Tạo nội sinh nhân tạo nấm Bạch Cương (Beauveria Bassiana) cho bạch đàn Camal để phòng trừ ong đen (leptocybe invasa) gây u bướu

Tạp chí KHLN 1/2016 (4218 - 4224)  
©: Viện KHLNVN - VAFS  
ISSN: 1859 - 0373  
Đăng tải tại: www.vafs.gov.vn  
TẠO NỘI SINH NHÂN TẠO NẤM BẠCH CƯƠNG (Beauveria bassiana)  
CHO BẠCH ĐÀN CAMAL ĐỂ PHÒNG TRỪ ONG ĐEN (Leptocybe invasa)  
GÂY U BƯỚU  
Lê Văn Bình, Đặng Như Quỳnh, Phạm Quang Thu  
Trung tâm Nghiên cứu Bảo vệ rừng - Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam  
TÓM TẮT  
Nấm Bạch cương (Beauveria bassiana) là một loài nấm ký sinh phổ biến  
đối với nhiều loài côn trùng. Các chế phẩm từ nấm B. bassiana đã được  
biết đến và sử dụng rộng rãi để phòng trừ sinh học trong nông, lâm  
nghiệp. Nhiều chủng nấm được nhân sinh khối và sản xuất thuốc trừ sâu  
sinh học ở nhiều quốc gia. Loài nấm này đã được phát hiện sống nội sinh  
tự nhiên với rất nhiều loài thực vật. Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng nấm  
Bạch cương (B. bassiana) có thể sống nội sinh nhân tạo với một số loài  
thực vật. Khi gây nhiễm, sợi nấm xâm nhiễm, lan truyền và sống trong mô  
của thực vật. Cho đến ngày nay, nấm Bạch cương đã được ghi nhận sống  
nội sinh nhân tạo trên các loài cây như: Ngô, Khoai tây, Cà chua, Ca cao,  
Bông, Lúa mỳ và Chuối. Bài báo này trình bày thí nghiệm tạo nội sinh  
nhân tạo nấm Bạch cương (B. bassiana) cho cây Bạch đàn camal  
(Eucalyptus camaldulensis) để phòng trừ loài Ong đen (Leptocybe invasa)  
Từ khóa: Nội sinh nhân  
tạo, Beauveria bassiana,  
Eucalyptus camaldulensis,  
Leptocybe invasa  
gây u bướu. Nhiễm nhân tạo nấm Bạch cương được thực hiện theo 2  
phương pháp: tưới bào tử nồng độ 108CFU/ml vào hạt giống nảy mầm và  
hạt giống nảy mầm trên hệ sợi nấm trong thời gian 7 ngày. Kết quả chỉ ra  
rằng sau 12 tuần nhiễm nấm, nấm Bạch cương sống và tồn tại trong lá,  
chồi và thân cây con Bạch đàn camal với tỷ lệ 76,7% đối với phương pháp  
tưới dung dịch bào tử và 80,0% đối với phương pháp hạt giống nảy mầm  
trên hệ sợi nấm. Chiều cao của cây con nhiễm nấm cao hơn 33,2% và tỷ lệ  
bị hại giảm 82,1% so với đối chứng cây con không nhiễm nấm. Mức độ bị  
hại của cây con nhiễm nấm rất nhỏ trong khi đó cây không nhiễm nấm bị  
hại nặng. Kết quả nghiên cứu trên mở ra một triển vọng mới trong phòng  
trừ sâu hại.  
Establishing the entomopathogenic fungus Beauveria bassiana as an  
artificial endophyte in Eucalyptus camaldulensis for the control of the  
gall wasp Leptocybe invasa.  
The fungus Beauveria bassiana is a common fungal parasite of many  
arthropod species. The entomopathogenic properties of B. bassiana are  
Keywords: Artificial  
well-known and it is used widely in biological control strategies in  
endophyte, Beauveria  
agriculture and forestry. Some strains of the fungus are mass-produced as  
bassiana, Eucalyptus  
commercial biological insecticides in many countries. This fungus can live  
camaldulensis, Leptocybe  
as a natural endophyte in various plant species. Some studies have shown  
invasa.  
that B. bassiana can survive as an artificial endophyte in several plants. Its  
mycelium can infect, colonize and survive in plant tissues after artificial  
inoculation. Until now, B. bassiana has been reported only as an artificial  
endophyte of maize, potato, tomato, cocoa, cotton, wheat and banana.  
Therefore, the aim of this study is to experiment B. bassiana as an  
artificical endophyte of Eucalyptus camaldulensis for the control of the  
gall wasp Leptocybe invasa. We established artificial inoculation of the  
fungus as an endophyte in E. camaldulensis seedlings using two methods:  
(1) geminated seeds were drenched with conidial solution with a  
4218  
Lê Văn Bình et al., 2016(1)  
Tạp chí KHLN 2016  
concentration of 108 CFU/ml of B. bassiana, and (2) germinated seeds  
were grown in a fungal mat of B. bassiana for 7 days. Results showed that  
at 12 weeks post-inoculation, B. bassiana had colonized the leaves, shoots  
and stems of the seedlings, with 76.7% of seedlings colonized using the  
conidial solution on germinated seeds and 80.0% colonized using  
germinated seeds grown in fungal mats. Height of seedlings colonized  
with B. bassiana was increased by 33.2% compared to non-inoculated  
control seedlings. Damage index scored for L. invasa on colonized  
seedlings was reduced by 82.1% compared to control seedlings and the  
damage severity of the colonized seedlings was also low, in the other  
hand, the non-colonized control seedlings got high level of damage.  
hàng loạt sâu đục thân ở châu Âu, trên khoai  
I. ĐẶT VẤN ĐỀ  
tây (Jones, 1994), cà chua (Leckie, 2002), ca  
Nấm Bạch cương (Beauveria bassiana) được  
biết đến là một tác nhân gây bệnh cho côn  
trùng, chúng có thể xâm nhiễm nhiều loài côn  
trùng gây hại thuộc bộ Cánh vảy  
(Lepidoptera), bộ Cánh cứng (Coleoptera), bộ  
Cánh màng (Hymenoptera) và cả bộ Cánh nửa  
cứng (Hemiptera), bộ Hai cánh (Diptera)  
(Yoshinori và Harry, 1993). Ở nước ta nấm  
Bạch cương đã và đang được sử dụng trong  
phòng trừ Sâu róm thông và một số loài sâu tơ  
trong nông nghiệp, các sản phẩm từ chúng  
ngày càng được phát triển thương mại hóa và  
có tên trong danh sách các chế phẩm sinh học  
cao và ngô (Arnold và Lewis, 2005) và trên  
cây (Theobroma gileri) một cây cùng họ với  
ca cao (Evans et al., 2003). Posada và Vega  
(2005) đã thành công khi nhiễm nấm B.  
bassiana cho cây con ca cao trong ống  
nghiệm để kháng lại sâu đục vỏ quả. Parsa và  
đồng tác giả (2013) đã nhiễm nấm B.  
bassiana cho cây Đậu (Phaseolus vulgaris),  
kết quả cho thấy (B. bassiana) có trong 80%  
các bộ phận được lây nhiễm.  
Với khả năng ký sinh côn trùng và đóng vai  
trò như một loài nấm nội sinh B. bassiana mở  
phòng trừ sâu trong nông lâm nghiệp. Nhưng ra hướng đi mới trong phòng trừ các loài sâu  
phần lớn được sử dụng dưới dạng bột hoặc  
dạng dung dịch để phun trực tiếp lên côn trùng  
và những vị trí mà sâu di chuyển qua. Phương  
pháp này không mang lại hiệu quả cao đối với  
những loài côn trùng gây hại sống trong thân  
cây, vì khả năng tiếp xúc của nấm với các loài  
này rất thấp. Với loài Ong đen (L. invasa) vị  
trí gây hại là ngọn, cuống và gân lá bạch đàn,  
pha trứng, sâu non và nhộng sống trong mô  
của cây chủ nên việc sử dụng thuốc hóa học và  
sinh học trong phòng trừ sẽ gặp nhiều khó  
khăn. Khi các loài nấm ký sinh côn trùng sống  
nội sinh, tạo ra các hợp chất hóa học, tăng  
cường khả năng kháng sâu hại của cây chủ.  
Bing và Lewis (1991) đã chỉ ra rằng B.  
bassiana đã được nhiễm vào cây ngô làm chết  
hại trong nông lâm nghiệp. Do vậy chúng tôi  
tiến hành thử nghiệm việc nhiễm nấm vào cây  
Bạch đàn camal (Eucalyptus camaldulensis)  
bằng phương pháp tưới dung dịch bào tử khi  
gieo ươm cây con và phương pháp nhiễm nấm  
cho hạt giống nảy mầm trên hệ sợi nấm trong  
7 ngày. Bài báo này trình bày kết quả về  
phương pháp nhiễm nấm cho cây và đánh giá  
hiệu quả phòng trừ Ong đen gây u bướu bạch  
đàn của cây được nhiễm nấm.  
II. VẬT LIỆU, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
2.1. Vật liệu  
Sâu non Ong ăn lá thông (Neodiprion sp.), trưởng  
thành Cầu cấu xanh (Hypomeces squamosus) và  
4219  
Tạp chí KHLN 2016  
Lê Văn Bình et al., 2016(1)  
trưởng thành Mọt forni (Euwallacea fornicatus) 1 lần/ngày liên tục trong 1 tuần. Khi cây được  
bị nhiễm nấm Bạch cương.  
4 - 6 lá chuyển ra trồng trong bầu đất vô trùng.  
Hạt giống Bạch đàn camal (Eucalyptus  
camaldulensis).  
Nhiễm nấm bằng phương pháp hạt giống nảy  
mầm trên hệ sợi nấm: Hạt được khử trùng cấy  
trên môi trường nuôi cấy mô (Trigiano và  
Gray, 2010). Sau khi cây được hai tuần tuổi thì  
tiến hành nhiễm nấm vào môi trường, sau 7  
ngày đưa cây ra huấn luyện ánh sáng trước khi  
chuyển ra bầu.  
2.2. Phương pháp nghiên cứu  
2.2.1. Phân lập các chủng nấm Beauveria  
bassiana và tuyển chọn chủng có hiệu lực cao  
Các mẫu côn trùng chết do nấm B. bassiana  
được thu thập từ rừng, trên cơ thể côn trùng  
được bao phủ lớp bột màu trắng. Dùng kim  
khử trùng khều nhẹ một ít bào tử được tách ra  
và hòa tan trong 1 giọt nước vô trùng trên phiến  
kính, sau đó dùng que cấy cấy dạng zíc zắc trên  
môi trường thạch khoai tây dextrose (PDA) có  
bổ sung streptomycin 1%. Hộp lồng cấy nấm  
được đặt trong tủ định ôn 25oC, sau 2 - 3 ngày,  
tách khuẩn lạc riêng rẽ ra môi trường mới.  
Đánh giá hiệu lực phòng trừ Ong đen của cây  
con Bạch đàn camal được nhiễm nấm  
Beauveria bassiana  
Kiểm tra sự tồn tại của nấm trong cây sau 3  
tháng, lựa chọn những cây đã kết hợp với kiểm  
tra sinh trưởng và tỷ lệ bị hại, mức độ bị hại  
của các cây con được nhiễm nấm và không  
được nhiễm nấm.  
Phương pháp phân lập mẫu như sau: Lấy mẫu  
lá ở các công thức rửa sạch, khử trùng bằng  
NaClO 0,5% trong hai phút sau đó rửa qua cồn  
70% trong 2 phút và rửa lại ba lần bằng nước  
cất vô trùng. Các mẫu lá được cắt nhỏ kích  
thước 3 × 4mm đặt vào môi trường PDA có  
chứa kháng sinh (tetracycline, streptomycin và  
penicillin với 2mg/lít mỗi loại). Sau 4 - 6 ngày  
kiểm tra đánh giá sự xuất hiện của nấm  
B. brassiana.  
Từ các chủng phân lập được lựa chọn một  
chủng mạnh nhất bằng cách pha dung dịch bào  
tử nấm B. bassiana ở ba nồng độ 106;108;1010  
(CFU/ml ) phun lần lượt lên Ong đen gây u  
bướu. Tiến hành đặt các đĩa petri có sẵn mật  
ong và 10 ong trưởng thành, mỗi chủng nấm  
thực hiện trên 2 đĩa Petri ở 3 nồng độ khác  
nhau như trên và công thức đối chứng phun  
nước cất (lặp 3 lần). Kiểm tra và đánh giá sau  
2 - 4 ngày tỷ lệ ong chết do nấm.  
Kết quả đánh giá khả năng kháng ong của cây  
con được nhiễm nấm B. bassiana ở vườn ươm  
thông qua việc điều tra xác định tỷ lệ bị hại,  
mức độ bị hại và số liệu sinh trưởng về đường  
kính gốc (D0) và chiều cao vút ngọn (Hvn) của  
Bạch đàn camal.  
2.2.2. Phương pháp nhiễm nấm Beauveria  
bassiana vào Bạch đàn camal và đánh giá  
hiệu lực phòng trừ Ong đen  
Nhiễm nấm bằng phương pháp tưới: xử lý hạt  
Bạch đàn camal bằng cách ngâm trong NaClO  
nồng độ 0,5% trong hai phút, sau đó chuyển  
sang ngâm cồn 70% trong 2 phút. Cuối cùng  
rửa qua 3 lần bằng nước cất vô trùng. Gieo hạt  
vào rổ cát vô trùng, để ở nhiệt độ phòng, tưới  
nước vô trùng để duy trì độ ẩm cho hạt nảy  
mầm. Phun dung dịch bào tử nấm trên rổ cát  
khi hạt bắt đầu nứt nanh và nảy mầm. Phun  
Tỷ lệ cây bị ong u bướu hại được xác định  
theo công thức:  
Trong đó: n: là số cây bị ong hại, N: là tổng số  
cây điều tra.  
4220  
Lê Văn Bình et al., 2016(1)  
Tạp chí KHLN 2016  
Cây bị hại trong các công thức được phân như sau:  
cấp cho từng cây với các cấp và tiêu chí  
Cấp hại  
Chỉ tiêu phân cấp  
0
1
2
3
4
Cây khỏe mạnh, không bị Ong đen gây hại.  
< 25% gân lá và ngọn, cành non bị Ong đen gây hại.  
25 - < 50% gân lá và ngọn, cành non bị Ong đen gây hại.  
50 - < 75% gân lá và ngọn, cành non bị Ong đen gây hại.  
≥ 75% gân lá và ngọn, cành non bị Ong đen gây hại.  
Chỉ số bị hại bình quân trong ô tiêu chuẩn được 3 chủng nấm ký hiệu là Bb1, Bb2 và  
được tính theo công thức sau:  
Bb3. Trong nuôi cấy thuần khiết, tốc độ sinh  
trưởng của các chủng nấm là khác nhau và  
chủng nấm Bb3 sinh trưởng nhanh nhất. Nấm  
B. bassiana (chủng Bb3) bào tử tập trung kết  
lại thành khối tròn, khối này được tạo thành  
bởi những tế bào sinh bào tử đính hình cầu,  
có cuống bị kéo dài thành hình zic zắc không  
đều sau mỗi bào tử đính được sinh ra. Bào tử  
đính hình cầu đến gần cầu đường kính 1 -  
3µm (Hình 1). Sợi nấm màu trắng, ngắn, chiều  
ngang khoảng 3 - µm, mang nhiều cuống sinh  
bào tử và bào tử, sợi nấm mỏng mọc sát môi  
trường, mọc theo hình tỏa đều, bề mặt trơn và  
có nhiều bột (Hình 2).  
Trong đó: R: chỉ số bị Ong đen hại trung bình.  
ni: số cây bị hại với chỉ số bị ong hại i.  
vi: là trị số của cấp bị ong hại thứ i.  
N: tổng số cây điều tra.  
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  
3.1. Kết quả phân lập và tuyển chọn chủng  
nấm Beauveria bassiana  
Từ các mẫu sâu bị nhiễm nấm đã phân lập  
Hình 1: Bảo tử đính của nấm B. bassiana  
Hình 2: Sợi nấm trên môi trường PDA  
Bào tử của nấm B.bassiana có kích thước nhỏ, nhân nuôi với số lượng lớn sử dụng trong  
số lượng lớn và sinh trưởng nhanh. Do vậy, có phòng trừ sâu hại.  
nhiều thuận lợi trong việc sử dụng nấm để  
4221  
Tạp chí KHLN 2016  
Lê Văn Bình et al., 2016(1)  
Tiến hành thí nghiệm kiểm tra hiệu lực của bào tử khác nhau. Kết quả thu được và tính  
nấm với Ong đen trưởng thành ở các nồng độ toán trình bày ở bảng 1.  
Bảng 1. Tỷ lệ chết của Ong đen trưởng thành sau khi phun nấm B. bassiana  
Tỷ lệ Ong đen trưởng thành chết (%)  
TT  
Chủng khuẩn  
Nồng độ  
Sau 2 ngày  
3,2  
Sau 3 ngày  
44,7  
Sau 4 ngày  
88,0  
106CFU/ml  
108CFU/ml  
101oCFU/ml  
106CFU/ml  
108CFU/ml  
1010CFU/ml  
106CFU/ml  
108CFU/ml  
1010CFU/ml  
1
Chủng Bb1  
3,0  
58,0  
95,3  
3,0  
72,0  
97,3  
2,5  
49,3  
91,3  
2
Chủng Bb2  
2,2  
57,3  
97,3  
2,2  
73,3  
98,0  
2,2  
48,7  
96,0  
3
4
Chủng Bb3  
1,5  
62,0  
100  
1,5  
77,3  
100  
Đối chứng (nước cất)  
1,5  
6,0  
17,8  
Từ kết quả bảng 1 cho thấy sau hai ngày đầu  
phun nấm tỷ lệ Ong đen trưởng thành chết ở cả  
ba chủng không có sự chênh lệch nhiều với  
nhau và với đối chứng. Sang ngày thứ 3 số  
lượng Ong chết tăng đáng kể, mặc dù giữa các  
chủng nấm chưa có sự sai khác rõ rệt nhưng so  
với đối chứng thì có sự khác biệt hoàn toàn.  
Sau ba ngày, nồng độ phun cũng cho thấy sự  
khác biệt rõ ràng, ở mật độ bào tử nấm B.  
bassiana càng cao số lượng Ong chết càng  
lớn. Ở mật độ 106CFU/ml tỷ lệ ong chết trung  
bình dao động là 44,7% đến 49,3%; ở mật độ  
108CFU/ml là 57,3% đến 62,0%, trong khi đó  
ở mật độ 1010CFU/ml là 72,0% đến 77,3% còn  
ở công thức đối chứng tỷ lệ ong chết thấp  
trung bình là 6%. Đến ngày thứ 4 số lượng  
Ong sống không còn nhiều, tỷ lệ ong chết ở  
các chủng đều ở mức cao đến rất cao từ 88,0%  
đến 100%. Tuy nhiên, phun chủng nấm Bb3 ở  
mật độ 108CFU/ml và 1010CFU/ml không còn  
một cá thể nào sống sót, còn ở công thức đối  
chứng số lượng Ong chết là 17,8%. Trong các  
chủng nấm thử nghiệm, chủng nấm Bb3 có  
hiệu quả mạnh nhất và tốt nhất ở nồng độ  
108CFU/ml và 1010 CFU/ml, ong chết sau 4  
ngày, nấm B. bassiana phát triển bao phủ  
toàn bộ cơ thể. Do vậy chủng Bb3 là chủng sẽ  
được lựa chọn để làm thí nghiệm nhiễm cho  
bạch đàn.  
3.2. Đánh giá hiệu quả phương pháp nhiễm  
nấm Beauveria bassiana vào Bạch đàn camal  
Sau 4 tuần nhiễm nấm B. bassiana cho cây  
Bạch đàn camal bằng 2 phương pháp (tưới  
nấm hạt giống nảy mầm và hạt giống nảy mầm  
trên hệ sợi nấm), kiểm tra sự tồn tại của nấm  
trong lá cây bạch đàn, kết quả thí nghiệm chỉ  
ra rằng việc nhiễm nấm bằng hai phương  
pháp: tưới bào tử nồng độ 108CFU/ml vào hạt  
giống nảy mầm và hạt giống nảy mầm trên hệ  
sợi nấm trong thời gian 7 ngày đều thu được  
kết quả tốt. Phương pháp tưới đạt tỷ lệ nhiễm  
nấm 76,7%, trong khi đó đối với phương pháp  
hạt giống nảy mầm trên hệ sợi nấm đạt tỷ lệ  
80,0%, cao hơn không đáng kể so với phương  
pháp tưới dung dịch bào tử vào hạt bạch đàn  
nứt nanh gieo trong cát ẩm. Như vậy, trong sản  
xuất có thể áp dụng biện pháp tưới dung dịch  
bào tử nấm B. bassiana, nồng độ 108CFU/ml  
khi gieo ươm bạch đàn để tạo cây con được  
nhiễm nấm B. bassiana sống nội sinh trong mô  
lá và thân của cây bạch đàn non.  
3.3. Hiệu quả kích kháng và sinh trưởng của  
cây con được nhiễm nấm Beauveria bassiana  
Những cây con sau ba tháng khi đã được kiểm  
tra sự có mặt của nấm B. bassiana được xếp  
riêng thành một công thức là công thức 1: cây  
4222  
Lê Văn Bình et al., 2016(1)  
Tạp chí KHLN 2016  
con được nhiễm nấm B. bassiana (Hình 3) để cây con không được nhiễm nấm (Hình 4). Tiến  
đánh giá hiệu quả kích kháng và sinh trưởng hành đo sinh trưởng của cây, tỷ lệ cây bị Ong  
của cây con được nhiễm nấm Beauveria đen ký sinh và chỉ số bị hại của 2 công thức thí  
bassiana tại vườn ươm Viện Khoa học Lâm nghiệm cây con được nhiễm nấm và cây con  
nghiệp Việt Nam (thời điểm thí nghiệm từ không được nhiễm nấm. Kết quả thí nghiệm  
tháng 5 đến tháng 7 năm 2015 là mùa Ong đen được trình bày ở bảng 2.  
xuất hiện và gây hại bạch đàn) và Công thức 2:  
Bảng 2. Hiệu quả kích kháng Ong đen hại bạch đàn của nấm Bạch cương (chủng Bb3)  
(thí nghiệm sau 3 tháng)  
Chỉ tiêu  
Sinh trưởng về chiều  
cao bạch đàn Hvn  
(cm)  
Chỉ số bị  
hại trung  
bì nh (Rtb)  
TT  
Công thức  
Tỷ lệ bị hại  
Sd  
Sd  
Sd  
(P%)  
1
2
Cây con được nhiễm nấm  
33,7  
25,3  
±0,25  
±0,28  
13,4  
0,18  
±0,33  
±0,29  
75,0  
2,52  
±0,42  
±0,36  
Cây con không được nhiễm nấm  
tương ứng với cấp bị hại nặng. Từ kết quả trên  
cho thấy, nhờ áp dụng khả năng nội sinh của  
nấm B. bassiana giúp việc phòng trừ bằng  
nấm hiệu quả hơn rất nhiều. Nấm B. bassiana  
không chỉ được biết đến là một loại thuốc trừ  
sâu sinh học được sử dụng bằng cách phun  
tưới dạng bột, mà chúng còn có thể nội sinh  
trong cây, giúp cây tiêu diệt những loài ký sinh  
gây hại trong thân. Đây là một kết quả có ý  
nghĩa trong việc phòng trừ loài Ong đen gây u  
bướu bằng biện pháp sinh học.  
Từ kết quả ở bảng 2 cho thấy ở công thức 1  
cây được nhiễm nấm có sinh trưởng trung bình  
về chiều cao tăng hơn 33,2% so với đối chứng  
cây không được nhiễm nấm. Bên cạnh đó công  
thức đối chứng không được nhiễm B. bassiana  
có tỷ lệ bị hại là rất cao (75%), còn với công  
thức cây con được nhiễm nấm tỷ lệ cây bị hại  
là 13,4% (giảm 82,1% tỷ lệ bị hại so với đối  
chứng). Đáng chú ý là cây con được nhiễm  
nấm có chỉ số bị hại trung bình rất thấp (0,18)  
cây bị hại nhẹ, trong khi đó cây con ở công  
thức đối chứng có chỉ số bị hại cao (2,52)  
Hình 3. Cây bạch đàn được nhiễm  
Hình 4. Cây bạch đàn đối chứng  
B. bassiana  
4223  
Tạp chí KHLN 2016  
Lê Văn Bình et al., 2016(1)  
Cây con được nhiễm nấm sinh trưởng phát  
triển nhanh hơn, tỉ lệ và mức độ bị hại do loài  
Ong đen gây ra thấp hơn so với cây con không  
được nhiễm nấm. Chiều cao của cây con  
nhiễm nấm cao hơn 33,2% và tỷ lệ bị hại giảm  
82,1% so với đối chứng là cây con không  
nhiễm nấm. Kết quả nghiên cứu trên mở ra  
một triển vọng mới trong phòng trừ sâu hại  
trên cây trồng nói chung và cây rừng nói riêng.  
VI. KẾT LUẬN  
Nấm Bạch cương (B. bassiana) chủng Bb3 có  
hiệu lực cao đối với phòng trừ loài Ong đen  
gây u bướu bạch đàn. Sau 12 tuần tạo nội sinh  
nhân tạo nấm Bạch cương cho cây con Bạch  
đàn camal nấm Bạch cương sống và tồn tại  
trong lá, chồi và thân cây con Bạch đàn camal  
với tỷ lệ 76,7% đối với phương pháp tưới dung  
dịch bào tử và 80,0% đối với phương pháp hạt  
giống nảy mầm trên hệ sợi nấm Bạch cương.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Arnold, A. E., Lewis, L. C., 2005. Ecology and evolution of fungal endophytes and their roles against insects.  
In: Vega FE, Blackwell M (eds), Insect - Fungal Associations: Ecology and Evolution. Oxford University Press,  
New York. 74 - 96.  
2. Bing, L. A., Lewis, L. C., 1991. Suppression of Ostrinia nubilalis (Hubner) (Lepidoptera, Pyralidae) by  
endophytic Beauveria bassiana (Balsamo) Vuillemin. Environmental Entomology 20: 1207 - 1211.  
3. Jones, K. D., 1994. Aspects of the biology and biological control of the European corn borer in North Carolina  
[Doctoral dissertation]. Raleigh: North Carolina State University. 127p.  
4. Leckie, B. M., 2002. Effects of Beauveria bassiana mycelia and metabolites incorporated into synthetic diet and  
fed to larval Helicoverpa zea, and detection of endophytic Beauveria bassiana in tomato plants using PCR and  
ITS [Master’s dissertation]. Knoxville: The University of Tennessee. 75 p.  
5. Parsa, S., Ortiz, V., Vega, F.E., 2013. Establishing Fungal Entomopathogens as Endophytes: Towards  
Endophytic Biological Control. J. Vis. Exp. (74), e50360, doi:10.3791/50360.  
6. Posada, F. J & Vega, F.E., 2005. Establishment of the fungal entomopathogen Beauveria bassiana  
(Ascomycota: Hypocreales) as an endophyte in cocoa seedlings (Theobroma cacao), Mycologia, 97(6): 1195 -  
1200.  
7. Trigiano, Robert N. & Gray, Dennis J., 2010. Plant Tissue Culture, Development and Biotechnology. Boca  
Raton: CRC Press. 186p. ISBN 1 - 4200 - 8326 - 0.  
8. Vega, F. E., 2008. Insect pathology and fungal endophytes. Journal of invertebrate pathology. 98: 277 - 279.  
9. Yoshinori Tanada and Harry K. Kaya, 1993. Insect pathology. Academic press, IRC. Harcount brace  
jovanovich, publishers, San Diego/ New Yourk/ Boston/London/ Sydney/Tokyo/Toronto.  
Người thẩm định: GS.TS. Nguyễn Thế Nhã  
4224  
pdf 7 trang Mãnh Khiết 15/01/2024 9900 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tạo nội sinh nhân tạo nấm Bạch Cương (Beauveria Bassiana) cho bạch đàn Camal để phòng trừ ong đen (leptocybe invasa) gây u bướu", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftao_noi_sinh_nhan_tao_nam_bach_cuong_beauveria_bassiana_cho.pdf