một.  
Một số loài có khả năng gây bệnh nhƣ  
giống neisseria, meningitidis.  
Hình 1.1. Song cầu khuẩn và liên cầu  
khuẩn  
* Liên cầu khuẩn (Steptococcus):  
Tế bào phân chia theo một mặt  
phẳng xác định và đính với nhau  
thành từng chuỗi dài, có nhiều  
trong tự nhiên. Chúng có nhiều  
ứng dụng trong công nghiệp thực  
phẩm: chế biến sữa chua, sản xuất  
axit lactic…Ngoài ra cũng có  
nhiều loài gây bệnh.  
* Tứ cầu khuẩn (Tetracoccus): Tế  
bào phân cách theo hai mặt phẳng  
vuông góc, thƣờng liên kết với  
Sarcina  
nhau thành nhóm gồm bốn tế bào  
một. Chúng thƣờng gây bệnh cho  
ngƣời, động vật.  
Hình 1.2. Tứ cầu khuẩn và bát cầu khuẩn  
* Bát cầu khuẩn (Sarcina): phân  
chia theo ba mặt phẳng vuông góc  
tạo thành 8 tế bào xếp 2 hàng nhƣ  
gói bánh vuông vắn.  
3
* Tụ cầu khuẩn (Staphylococcus):  
Các tế bào liên kết với nhau thành  
đám, trông nhƣ chùm nho. Chúng  
phân cách theo một mặt phẳng bất  
kỳ  
Hình 1.3. Tụ cầu khuẩn  
1.2.Trực khuẩn  
Trực khẩn là tên chung chỉ tất cả các loài vi khuẩn có hình que. Kích thƣớc  
thƣờng từ (0,5-1,0) x (1-4) µm. Thƣờng gặp các loài trực khuẩn sau:  
* Bacillus: Thƣờng là trực khuẩn Gram (+), sinh  
bào tử. Chiều ngang của bào tử không vƣợt quá  
chiều ngang của tế bào vì thế khi tạo thành bào  
tử tế bào không thay đổi hình dạng, chúng  
Bacillus  
thƣờng thuộc loài hiếu khí hoặc kỵ khí không  
bắt buộc. Các tế bào có thể đứng riêng rẽ hoặc  
liên kết với nhau.  
* Pseudomonas: Trực khuẩn Gram (-), không  
Pseudomonas  
sinh bào tử, có một tiên mao (hoặc một chùm) ở  
một đầu.  
Hình 1.4. Trực khuẩn  
* Clostridium: Thƣờng là trực khuẩn Gram (+),  
sinh bào tử. Kích thƣớc vào khoảng (0,4-1) x (3-  
8)µm, chiều ngang của bào tử thƣờng lớn hơn  
chiều ngang của tế bào, do đó làm tế bào có hình  
thoi hoặc dùi trống. Chúng thƣờng thuộc loại kỵ  
khí bắt buộc. Có nhiều loài có ích, thí dụ nhƣ loài  
4
Hình 1.5. Clostridium  
cố định nitơ, một số loài khác gây bệnh nhƣ vi  
khuẩn uốn ván…  
* Bacterium: Thƣờng là trực khuẩn Gram (-), không sinh bào tử. Thƣờng có tiên  
mao mọc xung quanh tế bào, ngƣời ta gọi là chu mao. Có nhiều loại Bacterium gây  
bệnh cho ngƣời và gia súc. Ví dụ : Salmonella, Escherichia, Shigella, Proteus,…  
Hình 1.6. Salmonella  
Hình 1.7. Escherichia  
1.3.Phẩy khuẩn  
Phẩy khuẩn là tên chung chỉ các vi khuẩn hình que uốn cong giống nhƣ dấu  
phẩy. Giống điển hình là Vibrio. Một số giống phẩy khuẩn có khả năng gây bênh  
cho ngƣời ví dụ phẩy khuẩn tả Vibrio cholera.  
Hình 1.8. Phẩy khuẩn  
1.4. Xoắn khuẩn  
Xoắn khuẩn có hình cong, xoắn, gồm tất cả các vi khuẩn có hai vòng xoắn  
trở lên (có thể tới 5 vòng). Là loại Gram (+), di động đƣợc nhờ một hay nhiều tiên  
mao. Đa số chúng thuộc loài hoại sinh, một số rất ít có khả năng gây bệnh. Kích  
thƣớc thay đổi (0,5-3,0) x (5-40) µm.  
5
Hình 1.9. Xoắn khuẩn  
2. Cấu tạo tế bào vi khuẩn  
Vi khuẩn là những sinh vật đơn bào có cấu tạo đơn giản. Tính từ ngoài vào  
trong, cho thấy:  
Hình 1.10. Cấu tạo tế bào vi khuẩn  
6
2.1. Tiên mao  
Ở một số vi khuẩn có khả năng phát triển một hoặc nhiều sợi nhỏ phía ngoài  
tế bào, ngƣời ta gọi chúng là tiên mao. Tiên mao làm nhiệm vụ giúp tế bào vi  
khuẩn chuyển động. Đây là những sợi nguyên sinh chất rất mảnh có chiều rộng  
khoảng 0,01 – 0,15µm, chiều dày khoảng 80-90 µm. Thành phần hoá chủ yếu của  
tiên mao là protein (hơn 90%), phần còn lại là các chất vô cơ. Tuỳ số lƣợng và vị  
trí tiên mao để chia thành các dạng sau:  
* Đơn mao: Có một tiên mao, thƣờng nằm ở một đầu của tế bào vi khuẩn.  
* Lưỡng mao: Có 2 tiên mao, mỗi tiên mao nằm ở một đầu của tế bào vi khuẩn  
*Chùm tiên mao: Có nhiều tiên mao phát triển ở một đầu hoặc xung quanh tế bào  
vi khuẩn  
Hình 1.11. Các dạng tiên mao  
2.2. Tiêm mao  
Hình 1.12. Tiêm mao  
7
Đó là các lông tơ phủ ngoài cùng của tế bào vi khuẩn, có tác dụng bảo vệ tế  
bào và là chỗ bám khi hai tế bào tiếp hợp với nhau, ở giai đoạn trƣởng thành. Một  
tế bào có tới hàng nghìn tiêm mao. Thành phần hoá học của tiêm mao chủ yếu là  
protein.  
2.3. Màng nhày ( lớp dịch nhày)  
Nhiều loài vi khuẩn đƣợc bao bọc phía bên ngoài một lớp vỏ nhày hoặc một  
lớp dịch nhày. Nhờ có lớp vỏ nhày này mà tế bào vi khuẩn mới có khả năng xâm  
nhập vào vật chủ. Thành phần hoá học của lớp vỏ nhày rất khác nhau phụ thuộc  
vào từng chủng giống vi khuẩn, từng giai đoạn sinh trƣởng và phát triển của vi  
khuẩn, phụ thuộc vào môi trƣờng sống khác nhau. Nhƣng nhìn chung, lớp vỏ này  
đƣợc cấu tạo bởi polisaccarit, polipeptit và 98% là nƣớc.  
2.4. Thành tế bào  
Nằm phía trong của lớp vỏ nhày, có vai trò bảo vệ tế bào và luôn giữ cho tế  
bào ở trạng thái định hình. Thành phần hoá học của thành tế bào rất khác nhau và  
có cấu trúc vô cùng phức tạp đƣợc cấu trúc bởi hợp chất dị cao phân tử -  
Heteropolimer, ngoài ra trong thành phần tế bào vi khuẩn còn có nhiều hợp chất  
murein, đây là hợp chất hữu cơ có cấu trúc phức tạp đƣợc cấu tạo bởi các dây nối  
1.4, 1.6 pectit. Vi khuẩn Gram (+) có thành tế bào dày hơn, thƣờng khoảng 14-18  
nm (nm- nanomet, 1nm = 10-9m). Trọng lƣợng có thể chiếm tới 10-20% trọng  
lƣợng khô của tế bào. Vi khuẩn Gram (-) có thành mỏng hơn, khoảng 10nm  
2.5. Màng sinh chất  
Nằm phía trong thành tế bào, có vai trò rất lớn trong hoạt động sống của tế  
bào, đó là: vận chuyển các chất dinh dƣỡng vào trong tế bào và bào thải các chất  
không cần thiết ra ngoài tế bào. Ngoài ra còn có chức năng là giữ cho áp suất thẩm  
thấu trong và ngoài tế bào ổn định, là nơi sinh tổng hợp của lớp vỏ nhày. Màng  
nguyên sinh chất thƣờng dày 50-100A0 (A0 – ăngxtron, 1 A0 = 10-10m) và chiếm  
khoảng 10-15% trong lƣợng chất khô của tế bào.  
2.6. Tế bào chất (Chất tế bào)  
8
Đây là thành phần chính của tế bào vi khuẩn. Nó là khối keo bán lỏng chứa  
80-90% là nƣớc. Thành phần chủ yếu là phức chất lipoprotein. Thể keo của tế bào  
chất khác với thể keo khác là chúng có tính chất dị thể (các keo có bản chất và kích  
thƣớc khác nhau phân tán trong tế bào chất). Thƣờng tế bào còn non thì tế bào chất  
đồng nhất, chúng bắt màu giống nhau khi nhuộm màu. Khi tế bào già do xuất hiện  
không bào và các thể vùi làm bào chất có dạng lổn nhổn.  
2.7. Riboxom  
Thành phần chính của Riboxom là protein và các ARN, tỷ lệ tƣơng ứng  
khoảng 40-60% là ARN và 60-40% là protein. Nó tồn tại dƣới dạng hạt gồm 2 tiểu  
thể: tiểu thể lớn có hằng số lắng là 50S (S là đơn vị Svedberg 1S = 10-13 cm/s), tiểu  
thể nhỏ có hằng số lắng là 30S. Mỗi tế bào vi khuẩn trung bình có khoảng 1000  
Riboxom, riêng E.coli có 1500 Riboxom.  
Hình 1.13. Riboxom  
2.8. Nhân tế bào  
Nhân của tế bào vi khuẩn không phải là nhân thật, chỉ tồn tại ở dạng thể  
nhân, bao gồm thể axit nucleic và protein dạng kiềm bao bọc xung quanh. Đây là  
nơi tham gia nhiều phản ứng sinh hoá quan trọng và là nơi điều khiển mọi hoạt  
động sống của tế bào. Đặc biệt nhân có vai trò rất lớn trong quá trình sinh tổng hợp  
protein của tế bào và di truyền các tính trạng cho thế hệ sau.  
2.9. Các hạt dự trữ khác  
9
Trong tế bào vi khuẩn còn có rất nhiều các chất, các hạt dự trữ và sắc tố, các  
vitamin đóng vai trò quan trọng trong hoạt động sống của vi khuẩn.  
2.10. Bào tử và sự hình thành bào tử  
Trong giai đoạn phát triển một số vi khuẩn có khả năng sinh bào tử. Bào tử  
thƣờng gặp ở hai giống trực khuẩn Gram (+) là Bacillus và Clostridium.  
* Quá trình tạo bào tử  
Lúc đầu lớp nguyên sinh chất trong tế bào đƣợc sử dụng. Tế bào chất và  
nhân tập trung lại tại một vị trí nhất định trong tế bào. Tế bào chất tiếp tục đƣợc cô  
đặc lại và tạo thành tiền bào tử. Tiền bào tử đƣợc bao bọc dần dần bởi các lớp  
màng. Tiền bào tử phát triển và trở thành bào tử.  
Hình 1.14. Quá trình phát triển của bào tử  
* Cấu tạo của bào tử  
Hình 1.15. Cấu tạo của bào tử  
10  
Ngoài cùng của bào tử là một lớp màng canxi. Dƣới lớp màng là vỏ. Vỏ bào  
tử có nhiều lớp, có tác dụng ngăn chặn sự thẩm thấu của nƣớc và các chất hoà tan  
trong nƣớc. Dƣới lớp vỏ là lớp màng trong bào tử và trong cùng là một khối tế bào  
chất đồng nhất. Thƣờng mỗi tế bào có một bào tử. Tuy nhiên một số trƣờng hợp có  
thể có hai hoặc nhiều bào tử. Bào tử của tế bào có thể sắp xếp ở những vị trí khác  
nhau, có thể ở giữa tế bào, hoặc ở hai đầu tế bào, hoặc ở một đầu tế bào.  
* Nhiệm vụ của bào tử  
- Bào tử có khả năng chịu đƣợc các điều kiện bất lợi bên ngoài vì thế chúng  
có khả năng bảo vệ đƣợc tế bào khỏi tác động của điều kiện bên ngoài.  
- Khi gặp điều kiện thuận lợi chúng lại phát triển thành một tế bào mới. Do  
đó chúng tham gia vào quá trình duy trì sự sống. Khi bào tử nở thì bào tử sẽ hút  
nƣớc và bị trƣơng lên, sau đó vỏ của chúng bị phá huỷ và bào tử nảy mầm phát  
triển thành tế bào mới. Quá trình này mất khoảng 5 phút.  
3. Sự sinh sản của vi khuẩn  
Vi khuẩn thƣờng sinh sản theo hai cách sau:  
3.1. Sinh sản vô tính  
Vi khuẩn sinh sản vô tính theo 2 cách sau: phân chia tế bào hoặc nảy chồi.  
a, Phân chia tế bào  
Đây là phƣơng thức sinh sản phổ biến của vi khuẩn. Quá trình phân chia  
diễn ra theo các giai đoạn sau:  
* Giai đoạn 1: Là giai đoạn chuẩn bị, tế bào phát triển nhanh về chất, kích thƣớc  
lớn lên rõ rệt, hoàn chỉnh các bộ phận bên trong và tập trung các chất dự trữ cần  
thiết cho việc tế bào con ra đời.  
* Giai đoạn 2: Là giai đoạn hình thành màng ngăn, ở giữa tế bào màng tế bào mọc  
lên hai mấu đánh dấu vị trí tế bào sẽ phân đôi, từ hai vị trí mấu này tạo thành màng  
ngăn  
* Giai đoạn 3: Từ tế bào mẹ hình thành hai tế bào con độc lập. Sự phân chia này  
xảy ra ở giữa tế bào và có thể xảy ra các khả năng:  
11  
- Phân chia đẳng hình hay đồng hình: Cho hai tế bào con giống hệt nhau.  
- Phân chia dị hình: Sự phân chia lệch về một phía cho hai tế bào con không  
bằng nhau.  
b, Nảy chồi  
Ở một số vi khuẩn sống dƣới nƣớc, trên tế bào mẹ mọc ra một chồi nhỏ.  
Chồi này lớn dần lên rồi tách ra kỏi tế bào mẹ và phát triển thành một tế bào mới.  
Chồi  
Hình 1.16. Nảy chồi của vi khuẩn  
3.2. Sinh sản hữu tính  
Quá trình sinh sản hữu tính của vi khuẩn thực hiện nhờ sợi pili. Sợi pili sẽ  
nối giữa hai tế bào vi khuẩn, thông qua cầu nối đó thì thông tin di truyền sẽ đƣợc  
trao đổi sau đó hai tế bào vi khuẩn sẽ tách nhau ra và tiếp tục phân chia tế bào bình  
thƣờng. Kết quả sẽ tạo các tế bào mới khác xa so với tế bào bố mẹ ban đầu.  
Hình 1.17. Hình thức sinh sản hữu sinh  
12  
4. Vai trò của vi khuẩn  
- Vi khuẩn tham gia tích cực vào việc khép kín vòng tuần hoàn các vật chất  
trong tự nhiên  
- Vi khuẩn phân huỷ và chuyển hoá các chất trong đất và trong môi trƣờng  
để cung cấp dinh dƣỡng cho cây trồng, làm sạch môi trƣờng.  
- Một số loài vi khuẩn làm giàu dinh dƣỡng nitơ cho đất, một số khác có thể  
tiết ra enzim quý để sử dụng vào quy trình công nghệ sản xuất chế phẩm, dùng  
trong hoạt động sống của con ngƣời  
II. Nấm men  
1. Hình dạng và kích thƣớc của nấm men  
- Nấm men là vi sinh vật điển hình cho nhóm nhân thật, tế bào nấm men  
thƣờng lớn gấp 10 lần so với vi khuẩn.  
Hình 1.18. Hình dạng của nấm men  
13  
- Nấm men có cấu tạo đơn bào, hình thái thay đổi tuỳ thuộc từng loại, điều kiện  
nuôi cấy và giai đoạn phát triển của tế bào. Do đó nấm men có hình thái rất đa  
dạng: hình cầu, hình trứng, hình ovan, hình bầu dục, hình tròn...  
- Một số nấm men có tế bào hình dài nối tiếp nhau thành những sợi nấm gọi là  
khuẩn ty thể (mycelium) hoặc khuẩn ty giả (pseudomycelium). Sợi nấm chia thành  
hai loại khác nhau: sợi cơ chất (sợi dinh dƣỡng) giúp nấm bám chặt vào cơ chất,  
hấp thụ các chất dinh dƣỡng chứa trong cơ chất và sợi khí sinh phát triển trong  
không khí, trên bề mặt của cơ chất  
- Kích thƣớc tế bào nấm men thay đổi nhiều tuỳ thuộc vào từng giống, từng loài,  
trung bình khoảng 3-5 x 5-10µm.  
2. Cấu tạo tế bào nấm men  
Các tế bào nấm men có cấu tạo tƣơng đối phức tạp, các tế bào nấm men  
khác nhau thì có cấu tạo và thành phần hoá học khác nhau. Nhƣng nhìn chung  
chúng đều đƣợc cấu  
tạo từ các thành phần sau:  
2
1
3
6
5
7
4
Hình 1.19. Cấu tạo tế bào nấm men  
1. Vỏ tế bào; 2. màng nguyên sinh chất; 3. nguyên sinh chất;  
4. ti thể; 5. nhân tế bào, 6. không bào; 7. Riboxôm.  
14  
2.1. Vỏ tế bào  
Vỏ tế bào bao bọc xung quanh tế bào, có độ bền chắc cao, có chiều dầy là  
1500-2500nm. Khi còn non, vỏ tế bào nấm men tƣơng đối mỏng, tuỳ theo thời gian  
nuôi dƣỡng mà vỏ tế bào dày lên. Thành phần hoá học chủ yếu của vỏ tế bào là  
glucan và mannan. Thành phần còn lại là protein, một ít lipit, poliphotphat, enzim,  
sắc tố và một ít ion vô cơ, đặc biệt vỏ tế bào còn chƣa chất kitin.  
Nhiệm vụ của vỏ tế bào là bảo vệ tế bào trƣớc các tác động bên ngoài, khống  
chế các quá trình trao đổi chất và áp suất thẩm thấu ở trong tế bào. Vỏ còn tạo nên  
hình dáng tế bào. Vỏ thƣờng chiếm 20-30% trong lƣợng tế bào.  
2.2. Màng nguyên sinh chất  
Màng nguyên sinh chất có chiều dày khoảng 7-8 µm cấu tạo chủ yếu là  
protein, chiếm 50% khối lƣợng khô của tế bào, còn lại là lipit 40% và một ít  
polisacarit. Chức năng của màng cũng giống nhƣ màng nguyên sinh chất của vi  
khuẩn.  
2.3. Nguyên sinh chất  
Nguyên sinh chất đƣợc phân bố đều khắp trong tế bào, đƣợc cấu tạo chủ yếu  
từ protein với một lƣợng nƣớc lớn, ở dạng dung dịch keo. Tất cả các hoạt động  
sống của tế bào đều xảy ra trong nguyên sinh chất. Nguyên sinh chất là môi trƣờng  
cần thiết để tế bào hoà tan các chất dinh dƣỡng, là nơi thực hiện các phản ứng sinh  
hoá và liên kết chặt chẽ các thành phần trong tế bào  
2.4. Ti thể  
Là những thể hình cầu, hình que, hình sợi, kích thƣớc khoảng 0,2-0,5 x 0,4-  
1µm. Ty thể gồm hai lớp màng: màng trong và màng ngoài. Màng trong có hình  
lƣợn sóng hay hình răng lƣợc để tăng diện tích tiếp xúc, giữa hai màng có các hạt  
nhỏ gọi là hạt cơ bản, bên trong ti thể là chất dịch hữu cơ.  
Chức năng của ti thể:.  
- Nó tham gia thực hiện các phản ứng oxy hóa giải phóng năng lƣợng khỏi  
cơ chất, làm cho năng lƣợng đƣợc tích luỹ dƣới dạng ATP  
15  
- Giải phóng năng lƣợng khỏi ATP và chuyển dạng năng lƣợng đó thành  
dạng năng lƣợng có ích cho hoạt động sống của tế bào.  
- Tham gia vào việc tổng hợp lên một số hợp chất protein, lipit, hidrat  
cacbon, những hợp chất này tham gia vào cấu tạo màng tế bào.  
- Ngoài ra ti thể còn chứa nhiều loại men khác nhau: oxidaza, peoxidaza,  
photphataza…  
2.5. Riboxom  
Số lƣợng Riboxom thay đổi tuỳ thuộc từng loài, từng gai đoạn phát triển và  
từng điều kiện nuôi cấy. Có hai loại riboxom: loại riboxom 70S và riboxom 80S.  
2.6. Không bào  
Không bào chứa các enzim thuỷ phân, poliphotphat, lipoit, ion kim loại, các  
sản phẩm trao đổi chất, ngoài tác dụng làm kho dự trữ, không bào còn tham gia  
quá trình trao đổi chất và điều hoà quá trình sinh trƣởng và phát triển của tế bào  
nấm men.  
Ngoài ra còn chứa các hạt dự trữ khác: Hạt lipit dƣới dạng các hạt nhỏ, hạt  
glucogen, một ít hạt tinh bột.  
2.7. Nhân  
Khác với tế bào vi khuẩn, tế bào nấm men đã có nhân thật. Nhân tế bào có  
hình dạng cầu hoặc ovan và đƣợc bao bọc bởi một lớp màng, bên trong có dịch  
nhân. Trong đó có một thể rắn gọi là hạch nhân hay nhân con.  
Kích thƣớc của nhân tế bào thƣờng bằng 1-3µm. Trên bề mặt của màng  
nhân có các hạt Riboxom.  
Trong nhân có chứa AND, ARN, nucleprotein và các gen, do đó nhân đóng  
vai trò quan trọng trong sinh sản di truyền các tính trạng cho thế hệ sau.  
3. Sinh sản của nấm men  
3.1.Sinh sản vô tính  
* Sinh sản bằng cách nảy chổi:  
16  
Nảy chồi là hình thức sinh sản chủ yếu của nấm men. Khi nấm men trƣởng  
thành sẽ nảy ra một chồi nhỏ, chồi lớn dần lên, một phần nhân của tế bào mẹ đƣợc  
chuyển sang chồi, sau đó tách ra thành một nhân mới, rồi hình thành vách ngăn để  
ngăn cách với tế bào mẹ, tạo nên một tế bào mới. Tế bào con đƣợc tạo thành có thể  
tách khỏi tế bào mẹ hoặc dính trên tế bào mẹ và tiếp tục nảy sinh tế bào mới.  
Hình 1.20. Nấm men nảy chồi  
* Sinh sản bằng phân chia tế bào:  
Một số ít nấm men có khả năng sinh sản bằng cách phân chia tế bào giống  
nhƣ vi khuẩn, tế bào dài ra sau đó sinh ra những vách ngăn đặc biệt và phân chia  
thành hai hay nhiều tế bào.  
3.2. Sinh sản hữu tính  
Tế bào nấm men có thể sinh sản bằng túi hay nang bào tử, trong mỗi túi có 1  
hoặc nhiều bào tử. Túi bào tử đƣợc sinh ra do sự tiếp hợp của 2 tế bào nấm men.  
Khi 2 tế bào khác giới đứng gần nhau, ở mỗi đầu của 2 tế bào sẽ mọc ra mấu  
lồi và tiến sát vào nhau, 2 tế bào sẽ tiếp hợp với nhau và hình thành 1 hợp tử, sau  
đó sẽ có quá trình phối nguyên sinh chất và phối nhân. Nhân của hợp tử phân chia  
thành 2 hoặc 4 hoặc 8 nhân mới và mỗi nhân con cùng với nguyên sinh chất tạo  
thành 1 bào tử. Bào tử gặp điều kiện thích hợp sẽ phát triển thành một tế bào nấm  
men mới  
17  
Hình 1.21. Các hình thức sinh sản hữ u tính  
4. Vai trò của nấm men  
- Nấm men phân bố rộng rãi trong tự nhiên, trong đất, nƣớc, không khí nhất  
là trong môi trƣờng có đƣờng, độ pH thấp nhƣ trong lƣợng thực, thực phẩm, rau  
quả, mật mía, rỉ đƣờng.  
- Nhiều loại nấm men đã đƣợc ứng dụng rộng rãi trong sản xuất rƣợu, bia,  
cồn, glyxerin và điều chế một số hóa chất khác.  
- Nấm men sinh sản nhanh chóng, sinh khối của chúng lại giàu protein và  
chứa nhiều loại vitamin, vì vậy nó đƣợc sử dụng rộng rãi trong ngành công nghiệp  
sản xuất thức ăn cho ngƣời và gia súc.  
- Nấm còn sử dụng làm nở bột mì, gây hƣợng vị nƣớc chấm, sản xuất một số  
dƣợc phẩm  
- Tuy nhiên bên cạnh nấm men có ích cũng có một số nấm men gây hại cho  
ngƣời và gia súc hoặc cũng có thể làm hƣ hại lƣơng thực thực phẩm.  
III. Nấm mốc  
18  
1.Hình dạng và kích thƣớc của nấm mốc  
Nấm mốc hay gọi là nấm sợi (molds, moulds) là tên chung để chỉ tất cả các  
nhóm nấm không phải là nấm men cũng không phải là những nấm lớn có mũ nhƣ  
nấm rơm. Chúng phân bố rộng rãi trong tự nhiên.  
Đa số nấm mốc có dạng sợi, chúng thƣờng phát triển trên bề mặt cơ chất tạo  
thành các dạng nhƣ lông tơ, mạng nhện hoặc sợi bông. Sợi nấm có chiều ngang từ  
1-5µm, chiều dài vài chục micromet, mỗi một sợi nấm đƣợc gọi là một khuẩn ty.  
Hệ sợi của nấm mốc có một số ăn sâu vào cơ chất hút nƣớc, muối khoáng  
và các chất dinh dƣỡng để nuôi dƣỡng toàn bộ hệ sợi gọi là khuẩn ty dinh dƣỡng,  
một số mọc phía trên bề mặt cơ chất đƣợc gọi là khuẩn ty khí sinh. Những khuẩn  
ty khí sinh là những sợi lông tơ màu trắng làm nhiệm vụ hô hấp và mang cơ quan  
sinh sản.  
2. Cấu tạo tế bào nấm mốc  
Nấm mốc đƣợc chia làm 2 loại  
*Loại nấm có vách ngăn : Phần lớn hệ sợi nấm có vách ngăn, mỗi một khoang là  
một tế bào riêng biệt vì vậy chúng là những sinh vật có cấu tạo đa bào. Ví dụ:  
Penicillium, Aspergillus…  
Aspergillus oryzae  
Penicillium  
Aspergillus  
Hình 1.22. Một số loại nấm mốc  
* Loại nấm mốc không có vách ngăn: ở một số nấm mốc hệ sợi không có vách  
ngăn, toàn bộ khuẩn ty coi nhƣ một tế bào. Đó là loại đơn bào. Ví dụ: Mucor,  
Rhizopus.  
19  
Mucor  
Rhizopus  
Nấm mốc thuộc loài có nhân chuẩn. Cấu tạo tế bào nấm mốc cũng nhƣ  
nấm men.  
3. Sinh sản của nấm mốc  
3.1. Sinh sản vô tính  
Sinh sản bằng vô tính bằng bào tử là một hình thức sinh sản phổ biến của  
nấm mốc. Bào tử của nấm mốc là cơ quan sinh sản chứ không phải là dạng tồn tại  
bảo vệ nhƣ ở vi khuẩn. Bào tử đƣợc tạo ra bằng các cách sau:  
* Bào tử đốt: Từ khuẩn ty sinh sản có sự ngắt đốt, mỗi đốt đƣợc coi nhƣ một bào  
tử, rơi vào môi trƣờng sẽ nhanh chóng phát triển thành khuẩn ty mới.  
* Bào tử nội sinh (bào tử nang):  
Bµo tö nang  
Đầu khuẩn ty sinh sản phình to dần,  
hình thành một cái bọc, gọi là nang,  
Nang  
trong nang có chứa các bào tử dạng  
Cuèng bµo tö  
nang  
hình tròn hoặc ovan. Khi nang vỡ,  
các bào tử đƣợc giải phóng ra ngoài.  
Ví dụ bào tử của Mucor, Rhizopus.  
Hình 1.23. Bộ phận sinh bào tử nội sinh  
20  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 76 trang Mãnh Khiết 15/01/2024 10260 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Vi sinh công nghiệp (Phần 1)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_vi_sinh_phan_1.pdf