Các chất chiết xuất từ lá cây keo lai (Acacia Hybrids)

Tạp chí KHLN 1/2016 (4276 - 4284)  
©: Viện KHLNVN - VAFS  
ISSN: 1859 - 0373  
Đăng tải tại: www.vafs.gov.vn  
CÁC CHẤT CHIẾT XUẤT TỪ LÁ CÂY KEO LAI (Acacia hybrids)  
Nguyễn Thị Minh Nguyệt  
Viện Công nghiệp gỗ, Trường Đại học Lâm nghiệp  
TÓM TẮT  
Bài báo trình bày các kết quả nghiên cứu bước đầu thu nhận các chất chiết  
xuất từ lá cây keo lai bằng các dung môi khác nhau. Hàm lượng chất chiết  
xuất trong nước nóng, nước lạnh tương ứng là 15,7% và 6,9%, chất chiết  
xuất trong acetone khoảng 4,8%, trong etano là 15,67%, trong ete dầu hỏa  
và dietylete tương ứng là 5,3% và 4,6%. Bước đầu thử nghiệm sự phù hợp  
của quá trình chiết xuất trong acetone và ete dầu hỏa. Sau khi chiết tách,  
các chất chiết xuất được hòa tan trong dung môi ete dầu hỏa theo quá trình  
chiết phân bổ. Hiệu suất một số sản phẩm như các axit hữu cơ, các chất  
trung tính và chất diệp lục có sự thay đổi đáng kể. Hiệu suất axit hữu cơ  
đạt từ 0,61 đến 1,82%, các chất trung tính: từ 2,13 đến 5,43% và natri  
clorophyl đạt 0,16 đến 0,23% so với khối lượng lá khô. Phổ UV - VIS của  
natri clorophyl, thành phần cơ bản của các axit hữu cơ và các chất trung  
tính được xác định. Các kết quả nghiên cứu là cơ sở cho việc nghiên cứu  
sử dụng các sản phẩm từ lá cây keo lai Acacia hybrids.  
Từ khóa: Axit hữu cơ,  
acetone, chất chiết xuất,  
chất trung tính, keo lai  
The extractives from leaves of Acacia hybrid  
This paper presents the results of the preliminary studies of extractives  
from leaves of Acacia hybrid. Some chemical compositions of the leaves  
have been identified, the method of extraction in petroleum ether and  
acetone has been applied, several methods for improving the extraction  
effectiveness were studied. After separation of the extractives dissolved in  
petroleum ether, some target products were quantified such as organic  
acids, neutral substances and sodium chlorophyll. Organic acids of up  
0.61 to 1.82%, neutral substances of up 2.13 to 5.43 and sodium  
chlorophyll of up 0.16 to 0.23% of dry leaves weight were obtained. An  
UV - VIS spectrum of sodium chlorophyll wasused for identifying the  
preliminary composition of organic acids and neutral substances. Analysis  
of leaves powder extracted by petroleum ether showed that the crude fiber  
content and nutritional contents were comparable with some kind of  
animal feed additives, such as sweet potato leaves, soybean stems and  
banana stalks. The research results are the base for the further study of the  
utilization of natural products from acacia leaves.  
Keywords: Acacia hybrid,  
extractives, neutral  
substances, organic acids  
.
4276  
Nguyễn Thị Minh Nguyệt, 2016(1)  
Tạp chí KHLN 2016  
I. MỞ ĐẦU  
này. Nghiên cứu sử dụng hiệu quả nguồn sinh  
khối thực vật đang là hướng nghiên cứu được  
quan tâm nhiều. Các nghiên cứu tách chiết các  
sản phẩm tự nhiên mới chỉ chủ yếu tập trung  
vào các loài thảo dược, trong khi đó từ lá cây  
công nghiệp cũng có thể sản xuất ra các sản  
phẩm có giá trị và ứng dụng rộng rãi.  
Ngày nay vấn đề sử dụng hiệu quả toàn bộ  
nguồn sinh khối của rừng ngày càng được chú  
ý. Nó liên quan đến những vấn đề mang tính  
toàn cầu, như giữ gìn sự cân bằng sinh thái  
nhằm bảo vệ môi trường sống, nhu cầu ngày  
một tăng của xã hội về các sản phẩm từ sinh  
khối thực vật, và chống lại sự biến đổi khí hậu  
đang tạo ra những nguy cơ lớn. Hằng năm có  
tới trên dưới 200 tỉ tấn sinh khối thực vật được  
tạo thành, tương ứng với 100 tỉ tấn chất khô,  
trong đó 95% là cacbohydat và các hợp chất có  
giá trị, thế nhưng nhân loại mới chỉ sử dụng  
được khoảng 5% làm nguyên liệu sản xuất ra  
hàng ngàn sản phẩm có giá trị. Vấn đề sử dụng  
hiệu quả tài nguyên rừng đã được quan tâm từ  
lâu, song nó chỉ được chú ý đúng mức ở một  
số nhỏ các quốc gia có nền khoa học kỹ thuật  
tiên tiến. Còn hầu hết các nước đang phát  
triển, vấn đề này có thể nói chưa được quan  
tâm. Một lượng lớn phế liệu, phế thải chế biến  
nguyên liệu gỗ và phi gỗ chưa có phương pháp  
tận dụng. Mặc dù chưa có nghiên cứu và thống  
kê nào về tỉ lệ phế thải khi khai thác, song theo  
đánh giá thì có ít nhất 10% phế liệu gỗ (bao  
gồm cành nhánh, lá khi khai thác và mùn vụn  
gỗ khi chế biến nguyên liệu) có thể thu gom và  
sử dụng được, tuy nhiên chỉ một phần nhỏ (chỉ  
vài chục phần trăm) được tận dụng cho các  
mục đích khác nhau (sản xuất ván nhân tạo,  
củi đốt, phân bón hữu cơ,...), còn lại hầu hết bị  
thải bỏ hoặc xử lý bằng cách đốt, gây lãng phí  
và ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường và  
bảo vệ rừng.  
Nghiên cứu này không đặt mục đích tách và  
phân lập các hợp chất tự nhiên thành sản  
phẩm có độ tinh khiết cao, tuy nhiên đây sẽ  
là cơ sở cho các nghiên cứu công nghệ chế  
biến lá cây nguyên liệu thành các sản phẩm  
có giá trị, góp phần bảo vệ môi trường và  
nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn tài nguyên  
rừng trong nước.  
II. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
2.1. Nguyên liệu lá cây keo lai  
Lá cây keo lai lấy từ cây keo độ tuổi khai thác  
ở rừng thực nghiệm Đại học Lâm nghiệp. Lá  
được lấy từ 03 cây keo độ tuổi 5 - 6 năm ở các  
vị trí khác nhau trên 1 lô (diện tích) rừng  
trồng.  
Lá cây được phơi khô, nghiền nhỏ bằng máy  
nghiền búa với sàng lỗ 1,0mm. Để phân tích  
thành phần hóa học cơ bản của lá cây, lấy phần  
qua sàng 0,5mm và trên sàng 0,25mm.  
2.2. Phương pháp nghiên cứu  
Một số thành phần hóa học cơ bản đáng chú ý  
của lá cây, được xác định theo các phương  
pháp tiêu chuẩn hóa của Hiệp hội kỹ thuật  
công nghiệp bột giấy và giấy Mỹ (TAPPI).  
- Độ ẩm nguyên liệu, các sản phẩm trung gian  
và sản phẩm phân tích được xác định theo  
TAPPI T207cm - 99:  
Nước ta là một quốc gia có diện tích rừng và  
trữ lượng gỗ rừng trồng tương đối lớn, trong  
đó phần lớn là keo và bạch đàn. Cây keo là cây  
gỗ rừng trồng. Ngoài mục đích lấy gỗ thì lá  
cây keo còn có khả năng cải tạo đất, tỷ lệ lá  
cây cành nhánh phế liệu chiếm tới 40% lượng  
sinh khối, hiện nay chưa có nghiên cứu nào về  
lá keo lai để thấy rõ tác dụng của loại phế liệu  
- Xác định hàm lượng các chất trích ly bằng  
dung môi hữu cơ theo tiêu chuẩn TAPPI  
T204cm - 97:  
- Xác định hàm lượng các chất tan trong nước  
lạnh theo tiêu chuẩn TAPPI T207cm - 99:  
4277  
Tạp chí KHLN 2016  
Nguyễn Thị Minh Nguyệt, 2016(1)  
- Xác định hàm lượng các chất tan trong nước lọc lấy dịch chiết, rửa nhiều lần bằng dung môi  
nóng theo tiêu chuẩn TAPPI T207cm - 99:  
mới và thu lấy dịch chiết. Sau đó để lắng dịch  
chiết thu được ở nhiệt độ < 10oC trong vòng từ  
10 - 15 giờ, lọc lại để tách cặn và tách sáp,  
chưng cất thu hồi dung môi, sấy chân không  
và xác định hiệu suất các chất trích ly. Cao  
chiết thu được sử dụng cho phân tích trong các  
nghiên cứu sau.  
Xử lý lá cây bằng các loại dung môi khác nhau  
(độc lập hay hỗn hợp dung môi) được tiến  
hành trong các bình tam giác dung tích 250 -  
1000ml, mỗi lần tiến hành với khoảng 50(g)  
nguyên liệu, ở nhiệt độ trong khoảng 25oC -  
60oC (tương ứng với nhiệt độ phòng thí  
nghiệm và nhiệt độ sôi của dung môi), trong Chế biến lá và phân tách cao chiết được tiến  
khoảng thời gian cần thiết, thường xuyên hành theo sơ đồ hình 1 (Рощин В. И, 1994):  
khuấy trộn hỗn hợp. Kết thúc thời gian xử lý,  
Hình 1. Sơ đồ chế biến lá cây và phân tách cao chiết  
4278  
Nguyễn Thị Minh Nguyệt, 2016(1)  
Tạp chí KHLN 2016  
2.3. Phân tích sản phẩm cao chiết chứa  
natri colorophyllin  
III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN  
3.1. Xác định hàm lượng các chất chiết xuất  
của lá keo lai trong các loại dung môi khác  
nhau  
Các mẫu chất chứa natri clorophyllin được hoà  
tan trong etanol tinh khiết, axeton hay dietyl  
ete để phân tích phổ UV và GCMS.  
Cũng như đối với bất kỳ loại nguyên liệu  
thực vật nào, việc xác định thành phần hoá  
học theo tiêu chuẩn có ý nghĩa đặc biệt quan  
trọng, làm cơ sở cho việc sử dụng và điều  
chỉnh quá trình phân tích, chế biến nhằm đạt  
mục tiêu đề ra.  
Phân tích các hợp chất được thực hiện tại  
Phòng phân tích của Trung tâm Giáo dục và  
phát triển sắc ký, Trường Đại học Bách khoa  
Hà Nội.  
Phổ tử ngoại của các chất trung tính, axit và  
dẫn xuất của clorophyll được thực hiện trên  
máy quang phổ tử ngoại khả kiến UV - VIS  
Model: T70.  
Đề tài đã tiến hành xác định hàm lượng các  
chất chiết xuất trong một số dung môi thông  
dụng, kết quả phân tích sẽ là cơ sở cho việc  
lựa chọn loại dung môi sử dụng cho các nội  
dung nghiên cứu tiếp theo. Kết quả được trình  
bày trên bảng 1.  
Phổ GC - MS được phân tích trên máy  
SHIMADZU GCMS - QP2010, nhiệt độ của  
injector 230oC, detector 280oC, lập trình từ 70oC  
đến 250oC với tốc độ 6oC/phút, giữ 5 phút.  
Bảng 1. Hàm lượng các chất tan trong nước và một số dung môi hữu cơ của lá keo lai  
TT  
1
Thành phần  
Hàm lượng (%)  
6,95  
Các chất tan trong nước lạnh  
Các chất tan trong nước nóng  
Các chất trích ly bằng etanol  
Các chất trích ly bằng acetone  
Các chất trích ly bằng ete dầu hỏa  
Các chất trích ly bằng Dietyl ete  
2
15,76  
3
15,67  
4
4,84  
5
5,34  
6
4,73  
Kết quả phân tích cho thấy chất tan trong nước  
chủ yếu là các chất đường tinh bột, những chất  
này giúp lá cây có khả năng cải tạo đất khi cây  
keo đến thời kỳ khai thác lấy gỗ. Các chất  
trung tính và các hợp chất hữu cơ như axit  
nhựa axit béo ít hòa tan mặt khác dùng nước  
làm dung môi chiết sẽ khó tạo dịch cao chiết  
sau khi thu được dịch chiết. Dịch chiết trong  
etanon tương đối cao nhưng lại lẫn nhiều  
những hợp chất phenon nên khó tách được các  
chất trung tính. Trong nghiên cứu này chúng  
tôi chọn dung môi là acetone, dietylete và ete  
dầu hỏa.  
3.2. Nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố  
công nghệ đến hàm lượng các chất chiết  
xuất  
3.2.1. Nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian  
và tỷ lệ dịch xử lý đến hàm lượng chất chiết  
xuất trong ete dầu hỏa, acetone và dietyl ete ở  
nhiệt độ thường  
Đối với quá trình trích ly thì các yếu tố  
công nghệ như thời gian, nhiệt độ xử lý và  
tỉ lệ dung môi so với nguyên liệu, là các yếu  
tố cơ bản ảnh hưởng đến hàm lượng các  
chất thu được.  
4279  
Tạp chí KHLN 2016  
Nguyễn Thị Minh Nguyệt, 2016(1)  
Đã tiến hành trích ly lá cây nguyên liệu bằng ete tỉ dịch là 1/10, 1/15 và thời gian trích ly khác  
dầu hỏa, dietyl ete và acetone theo phương pháp nhau (2h, 4h, 6h, 8h, 10h, 12h, 14h, 16h). Kết  
nêu trên ở nhiệt độ thường (nhiệt độ phòng) với quả được trình bày trên hình 2 và 3.  
6
5
4
Acetone  
Ete d  
3
2
1
0
ầu  
Dyetyl ete  
0
5
10  
15  
20  
Thời gian (h)  
Hình 2. Ảnh hưởng thời gian xử lý tới hàm lượng các chất trích ly  
(Tỉ lệ dịch 1:10)  
6
5
4
Acetone  
3
Ete d  
ầ
2
1
0
Dietyl ete  
0
5
10  
15  
20  
Thời gian (h)  
Hình 3. Ảnh hưởng thời gian xử lý tới hàm lượng các chất trích ly  
(Tỉ lệ dịch 1:15)  
Như đã biết, ete dầu hỏa hoặc n - hexan là các cây (như vitamin, chất béo,...), còn acetone  
dung môi hòa tan tốt các picmen xanh và hầu hay dietyl ete lại có thể trích ly tốt các chất  
như không hòa tan các hợp chất khác của lá béo và các chất không xà phòng hóa. Có thể  
4280  
Nguyễn Thị Minh Nguyệt, 2016(1)  
Tạp chí KHLN 2016  
thấy, ở cùng điều kiện (tỉ lệ dung môi: nguyên cho các nghiên cứu tiếp theo là 1:15. Khảo sát  
liệu và nhiệt độ) xử lý bằng axeton cho hàm ảnh hưởng của nhiệt độ xử lý tới hiệu suất các  
lượng các chất trích ly cao hơn 2 loại dung chất trích ly cho thấy, với cùng một thời gian  
môi còn lại. Với cùng nhiệt độ và thời gian xử xử lý, tiến hành trích ly ở nhiệt độ sôi của  
lý thì tỉ lệ dịch 1:15 là thích hợp hơn, cho hiệu dung môi có thể tăng hiệu suất lên đáng kể  
suất các chất trích ly cao hơn. Đối với các loại hoặc giảm được 1/3 thời gian xử lý. Cần nhấn  
dung môi, ở nhiệt độ phòng thời gian xử lý mạnh rằng, trích ly bằng ete dầu hỏa chỉ cho  
thích hợp nhất khoảng 10 - 12h.  
hiệu suất cao khi xử lý ở nhiệt độ cao.  
Như vậy, thời gian xử lý phụ thuộc vào nhiệt  
độ xử lý: Để đạt hiệu suất cao, đối với dung  
môi là ete dầu hỏa hay dietyl ete, cần xử lý ở  
nhiệt độ sôi của dung môi trong vòng 5 - 6h,  
còn đối với acetone thì thích hợp nhất là xử lý  
ở nhiệt độ thường trong vòng 10 - 12h.  
3.2.2. Nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian  
xử lý đến hàm lượng chất chiết xuất trong ete  
dầu hỏa, axeton và dietyl ete ở nhiệt độ sôi  
dung môi  
Với mục đích đạt được hiệu suất các chất trích  
ly cao hơn, đã quyết định chọn tỉ lệ dịch chiết  
6
5
4
3
2
1
0
Acetone  
Ete d  
ầu  
Dietyl ete  
0
5
10  
15  
20  
Th  
ời gian(h)  
Hình 4. Ảnh hưởng của thời gian xử lý tới hàm lượng các chất trích ly  
(Tỷ lệ dịch 1: 15)  
kết này. Trong đó nước đóng vai trò quan  
trọng, nhất là đối với lá cây đã phơi khô (có độ  
ẩm thấp), bởi nước có khả năng thủy phân liên  
kết picmen - protein.  
3.3. Nghiên cứu một số chế độ xử lý lá cây  
bằng hỗn hợp các dung môi hữu cơ  
Một số nghiên cứu (В. Н. Туманов, С. Л.  
Чирук, 2007; Е. М. Рунова, Б. И. Угрюмов,  
1998; Juh - Horng Wu, et al., 2002) đã khẳng  
định rằng, mối liên kết giữa các picmen và  
protein là khá bền vững. Vì vậy, việc phá hủy  
mối liên kết đó sẽ tạo thuận lợi cho quá trình  
trích ly. Để nâng cao hiệu quả chiết, cần một  
tác nhân (dung môi) có khả năng phá vỡ liên  
Từ lập luận trên nhóm nghiên cứu đã tiến hành  
nghiên cứu xử lý lá cây keo lai với các điều  
kiện khác nhau (theo sơ đồ hình 5) với mục  
tiêu nâng cao hiệu suất các chất trích ly trong  
ete dầu hỏa và ete etylic để tiến hành phân tách  
chúng thành các sản phẩm có giá trị.  
4281  
Tạp chí KHLN 2016  
Nguyễn Thị Minh Nguyệt, 2016(1)  
Lá cây khô  
Xử lý bằng ete dầu hỏa 3h ở nhiệt độ sôi dung môi  
Xử lý bằng hỗn hợp ete dầu hỏa + 3% etanol  
ở nhiệt độ sôi của dung dịch trong 3h  
Xử lý bằng etanol ở nhiệt độ sôi trong 3h  
sau đó chiết phân bổ bằng ete dầu hỏa  
Xử lý ẩm với tỷ lệ dịch 1:4 ở nhiệt độ  
30oC trong 3 - 4h  
Xử lý bằng axeton 3h ở nhiệt độ sôi dung môi  
Xử lý bằng dietyl ete trong 3h ở nhiệt độ sôi  
Xử lý bằng hỗn hợp axeton + 3% Dietyl ete  
Hình 5. Xử lý lá keo lai bằng một số hỗn hợp dung môi hữu cơ  
Kết quả phân tích hàm lượng các chất chiết xuất Đối với trường hợp dietyl ete và acetone cũng  
từ lá keo lai với các hỗn hợp dung môi đã lựa thu được kết quả tương tự: hiệu suất các chất  
chọn ở sơ đồ hình 5 được thể hiện ở bảng 2.  
trích ly tăng đáng kể khi sử dụng nguyên liệu  
ẩm. Đặc biệt, hiệu suất các chất trích ly cao  
nhất khi sử dụng hỗn hợp 2 dung môi dietyl  
ete - axetone.  
Bảng 2. Ảnh hưởng của phương pháp chiết tới  
hiệu suất các chất trích ly  
TT  
1
Dung môi chiết  
Ete dầu hoả  
Hiệu suất (%)  
4,95  
3.4. Nghiên cứu phân tách các chất từ dịch  
chiết lá cây keo lai  
2
Ete dầu hoả + 3% etanol  
Etanol → Ete dầu hoả  
Dietyl ete  
5,87  
Nghiên cứu dịch chiết ete dầu hỏa thu được  
(mục 1 - 2 - 3 trong bảng 2 và sơ đồ 3) được  
xử lý theo sơ đồ phân tách nhiều công đoạn  
(Hình 1), hiệu suất các sản phẩm thu được  
được trình bày trên bảng 3. Quá trình phân  
tách nhiều công đoạn được thực hiện theo sơ  
đồ thu sản phẩm chính là natri clorophyllin.  
3
9,46  
4
5,38  
5
Acetone  
4,57  
6
Axeton + 3% Dietyl ete  
6,23  
Theo kết quả cho thấy, hiệu suất các chất trích  
ly (các picmen xanh tan trong ete dầu hoả)  
tăng đáng kể (đạt 9,46%) khi xử lý theo  
phương pháp: ngâm nguyên liệu bằng nước rồi  
loại nước sau đó trích ly bằng etanol và sau  
cùng chiết phân bố sang ete dầu hỏa. Quan sát  
cho thấy khi chiết phân bố các picmen xanh  
đều chuyển sang ete dầu hỏa, còn lại là các  
hợp chất có màu vàng sẫm.  
Bảng 3. Hiệu suất các sản phẩm thu được từ  
dịch chiết ete dầu hoả  
Hàm lượng  
TT  
Sản phẩm  
1
2
3
1
2
3
4
Natri clorophyllin  
Các chất trung tính  
Axit hữu cơ  
0,16  
2,13  
0,61  
-
0,18  
2,72  
1,16  
0,91  
0,23  
5,43  
1,82  
1,22  
Sáp ở nhiệt độ < 20oC  
4282  
Nguyễn Thị Minh Nguyệt, 2016(1)  
Tạp chí KHLN 2016  
Có thể thấy, hiệu suất và thành phần của các Nhìn chung sự có mặt của etanol đã thúc đẩy  
nhóm chất (natri clorophyllin, các chất trung quá trình hòa tan đồng đều hơn của các nhóm  
tính, axit hữu cơ) thu được tương đối khác chất, dẫn đến chúng dễ dàng được tách ra với  
nhau tùy thuộc vào phương pháp xử lý, có thể số lượng tương đối đồng đều. Nguyên liệu có  
hiệu suất natri clorophyllin cao hơn trong độ ẩm cao (hay xử lý bằng nước trước khi  
trường hợp xử lý nguyên liệu hai công đoạn chiết) cho hiệu suất các chất trung tính (các  
bằng etanol và ete dầu hỏa (phương pháp 3 picmen vàng dễ tan trong etanol và không tan  
bảng 3). Song quá trình xử lý mẫu và thu hồi trong ete dầu hỏa) cao hơn. Điều này càng  
dung môi phức tạp. Trong khi đó, chỉ xử lý khẳng định rằng để thu được các sản phẩm  
nguyên liệu ẩm bằng ete dầu hỏa cho hiệu suất theo mục tiêu cần tiến hành xử lý lá cây có độ  
natri clorophyllin thấp hơn các phương pháp ẩm cao hoặc lá tươi.  
khác không quá nhiều.  
Hình 6. Phổ UV của natri clorophyl tổng hợp từ lá Keo tai tượng  
Phân tích phổ UV - VIS (Hình 6) của natri Ягодин, 2006; Е. М. Рунова, Б. И. Угрюмов,  
clorophyl trong nước cho thấy, phổ có các cực 1998; Juh - Horng Wu et al., 2002), thì sự  
đại trong khoảng 402 - 485, 495 - 508 và 656 - chuyển dịch các cực đại trong phổ UV của các  
662nm, tương ứng với tính chất của natri sản phẩm natri clorophyl, thu được từ các  
clorophyl (В.И. Ягодин, В.А. Выродов, nguồn nguyên liệu khác nhau, do sự có mặt của  
1996). Ngoài ra, so sánh với mẫu sản phẩm các tạp chất là các dẫn xuất của clorophyl, như  
natri clorophyl tổng hợp từ lá kim (Tiêu chuẩn pheopherbide và pheophytin với số lượng khác  
kỹ thuật GOST 21769 - 76), hai loại sản phẩm nhau (Е. М. Рунова, Б. И. Угрюмов, 1998).  
này có phổ UV gần như trùng nhau, chỉ có sự  
chuyển dịch nhất định của một số hấp thụ  
trong một khoảng bước sóng rất gần. Theo kết  
diện, như benzenedicacboxylic axit (2,3%);  
quả của các nghiên cứu (В.И. Антонов, В.И.  
Phân tích phổ GC - MS, đã nhận biết sơ bộ  
được thành phần của các các axit có các đại  
4283  
Tạp chí KHLN 2016  
Nguyễn Thị Minh Nguyệt, 2016(1)  
oleic axit (1,2%) ; linoleic axit (1,6%);  
palmitic axit (2,2%) ; stearic axit (3,2%),...,  
trong số các chất trung tính có diacetone  
alcohol (4 - hydro - 4 - methyl - 2 - pentanone)  
với hàm lượng chiếm tới 61,8%; 3 - penten - 2  
- one (2,5%), chất màu phenyl hydrazine  
(1,6%); 2,2,4 - trimethyl oxepane (1,5%) ; 4 -  
methyl 3 - penten - 2 - one (2,5%); 4 - hydroxy  
2 - pentanone (5,2%),... Để có được thông tin  
chính xác hơn về thành phần của các sản phẩm  
này cần phải có nghiên cứu sâu hơn, sử dụng  
các phương pháp phân tích HPLC, NMR,...  
Tuy nhiên, có thể nói sự cần thiết xác định  
thành phần hóa học của chúng còn tùy thuộc  
vào ứng dụng.  
IV. KẾT LUẬN  
Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu có thể đưa  
ra các kết luận sau:  
- Đã xác định được loại dung môi cần chiết  
xuất đối với lá cây keo lai: Axetone, dietyl ete,  
ete dầu hỏa, hỗn hợp ete dầu hỏa phenol.  
- Xác định được mức độ ảnh hưởng của tỷ lệ  
dịch và một số yếu tố công nghệ đến hiệu suất  
chiết xuất: lựa chọn tỷ lệ dịch 1/15. Sử dụng  
dung môi là axeton nên áp dụng phương pháp  
ngâm thường trong thời gian từ 10 - 12h. Sử  
dụng dung môi là ete dầu hỏa ở nhiệt độ sôi  
nên tiến hành chiết xuất trong 5 - 6h.  
- Xác định được hàm lượng của một số sản  
phẩm chính thu được từ dịch chiết hỗn hợp ete  
dầu hỏa và etanol sau đó chiết phân lập sang  
ete dầu hỏa cao hơn hẳn dung môi khác, cụ thể  
là: Natri clorophyllin 0,23%, chất trung tính:  
5,43%, axit hữu cơ: 1,82%.  
Sản phẩm natri clorophyl thu được dưới dạng  
cao sệt, độ ẩm 20%, có màu xanh sẫm, tan  
trong nước, mùi dễ chịu. Các sản phẩm axit và  
các chất trung tính đều không tan trong nước,  
dễ tan trong etanol, axeton, ete dầu hỏa và ete  
etylic.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Nirmala Kaushik, Soumitra Biswas, 2007. Biochemical Conversion of Biomass - Challenges & Opportunities,  
Proceeding of the 22nd. Indian Engineering Congress (IEC - 07), Udaipur.  
2. Рощин В. И, 1994. Патент России RU (11) 2017782 (13) C1.  
3. В.И. Антонов, В.И. Ягодин, 2006. Спектральные характеристики хлорофилла из еловой древесной зелени.  
Химия растительного сырья, №2, с.47 - 49.  
4. В.И. Ягодин, В.А. Выродов, 1996. Технология древесной зелени, Санкт - Петербург, 92c.  
5. В. Н. Туманов, С. Л. Чирук, 2007. Качественные и количественные методы исследования пигменов  
фотосинтеза. ГрГУ им. Я.Купалы, Гродно, 62.  
6. Е. М. Рунова, Б. И. Угрюмов, 1998. Комплексная переработка зелени хвойных пород с целью получения  
биологических активных веществ. Химия растительного сырья, №1, с. 57 - 60.  
7. Juh - Horng Wu, Sheng - Yang Wang, Shang - Tzen, 2002. Extraction and determination of chlorophylls from  
moso bamboo (Phyllostachys pubescens) culm, J. Bamboo and Rattan, Vol. 1, No. 2, p. 171 - 180  
Người thẩm định: GS.TS. Hà Chu Chử  
4284  
pdf 9 trang Mãnh Khiết 15/01/2024 11900 Free
Bạn đang xem tài liệu "Các chất chiết xuất từ lá cây keo lai (Acacia Hybrids)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfcac_chat_chiet_xuat_tu_la_cay_keo_lai_acacia_hybrids.pdf