Đánh giá hàm lượng một số yếu tố dinh dưỡng và Enzyme trong giai đoạn nảy mầm sớm của hai giống đậu tương (Glycine Max) DT84 và DT2008

TAP CHI SINH HOC 2018, 40(1): 76-83  
DOI:10.15625/0866-7160/v40n1.10865  
ĐÁNH GIÁ HÀM LƯỢNG MỘT SỐ YẾU TỐ DINH DƯỠNG  
VÀ ENZYME TRONG GIAI ĐOẠN NẢY MẦM SỚM  
CỦA HAI GIỐNG ĐẬU TƯƠNG (Glycine max) DT84 VÀ DT2008  
Trần Thị Thúy*, Nguyễn Thị Thu Hoài, Tống Thị Mơ  
Khoa Sinh học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội  
TÓM TẮT: Đậu tương là một trong những cây công nghiệp ngắn ngày quan trọng, có giá trị kinh  
tế cao, do có hàm lượng protein cao, sẵn có các vitamin, khoáng chất và nhiều hợp chất có hoạt  
tính sinh học như isoflavone, gama-aminobutyric acid… Tuy nhiên, hạt đậu tương cũng chứa các  
hợp chất kháng dinh dưỡng như: phytate và các chất ức chế enzyme tiêu hóa tripsin. Trong nghiên  
cứu này, chúng tôi đã tiến hành đánh giá một số yếu tố dinh dưỡng (protein, lipid, tinh bột, kim loại  
hòa tan) và hoạt động của một số enzyme (phytase, amlase, protease) trong giai đoạn nảy mầm sớm  
của hai giống đậu tương DT84 và DT2008 nhằm xác định thời điểm thích hợp cho việc chế biến  
các loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao từ hạt đậu tương nảy mầm. Kết quả thực nghiệm cho  
thấy hoạt động của các enzyme (protease, amylase và phytase) trong hạt đậu tương nảy mầm cao  
hơn hẳn so với hạt khô. Hoạt động của các enzyme này đã làm thay đổi hàm lượng các chất dinh  
dưỡng trong hạt: hàm lượng protein, tinh bột và lipid giảm; đặc biệt là hàm lượng chất kháng dinh  
dưỡng phytate (giảm 17,0-48,9% đối với giống DT84 và 28,0-60,7% đối với giống DT2008). Tuy  
nhiên, hàm lượng các khoáng chất (canxi, sắt, kẽm) và các thành phần dễ hấp thu khác (đường khử,  
protein dễ tiêu) trong hạt nảy mầm sớm tăng cao hơn hẳn so với hàm lượng các chất này trong hạt  
khô. Cụ thể là: hàm lượng sắt hòa tan tăng 10,31-12,13%, canxi hòa tan tăng 31,56-35,75% và kẽm hòa  
tan tăng 31,38-43,32%). Kết quả của nghiên cứu này đã góp phần củng cố các đánh giá về giá trị dinh  
dưỡng tích cực của hạt đậu tương nẩy mầm trong chế biến thực phẩm.  
Từ khóa: Amylase, đậu tương , enzyme, giai đoạn nảymầm sớm, phytate, phytase, protease  
MỞ ĐẦU  
học cao; thêm vào đó, hàm lượng phytate giảm,  
các oligosaccharide ức chế tripsin được chuyển  
Đậu tương hay còn gọi là đậu nành (Glycine  
max) là loại cây công nghiệp ngắn ngày phổ  
biến ở khu vực Đông Á. Hạt đậu tương chứa  
nhiều chất dinh dưỡng với hàm lượng cao như:  
protein (35-40% khối lượng khô), lipid (18-22%  
khối lượng khô), nhiều amino acid thiết yếu,  
kim loại tự do như Ca, Fe, Mg, P, K, các  
vitamin E, C, A, B1, B2, B5, B6… và đặc biệt  
là isoflavone (Jiang & Xu, 2013).  
thành đường đơn; hàm lượng các vitamin,  
caroten, axit folic, GABA (gama aminobutyric  
acid) và khoáng chất dễ hấp thu tăng cao; các  
đường và các axit amin tồn tại ở dạng đơn giản  
dễ hấp thu (Zieliński, 2003). Vì vậy, hạt đậu  
tương nảy mầm được coi như loại thần dược tự  
nhiên, cung cấp dưỡng chất cho cơ thể, tăng  
cường sức khỏe, chống lại bệnh tật và làm chậm  
quá trình lão hóa, đặc biệt duy trì sức khỏe và  
sắc đẹp cho phụ nữ.  
Tuy nhiên, một số peptide nhỏ và  
oligosaccharide (đường stachyose và raffinose)  
trong hạt đậu tương khô có khả năng gây ức chế  
tripsin, loại enzyme tiêu hóa quan trọng trong  
đường ruột người và động vật nuôi. Hàm lượng  
phytate, loại chất ức chế tiêu hóa thông qua khả  
năng tạo phức chất khó tan với nhiều kim loại  
thiết yếu và protein trong hạt, cũng cao (1-3  
g/100 g hạt khô). Trong hạt đậu tương khô,  
isoflavone tồn tại dưới dạng phức hợp và khó  
hấp thu; khi hạt nảy mầm, hàm lượng isoflavone  
trong hạt đạt tới đỉnh điểm với hoạt tính sinh  
Trên thế giới đã có nhiều đề tài nghiên cứu,  
chủ yếu là ở Nhật Bản, Hàn Quốc và Hoa Kỳ về  
hạt đậu tương nảy mầm và ứng dụng chúng làm  
thực phẩm và dược phẩm. Các sản phẩm từ hạt  
đậu tương nảy mầm trên thị trường Việt Nam  
hiện nay chủ yếu là dạng thực phẩm chức năng  
như: Tây Sa do Công ty Dược phẩm Sa Vi sản  
xuất và bán trên thị trường; LINOSAN của tập  
đoàn dược phẩm Tuệ Linh cũng là sản phẩm có  
thành phần chính là bột đậu tương nảy mầm  
76  
Tran Thi Thuy et al.  
giàu isoflavone được bổ sung thêm tinh chất tâm loại bỏ cặn tinh bột và protein. Hoạt tính  
Tam thất Vân Sơn, vitamin C, D, vitamin nhóm phytase trong dịch chiết này được xác định dựa  
B, canxi và đạm thủy phân từ nấm. Các sản vào phương pháp của Shimizu (1992).  
phẩm thực phẩm thông thường từ hạt đậu tương  
nảy mầm chủ yếu được dùng dưới dạng thô,  
Xác định hoạt độ enzyme amylase trong hạt đậu  
tương nảy mầm  
không qua chế biến như: giá đỗ tương và rau  
Dịch đậu tương nảy mầm (chế biến như  
mầm đỗ tương.  
phương pháp trên) được tác dụng với một lượng  
Trong nghiên cứu này, chúng tôi trình bày  
tinh bột xác định trong cùng điều kiện và cùng  
các kết quả đánh giá hàm lượng một số yếu tố  
khoảng thời gian. Từ lượng tinh bột còn lại, xác  
dinh dưỡng và enzyme trong giai đoạn nảy mầm  
định được hàm lượng tinh bột bị thủy phân, từ  
sớm của hai giống đậu tương phổ biến ở Việt  
đó xác định được hoạt tính amylase của các  
Nam hiện nay là DT84 và DT2008, làm cơ sở  
dung dịch nghiên cứu theo công thức sau:  
cho việc chế biến hạt đậu tương nảy mầm thành  
Lượng tinh bột bị thủy phân (C): C = [(Ađối  
dạng thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao.  
chứng-Athí nghiệm)/Ađối chứng] × 0,01. Trong đó, A là  
độ hấp thụ quang của các mẫu đo ở bước sóng  
610nm; 0,01 là lượng tinh bột đem phân tích.  
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
Hai giống đậu tương DT84 và DT2008  
Hoạt độ của amylase (X) được tính theo  
được Viện Di truyền Nông nghiệp Việt Nam  
công thức: X = (6,889 × C-0,029388)/w; trong  
cung cấp.  
đó, C là lượng tinh bột bị thủy phân, W là lượng  
Các hóa chất phân tích thông dụng được mua  
mẫu đem thí nghiệm; 6,889 và 0,029388 là các  
của Sigma, Merck, Promega, của Trung Quốc và  
hệ số của phương trình hoạt độ thu được bằng  
Việt Nam, đều đạt độ tinh sạch ở mức phân tích.  
phương pháp xử lý toán học số liệu thực nghiệm  
về sự phụ thuộc của lượng tinh bột bị thủy phân  
và lượng enzyme trong mẫu nghiên cứu (Phạm  
Thị Trân Châu và nnk., 1997).  
Phương pháp ngâm hạt, ủ mầm cho hạt đậu  
tương (Jiang & Xu, 2013)  
Hạt đậu tương được lựa chọn và loại bỏ hạt  
hỏng, cân xác định trọng lượng khô trước khi Xác định hoạt độ enzyme protease trong hạt  
đậu tương nảy mầm (Nguyễn Văn Mã và nnk.,  
2013)  
rửa với nước sạch và ngâm hạt với nước ấm 30-  
37oC trong 6 giờ đối với giống DT2008, 8 giờ  
đối với giống DT84, theo tỷ lệ 1g đậu:10ml  
nước. Sau đó, hạt đậu được rửa với nước sạch  
để loại bỏ nước chua trên bề mặt, để ráo bớt  
nước, cân lại khối lượng trước khi ủ nảy mầm.  
Ủ hạt trong khay thành một lớp, được che tối và  
giữ ẩm bằng bông và giấy lọc, để ở nhiệt độ  
30oC. Theo dõi tiến trình nảy mầm của hạt theo  
thời gian và thu hoạch hạt nảy mầm định kỳ tại  
5 thời điểm khác nhau: Hạt trương nước (hạt  
ngâm nước tới kích thước tối đa), hạt bắt đầu ra  
rễ mầm (rễ mầm dưới 0,5 cm), hạt có rễ và thân  
mầm lần lượt đạt 1 cm, 3 cm, 5 cm.  
Dịch đậu tương nảy mầm (chế biến như  
phương pháp trên) có hoạt độ protease khác  
nhau được cho tác dụng với cùng một lượng  
casein xác định ở 30ºC trong vòng 15 phút. Căn  
cứ vào lượng tirosine được giải phóng (xác định  
dựa vào đồ thị chuẩn tyrosine) xác định hoạt độ  
protease của các dung dịch nghiên cứu theo  
công thức: X = a.V.k/t.v; trong đó, X là số đơn  
vị hoạt độ protease trong 1g hạt đậu tương khô;  
k là tỷ lệ của thể tích dịch chiết enzyme trong  
phản ứng và sau khi bổ sung chất dừng phản  
ứng (dung dịch trichloro acetic acid 15%); a là  
số µmol tirosine tương ứng với hiệu số giá trị  
mật độ quang của ống thí nghiệm và ống đối  
chứng; V là tổng thể tích dịch chiết enzyme,  
tính bằng ml; v: thể tích dịch chiết enzyme  
trong phản ứng, tính bằng ml; t là thời gian phản  
ứng, tính bằng phút.  
Xác định hoạt độ enzyme phytase trong hạt đậu  
tương nảy mầm  
Hạt đậu tương nảy mầm (tương đương 2 g  
hạt khô) ở các thời điểm nảy mầm khác nhau  
được nghiền trong 4 ml nước và 1ml đệm 0,1 M  
acetate pH 5,2 rồi lọc bỏ bã và định mức dung  
dịch bằng nước khử ion đến 10 ml trước khi li Xác định hàm lượng một số chất dinh dưỡng  
77  
Đánh giá hàm lượng một số yếu tố dinh dưỡng  
trong hạt đậu tương nảy mầm  
pháp đo phổ hấp thụ nguyên tử của các  
nguyên tố này trên máy đo quang phổ hấp phụ  
nguyên tử (AAS-200, Analytik Jena, CHLB  
Đức) và so sánh với đồ thị chuẩn hàm lượng  
các nguyên tố này ở các bước sóng đặc thù  
(Phạm Luận, 2006).  
Hàm lượng protein được xác định dựa vào  
sự bắt màu của protein trong dung dịch cần  
phân tích với dung dịch với thuốc thử  
Bradford (Bradford, 1976).  
Xác định hàm lượng tinh bột theo TCVN  
4594-88; xác định hàm lượng lipid theo  
TCVN 4292-88; xác định hàm lượng phytate  
dựa trên đặc tính kết tủa mạnh với ion Fe3+  
của phytate. Cho một lượng dư Fe3+ vào các  
mẫu dịch đậu tương nảy mầm (chế biến như  
trên) để kết tủa toàn bộ phytate trong dịch. Từ  
hàm lượng sắt có trong kết tủa với phytate (đã  
được rửa sạch Fe3+ dư), tính toán hàm lượng  
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN  
Tiến trình nảy mầm của hạt đậu tương  
Cũng như các loai hạt khác, hạt đậu tương  
nảy mầm chịu sự ảnh hưởng lớn từ điều kiện  
môi trường như áp suất, độ ẩm, nhiệt độ,…  
Trong điều kiện áp suất không khí thông  
thường, được giữ ẩm liên tục >90%, ở các mức  
phytate có trong dịch teo nguyên lý: Một phân nhiệt độ 20ºC, 25ºC, 30ºC, 35ºC, hạt đậu tương  
tử phytate liên kết với 4 phân tử sắt và khối  
lượng của phytate Fe3+gấp 2,98 lần khối  
lượng của sắt. Do vậy, mphytate trong dịch = 2,98 x  
mFe trong kết tủa với phytate. Hàm lượng Fe3+ được xác  
định thông qua đồ thị tương quan giữa hàm  
lượng chuẩn Fe3+ với độ hấp phụ quang ở  
nảy mầm với tốc độ khác nhau rõ rệt, nhanh  
nhất ở nhiệt độ 30ºC. Nhiệt độ này được sử  
dụng để ủ mầm cho hạt đậu tương (bảng 1). Tỷ  
lệ nảy mầm của giống DT84 đạt cao nhất (92-  
94%) đối với hạt được ngâm nước đủ 8 giờ; còn  
đối với giống DT2008 là 6 giờ (đạt tỷ lệ nảy  
bước sóng 420 nm; xác định hàm lượng kim mầm 90-95%).  
loại tự do (Ca, Fe, Zn) trong hạt bằng phương  
Bảng 1. Tiến trình nảy mầm của 50g hạt đậu tương (giống DT84 và DT2008) ở 30ºC  
Giống DT84  
Giống DT2008  
Trạng thái hạt  
Thời gian  
Khối lượng (g)  
Thời gian  
10h ngâm  
nước  
Khối lượng (g)  
Trương nước tối đa  
10h ngâm nước  
113,27  
117,4  
Sau 8h ngâm nước ủ mầm  
Sau 6h ngâm nước ủ mầm  
Rễ mầm nhỏ hơn 0,5cm  
Rễ và thân mầm đạt 1cm  
Rễ và thân mầm đạt 3cm  
Rễ và thân mầm đạt 5cm  
Bật lá mầm  
36h  
48h  
110,6 ± 2,1  
114,7 ± 1,1  
116,3 ± 2,7  
122,4 ± 3,5  
-
24h  
32h  
46h  
60h  
96h  
113,6 ± 3,5  
117,9 ± 4,1  
120,1 ± 3,7  
127,6 ± 4,4  
-
72h  
88h  
104h  
Số liệu trong bảng 1 cho thấy, giống giống DT 84 được trồng đại trà, xen canh gối vụ  
DT2008 có thời gian nảy mầm nhanh hơn với lúa hoặc các loại hoa màu khác ở nhiều địa  
khoảng 12 giờ so với giống DT84, mức độ hút phương.  
nước của hạt cũng cao hơn. Hạt khô của giống  
DT2008 có thể hút nước để đạt 234,8% khối  
lượng ban đầu; trong khi hạt khô của giống  
DT84 chỉ đạt 226,5% khối lượng ban đầu khi  
trương nước ở mức tối đa. Sự khác biệt này có  
thể là do đặc trưng của từng giống: giống  
DT2008 là giống đậu tương chịu hạn, được  
trồng chủ yếu ở các vùng đồi núi xen với các  
cây công nghiệp như chè và bông; trong khi  
Đánh giá hoạt tính một số enzyme trong hạt  
đậu tương nảy mầm  
Trong quá trình nảy mầm, ngay sau khi hạt  
thấm đủ nước, các enzyme trong hạt bắt đầu  
được hoạt hóa. Bảng 2 thể hiện kết quả đánh giá  
hoạt tính (U/g hạt khô ban đầu) của ba loại  
enzyme chính (protease, amylase, phytase)  
thường có trong giai đoạn nảy mầm sớm của hạt  
đậu tương giống DT84 và DT2008.  
78  
Tran Thi Thuy et al.  
Enzyme protease trong hạt đậu tương phân với giống DT2008, hoạt tính enyme tăng ngay  
giải protein dự trữ thành các sản phẩm có khối sau khi hạt bắt đầu trương nước và tăng đều, đạt  
lượng phân tử nhỏ hơn như chuỗi peptit và các hoạt tính cao nhất ở thời điểm hạt ra rễ mầm  
axit amin-đây là những nguyên liệu khởi đầu 3cm (0,67 ± 0,01 U/g) sau đó giảm dần (bảng  
cho quá trình tổng hợp nên các loại protein cấu 2). Hoạt tính amylase cũng giảm dần trong suốt  
trúc và protein chức năng khác nhau. Đối với giai đoạn nảy mầm tương ứng với nồng độ tinh  
hai giống đậu tương nghiên cứu, hoạt tính bột trong hạt nảy mầm giảm xuống còn rất thấp  
protease ở hạt khô rất thấp (giống DT84 là 0,35 so với hàm lượng ban đầu (3-7%) trong hạt đậu  
± 0,02 U/g và giống DT 2008 là 0,43 ± 0,01 tương khô.  
U/g); nhưng ngay khi hạt ngậm đủ nước,  
Enzyme phytase trong hạt đậu tương được  
protease trong hạt được hoạt hóa mạnh mẽ, đạt  
gọi là GmPhy, có trung tâm hoạt động kiểu PAP  
mức cao nhất ở thời điểm hạt ra rễ mầm khoảng  
với 2 nhân Fe(III)-Zn(II) (Hegeman & Grabau,  
1cm (giống DT84 là 4,46 ± 0,16 U/g và giống  
2001). Phytase xúc tác thủy phân phytate thành  
DT 2008 là 4,38 ± 0,20 U/g). Hạt đậu tương có  
những gốc photphat đơn vô cơ và những dẫn  
hàm lượng protein cao; do đó, trong suốt quá  
xuất đơn giản hơn của myo-inositol phosphate.  
trình nảy mầm, sự phân giải protein diễn ra rất  
Bảng 2 thể hiện sự thay đổi hoạt tính phytase  
mạnh nhằm đáp ứng nhu cầu nguyên liệu sơ cấp  
của hạt đậu tương của hai giống đậu tương  
và năng lượng phục vụ cho sự nảy mầm của hạt.  
nghiên cứu: từ hầu như không có hoặc rất thấp  
Cũng giống như enzyme protease, hoạt độ trong hạt khô (giống DT84 là 0,07 ± 0,01 U/g  
amylase trong hạt đậu tương khô rất thấp, cụ thể và giống DT 2008 là 0,10 ± 0,01 U/g) nhưng  
ở giống DT84 là 0,28 ± 0,02 U/g và giống DT tăng dần từ thời điểm hạt trương nước cho tới  
2008 là 0,34 ± 0,02 U/g. Hoạt độ amylase tăng thời điểm hạt bắt đầu nảy mầm và đạt mức cao  
dần khi hạt bắt đầu ngậm đủ nước, giúp phân nhất ở thời điểm rễ mầm đạt 0,5-1cm (giống  
giải tinh bột thành đường cung cấp cho quá DT84 là 0,50 ± 0,08 IU/g và giống DT2008 là  
trình hô hấp và sinh trưởng ở cây mầm. Đối với 1,14 ± 0,08 U/g). Sau đó, hoạt tính enzyme  
giống DT84, hoạt tính amylase tăng nhanh và phytase giảm dần là do hàm lượng phytate của  
cao nhất ở thời điểm hạt bắt đầu nảy mầm (0,77 hạt nảy mầm đã phân giải gần hết và nhu cầu  
± 0,01 U/g), sau đó giảm mạnh (bảng 2). Đối của cây mầm đối với phốt phát cũng giảm dần.  
Bảng 2. Hoạt tính của một số enzyme trong hạt đậu tương trong giai đoạn nảy mầm sớm  
Hoạt tính các loại enzyme (U/g)  
Giai đoạn  
Protease  
DT84 DT2008  
Amylase  
DT84 DT2008  
Phytase  
DT84 DT2008  
Hạt khô  
Trương nước  
0,35 ± 0,02 0,43 ± 0,01 0,28 ± 0,02 0,34 ± 0,02 0,07 ± 0,01 0,10 ± 0,01  
4,10 ± 0,23 4,38 ± 0,14 0,61 ± 0,02 0,43 ± 0,02 0,22± 0,03 0,29 ± 0,03  
Rễ mầm nhỏ hơn 0,5cm 3,68 ± 0,08 3,96 ± 0,10  
0,60 ± 0,01  
0,31 ± 0,04  
0,50 ± 0,08  
0,77 ± 0,01  
Rễ và thân mầm đạt 1cm 4,46 ± 0,16 4,38 ± 0,20 0,65 ± 0,01 0,60 ± 0,00 0,47 ± 0,09  
1,14 ± 0,08  
Rễ và thân mầm đạt 3cm 4,40 ± 0,17 3,76 ± 0,05 0,61 ± 0,02  
0,30 ± 0,06 0,85 ± 0,03  
0,67 ± 0,01  
Rễ và thân mầm đạt 5cm 3,94 ± 0,07 4,22 ± 0,03 0,50 ± 0,02 0,64 ± 0,02 0,38 ± 0,00 0,54 ± 0,06  
thân mầm 3 cm (giống DT84). Ngay khi hạt  
ngậm đủ nước, enzyme protease hoạt động đã  
làm giảm khoảng 6% tổng số protein của hạt ở  
cả hai giống; protease hoạt động mạnh mẽ nhất  
trong giai đoạn đầu tiên khi hạt nảy mầm (độ  
dài rễ và thân mầm 0,5 cm), làm giảm từ 36-  
44% tổng số protein trong hạt khô.  
Đánh giá hàm lượng protein của hạt đậu  
tương trong giai đoạn nảy mầm sớm  
Hoạt động của protease trong suốt giai đoạn  
nảy mầm sớm đã làm giảm đáng kể hàm lượng  
protein trong hạt (hình 1): từ 38,3% trong hạt  
khô xuống còn 15,3% trong hạt có rễ và thân  
mầm 3 cm (giống DT2008); và từ 36,1% trong  
hạt khô xuống còn 16,3% trong hạt có rễ và  
79  
Đánh giá hàm lượng một số yếu tố dinh dưỡng  
được hàm lượng protein cao (Martinez et al.,  
2011). Vì vậy, chúng tôi lựa chọn thời điểm hạt  
có rễ và thân mầm 0,5 cm để tiếp tục đánh giá  
các giá trị dinh dưỡng khác trong hạt đậu tương  
của cả hai giống DT84 và DT2008.  
Hình 1. Sự thay đổi hàm lượng protein trong  
giai đoạn nảy mầm sớm của hạt đậu tương  
giống DT84 và DT2008 (0 là thời điểm hạt  
ngâm nước được 6-8 giờ, chưa nứt nanh, chưa  
có rễ và thân mầm)  
Đánh giá hàm lượng phytate của hạt đậu  
tương trong giai đoạn nảy mầm sớm  
Hình 2. Sự thay đổi hàm lượng phytate trong  
giai đoạn nảy mầm sớm của hạt đậu tương  
giống DT84 và DT2008 (0 là thời điểm hạt  
ngâm nước được 6-8 giờ, chưa nứt nanh, chưa  
có rễ và thân mầm)  
Hàm lượng phytate trong hạt đậu tương khô  
của cả hai giống nghiên cứu gần như tương  
đương với hàm lượng phytate trong hạt đã ngâm  
nước từ 6-8 giờ (chiếm khoảng 1,2-1,6% khối  
lượng khô của hạt); tương đồng với công bố  
của Shemy (2013) về hàm lượng phytate trong  
1g hạt đậu tương khô (9,2-16,7 mg). Trong giai  
đoạn nảy mầm sớm (hình 2), enzyme phytase  
trong hạt thủy phân phytate mạnh nhất khi hạt  
bắt đầu nứt nanh, bật rễ mầm 0,5 cm; làm  
giảm đáng kể hàm lượng phytate trong hạt khô  
ban đầu. Cho đến thời điểm hạt có thân và rễ  
mầm khoảng 3 cm, hàm lượng phytate của hạt  
giống DT84 đã giảm 48,9%; giống DT2008  
giảm 60,7% (hình 2).  
Đánh giá hàm lượng lipid trong hạt đậu  
tương trong giai đoạn nảy mầm sớm  
Lipid chiếm tỷ lệ cao trong thành phần vật  
chất khô của hạt đậu tương. Lipid trong các mẫu  
hạt đậu tương khô và nảy mầm (có rễ và thân  
mầm 0,5 cm) đã được chiết rút và xác định  
theo TCVN 4292-88. Kết quả đánh giá hàm  
lượng lipid ở hai thời điểm trên đối với cả hai  
giống đậu tương nghiên cứu (bảng 3) cho thấy  
hoạt động của enzyme lipase trong hạt đã làm  
giảm 1,6% hàm lượng lipid trong hạt đậu tương  
khô giống DT84 và làm giảm 0,8% hàm lượng  
lipid trong hạt đậu tương khô giống DT2008.  
Trong chế biến thực phẩm, người ta mong  
muốn giảm thiểu hàm lượng chất kháng dinh  
dưỡng phytate trong hạt ngũ cốc nhưng vẫn giữ  
Bảng 3. Tỷ lệ nước, lipid trong hạt đậu tương nảy mầm  
DT84 DT84  
Hạt trương Hạt có rễ + thân  
DT2008  
Hạt trương  
nước  
DT2008  
Hạt có rễ + thân  
mầm 0,5 cm  
nước  
mầm 0,5 cm  
Tỷ lệ nước của hạt  
tươi (%)  
Tỷ lệ lipid (%) so với  
hạt khô ban đầu  
58,4  
54,47  
57,9  
24,0  
58,33  
23,2  
25  
23,4  
80  
Tran Thi Thuy et al.  
1990). Tuy nhiên, tỷ lệ hấp thu các chất khoáng  
từ đậu tương lại khá thấp do chúng chủ yếu tồn  
tại dưới dạng phức chất phytate khó hấp thu.  
Quá trình nảy mầm làm giảm đáng kể hàm  
lượng phytate trong hạt (hình 2); nhờ đó, một  
lượng đáng kể các kim loại trong hạt đậu tương  
được giải phóng thành dạng dễ hấp thu.  
Đánh giá hàm lượng và thành phần glucid  
trong hạt đậu tương ở giai đoạn nảy mầm  
sớm  
Glucid là thành phần dự trữ quan trọng  
trong hầu hết các loại hạt. Dựa theo TCVN  
4594-88, hàm lượng đường khử và tinh bột đã  
được xác định cho hai giống đậu tương nghiên  
cứu ở giai đoạn hạt khô và mới nảy mầm, có rễ  
và thân mầm 0,5 cm (hình 3).  
Ở giống DT84, quá trình nảy mầm từ hạt  
trương nước thành hạt bắt đầu nảy mầm đã làm  
giảm 80% hàm lượng tinh bột trong hạt (từ  
11,14 mg/g xuống 2,23 mg/g) do hoạt động của  
enzyme amylase trong hạt; đồng thời đường  
tổng số cũng tiêu hao tới 39,86% (từ 60,13 mg/g  
xuống còn 36,16 mg/g (giảm 39,863%) do hoạt  
động hô hấp của hạt nảy mầm.  
Ở giống DT2008, hàm lượng tinh bột giảm  
từ 11,49 mg/g ở hạt khô ban đầu xuống 5,04  
mg/g ở hạt bắt đầu nảy mầm (giảm 56,15%) và  
đường tổng số cũng giảm từ 63,14 mg/g xuống  
41,62 mg/g (giảm 34,08%) do hoạt động hô hấp  
của hạt nảy mầm.  
Hình 3. Hàm lượng đường khử và tinh bột trong  
các loại hạt đậu tương  
Kết quả trình bày trong hình 4A cho thấy,  
hàm lượng sắt tự do trong hạt nảy mầm của cả  
hai giống đậu tương DT84 và DT2008 đều tăng  
so với hạt khô. Trong đó, giống DT84 có hàm  
lượng sắt tự do trong hạt mầm tăng tăng thêm  
12,13%; còn giống DT2008 có hàm lượng sắt tự  
do tăng 10,31% so với hàm lượng này trong hạt  
khô.  
Đánh giá hàm lượng kim loại sắt, kẽm, canxi  
tự do trong hạt đậu tương ở giai đoạn nảy  
mầm sớm  
Hạt đậu tương là một loại thực phẩm giàu  
chất khoáng, được đánh giá gần tương đương  
với thịt bò (Jiang & Xu, 2013; Sattar & Akhtar,  
A
B
C
Hình 4. Hàm lượng kim loại tự do trong hạt đậu tương (A: sắt; B: kẽm; C: canxi)  
Tương tự như hàm lượng sắt tự do, hàm lượng này tăng từ 2,39 mg lên 3,14 mg trong  
lượng kẽm tự do cũng tăng mạnh trong quá 100 g hạt khô (tăng thêm 31,38%).  
trình nảy mầm của hạt đậu tương (hình 4B). Đối  
Sự thay đổi về hàm lượng canxi giữa các  
với giống DT84, hàm lượng kẽm tự do tăng từ  
2,17mg lên 3,11 mg trong 100 g hạt khô (tăng  
thêm 43,32%). Đối với giống DT2008, hàm  
mẫu hạt đậu tương khô so với hạt nảy mầm  
được thể hiện trong hình 4C. Theo đó, hàm  
lượng canxi tự do trong hạt khô của giống DT84  
81  
Đánh giá hàm lượng một số yếu tố dinh dưỡng  
là 18,47 mg trong 100 g hạt khô; hàm lượng này  
tăng lên 24,30 mg trong 100 g hạt khô nhờ quá  
trình nảy mầm. Như vậy, hoạt động của các  
enzyme trong quá trình nảy mầm đã giúp giải  
phóng thêm khoảng 31,56% lượng canxi dễ tiêu  
trong hạt. Ở giống DT2008, hàm lượng canxi  
tăng thêm 35,75% trong hạt nảy mầm khi so với  
hạt khô.  
improvement of soy milk made from short-  
time germinated soybeans. Foods, 2(2):  
198-212.  
Martinez A. P. C., Martinesz P. C. C., Souza M.  
C., Brazaca C. S. G., 2011. Chemical  
change in soybean grains with germination.  
Cienc. Tecnol. Aliment., 31(1): 23-30.  
Phạm Luận, 2006. Phương pháp phân tích phổ  
nguyên tử. Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội,  
pp.49-55.  
KẾT LUẬN  
Hoạt động của các enzyme trong hạt đậu  
tương ở giai đoạn nảy mầm sớm đã có tác dụng  
tích cực trong việc giảm hàm lượng chất kháng  
dinh dưỡng phytate: giảm 17,0-48,9% ở giống  
DT84 và 28,0-60,7% ở giống DT2008. Mặc dù  
hàm lượng protein và glucid tổng số trong hạt  
nảy mầm giảm so với hạt khô nhưng hàm lượng  
các kim loại tự do, dễ tiêu trong hạt lại tăng  
thêm đáng kể, cụ thể 10,31-12,13% sắt, 31,56-  
35,75% canxi và 31,38-43,32% kẽm. Vì vậy,  
hạt đậu tương nảy mầm ở giai đoạn sớm (rễ và  
thân mầm ≤ 0,5 cm) có giá trị dinh dưỡng cao,  
đặc biệt đối với các chế độ ăn kiêng.  
Nguyễn Văn Mã, La Việt Hồng, Ong Xuân  
Phong, 2013. Phương pháp nghiên cứu sinh  
lý thực vật. Nxb. Đại học Quốc Gia Hà Nội,  
pp. 149-152.  
Sattar A., Akhtar M. A., 1990. Irradiation and  
germination effects on phytate, protein and  
amino acids of soybean. Plant Foods Hum.  
Nutr., 40(3): 185-194.  
Shemy H. A. E., 2013. Soybean-bio-active  
compounds.  
Shimizu M., 1992. Purification  
Intech,  
pp.75-411.  
and  
Lời cảm ơn: Nghiên cứu được hỗ trợ về kinh  
phí từ Đề tài cấp cơ sở, mã số SPHN1701TT-01  
của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.  
characterization of phytase from Bacillus  
subtilis (natto) N-77. Biosci. Biotechnol.  
Biochem., 56(8): 1266-1269.  
Tiêu chuẩn Việt Nam, TCVN 4292-88. Đồ hộp-  
phương pháp xác định lipit tự do và lipit  
tổng số. Ban kỹ thuật tiêu chuẩn quốc gia  
TCVN/TC/F13 Phương pháp phân tích và  
lấy mẫu, Tổng cục Tiêu chuẩn đo lường  
chất lượng, Bộ Khoa học và Công nghệ.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Bradford M. M., 1976. A rapid and sensitive  
method for the quantitation of microgram  
quantities of protein utilizing the principle  
of protein-dye binding. Anal. Biochem.,  
72(1-2): 248-254.  
Tiêu chuẩn Việt Nam, TCVN 4594-88. Đồ hộp-  
phương pháp xác định đường tổng số,  
đường khử và tinh bột. Ban kỹ thuật tiêu  
chuẩn quốc gia TCVN/TC/F13 Phương  
pháp phân tích và lấy mẫu, Tổng cục Tiêu  
chuẩn đo lường chất lượng, Bộ Khoa học và  
Công nghệ.  
Phạm Thị Trân Châu, Nguyễn Thị Hiền, Phùng  
Gia Tường, 1997. Thực hành hóa sinh học.  
Nxb. Giáo dục, pp. 51-54.  
Hegeman C. H., Grabau E. A., 2001. A novel  
phytase with sequence similarity to purple  
acid phosphatases is expressed in  
cotyledons  
of  
germinating  
soybean  
Zieliński H., 2003. Contribution of low  
molecular weight antioxidants to the  
antioxidant screen of germinated soybean  
seeds. Plant Foods Hum. Nutr., 58(3): 1-20.  
seedlings. Plant Physiol., 126(4): 1598-  
1608.  
Jiang S., Cai W., Xu B., 2013. Food quality  
82  
Tran Thi Thuy et al.  
ASSESSMENT OF SOME NUTRIENT CONTENTS  
AND ENZYME ACTIVITY IN EARLY GERMINATING BEAN OF TWO  
SOYBEAN VARIETIES (Glycine max) DT84 AND DT2008  
Tran Thi Thuy*, Nguyen Thi Thu Hoai, Tong Thi Mo  
Faculty of Biology, Hanoi National University of Education  
SUMMARY  
Soybeans have become widly important and popular due to a high demand of plant protein and fiber.  
Besides, grains of soybean contain abundance of vitamines, minerals and bioactive compounds such as  
isoflavone, gama- aminobutyric acid... However, some antinutrient compounds such as tripsin inhibitor and  
phytate are available in these grains. In this paper, nutrient compounds (protein, lipid, polysaccharide and  
dissolved minerals) and enzymes of early germinating seeds of soybean varieties (DT84 and DT2008) were  
evaluated and compared to those of non-germinating beans in order to determine a suitable germinating  
period for food processing. Experimental results showed that: Activities of enzymes (protease, amylase and  
phytase) in early germinating soybeans were higher than those in dry beans. Those enzymes have made major  
changes in nutrient compounds of soybeans: proteins, polysaccharides and lipids reduced. Especially, the  
content of phytate, an antinutrient factor, reduced signicantly (17.0-48.9% in DT84 variety and 28.0-60.7% in  
DT2008 variety) during early germinating period of soybeans. However, easy uptake minerals (calcium, iron  
and zinc ions), reduced sugars and peptides were significantly increased. In detail, the increase in dissolve  
iron cation was 10.31-12.13%, calcium cation was 31.56-35.75% and zinc cation was 31.38-43.32%. These  
results confirmed the positive effect of germinating soybeans in food processing.  
Keywords: germinating soybeans; phytate; phytase, amylase, protease  
Citation: Tran Thi Thuy, Nguyen Thi Thu Hoai, Tong Thi Mo, 2018. Assessment of some nutrient contents  
and enzyme activity in early germinating bean of two soybean varieties (Glycine max) DT84 and DT2008.  
Tap chi Sinh hoc, 40(1): 76-83. DOI: 10.15625/0866-7160/v40n1.10865.  
*Corresponding author: thuy_tt@hnue.edu.vn  
Received 7 November 2017, accepted 20 December 2017  
83  
pdf 8 trang Mãnh Khiết 15/01/2024 6960 Free
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá hàm lượng một số yếu tố dinh dưỡng và Enzyme trong giai đoạn nảy mầm sớm của hai giống đậu tương (Glycine Max) DT84 và DT2008", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdanh_gia_ham_luong_mot_so_yeu_to_dinh_duong_va_enzyme_trong.pdf