Giáo trình Vi sinh công nghiệp (Phần 2)

CHƢƠNG IV: VI SINH VẬT TRONG TỰ NHIÊN  
Thế giới vi sinh vật rất phong phú và đa dạng. Chúng phổ biến rộng rãi trong  
tự nhiên: trong đất, nƣớc, không khí, trên cơ thể động vật, thực vật, chúng sống ở  
tất cả mọi miền của hành tinh này, ở địa cực, ở miệng núi lửa, ở các suối nƣớc  
nóng và cả ở đáy đại dƣơng. Song thành phần hệ vi sinh vật và số lƣợng phụ thuộc  
rất nhiều vào điều kiện sống của chúng.  
I. Hệ vi sinh vật đất  
Đất là môi trƣờng sống tốt nhất đối với vi sinh vật.  
Trong đất có đầy đủ những điều kiện tối thiểu cho vi sinh vật tồn tại và phát  
triển:  
- Về nhiệt độ: trong đất nhiệt độ luôn giữ ở 25-280C. Nhiệt độ này rất thích  
hợp đối với vi sinh vật.  
- Về độ ẩm: trong đất độ ẩm thƣờng dao động từ 30-90%, vi sinh vật  
thƣờng phát triển ở độ ẩm 30-70%.  
- Về dinh dƣỡng: trong đất có đầy đủ những nguyên tố dinh dƣỡng đa lƣợng,  
vi lƣợng và các enzim, các chất kích thích cho vi sinh vật hoạt động  
- Ngoài ra đất còn bảo vệ đƣợc vi sinh vật khỏi tác dụng của ánh sáng mặt  
trời.  
Chính vì vậy trong một gam đất có chứa tới hàng trăm triệu tế bào vi khuẩn,  
chục triệu tế bào nấm và xạ khuẩn, hàng vạn tế bào tảo.  
Hệ vi sinh vật trong đất rất phong phú bao gồm: vi khuẩn, xạ khuẩn, nấm,  
tảo nhƣng chủ yếu là vi khuẩn và xạ khuẩn. Trong số vi khuẩn, thƣờng xuyên thấy  
các loài sinh bào tử. Các loài hiếu khí hay gặp là: Bacillus mycoides, B.  
mesentericus, B. megathericum, các loài kỵ khí – Clostridium sporogenes, C.  
perfrigens, C. purtrificum. Trong đất cũng có rất nhiều nhóm sinh vật sinh lý khác  
nhau: vi khuẩn phân giải xenluloza, vi khuẩn gây thối rữa, lên men butyric, vi  
khuẩn nitrat, phản nitrat hoá, cố định nitơ. Đáng chú ý là trong đất có khá nhiều vi  
khuẩn gây bệnh, trong đó hầu hết là vi khuẩn có sinh bào tử nhƣ: vi khuẩn uốn  
77  
ván, than…Các vi khuẩn không sinh bào tử sống trong đất vài tuần đến vài tháng  
còn vi khuẩn sinh bào tử - hàng năm.  
Vi sinh vật phân bố không đều số lƣợng và thành phần vi sinh vật thay đổi  
phụ thuộc vào nhiều yếu tố:  
- Vị trí của đất (loại đất): đất canh tác, đất mùn, đất sa mạc, sỏi đá…Vi sinh  
vật tập trung chủ yếu ở các loại đất canh tác.  
- Độ sâu của đất: trong đất vi sinh vật giảm dần theo độ sâu, ở giới hạn sâu  
nhất, trong 1g đất có 1000-10.000 vi khuẩn, ở bề mặt là 1-10 tỷ vi khuẩn. Đặc biệt  
là vi sinh vật hảo khí giảm dần theo độ sâu, vi khuẩn yếm khí phát triển mạnh ở  
tầng đất sâu 30-50cm. Vi sinh vật ở đất trồng trọt, đất rừng, đồng cỏ thƣờng tập  
trung ở độ dày 0-30cm.  
- Ngoài ra điều kiện khí hậu thời tiết, nhiệt độ, độ ẩm, pH của đất cũng ảnh  
hƣởng đến sự phân bố vi sinh vật trong đất.  
Hoạt động của vi sinh vật đất đóng vai trò rất lớn trong quá trình định hình  
đất, làm tăng độ phì cho đất. Đặt biệt là các vi khuẩn cố định N2 của không khí,  
chuyển hoá cacbon, nitơ, photpho và những nguyên tố khác từ dạng không tiêu hoá  
sang dạng dễ tiêu hoá cho cây trồng. Do vậy chúng đóng vai trò cực kỳ quan trọng  
trong vòng tuần hoàn vật chất trong tự nhiên.  
II. Hệ vi sinh vật nƣớc  
1. Nguồn gốc vi sinh vật trong nƣớc  
Phần lớn vi sinh vật xâm nhập vào nƣớc là từ đất trong thời gian mƣa hoặc  
từ bụi trong không khí rơi xuống. Ngoài ra nƣớc còn nhiễm vi sinh vật do các chất  
thải công nghiệp, chế biến nông phẩm, chất thải sinh hoạt cùng phân gia súc…  
2. Sự tồn tại phát triển của vi sinh vật trong nƣớc  
Nƣớc đƣợc coi là môi trƣờng thích hợp của nhiều loại vi sinh vật, vì nƣớc có  
đầy đủ các chất hữu cơ hoà tan, không khí và nhiệt độ thuận lợi cho sinh trƣởng và  
phát triển của vi sinh vật.  
Sự tồn tại của vi sinh vật có quan hệ rất lớn đến độ sâu của nƣớc:  
78  
- Nƣớc bề mặt: nhiều chất hữu cơ, nhiệt độ và độ thoáng khí tốt, do đó vi  
sinh vật phát triển thuận lợi, số lƣợng và loại hình khá lớn. Nhiều vi khuẩn, tảo và  
nấm khi đƣợc đƣa vào nƣớc bề mặt thì có khả năng trở thành một quần thể tự  
nhiên trong nƣớc.  
Ở nƣớc mặt có thể thấy các loại: cầu khuẩn, trực khuẩn không nha bào, xoắn  
khuẩn, xạ khuẩn, các loại tảo.  
- Nƣớc dƣới sâu: ít chứa chất hữu cơ, nhiệt độ lạnh, do đó quần thể vi sinh  
vật ở đây không đa dạng, chỉ tồn tại một số nhóm với số lƣợng nhỏ hơn nƣớc bề  
mặt.  
Sự tồn tại của vi sinh vật còn phụ thuộc vào nguồn nƣớc, thời tiết, loại hình  
vi sinh vật nhiễm:  
- Nguồn nƣớc gần thành phố, khu vực dân cƣ đông đúc có hệ vi sinh vật  
phức tạp hơn, số lƣợng lớn hơn ở vùng nƣớc hẻo lánh, ít dân.  
- Vào mùa nắng ấm, mƣa nhiều, vi sinh vật trong nƣớc cũng tăng hơn trong  
mùa lạnh, mƣa ít; trời nắng nhiều, không mƣa làm giảm số lƣợng vi sinh vật.  
- Vi sinh vật có nha bào tồn tại lâu hơn, những vi sinh vật gây bệnh nhiễm  
vào nƣớc từ chất thải không có khả năng phát triển, thƣờng bị chết trong một thời  
gian ngắn, chỉ tồn tại các nha bào của chúng. Vi sinh vật gây bệnh sống sót đƣợc  
lâu hơn trong nƣớc lạnh và nƣớc sạch so với nƣớc nóng.  
3. Vi sinh vật trong ao, hồ  
Thành phần, số lƣợng vi sinh vật trong ao, hồ thay đổi theo nguồn nƣớc,  
thời tiết: nguồn nƣớc ao, hồ ở nơi dân cƣ đông đúc, gần thành thị, đƣờng giao  
thông có nhiều vi sinh vật hơn đặc biệt có một số lƣợng lớn vi sinh vật gây bệnh.  
Nƣớc ở chỗ thông thoáng, có nhiều ánh nắng thì số lƣợng vi sinh vật giảm hơn  
nƣớc ở ao hồ bị che khuất ánh nắng.  
- Thời kỳ nắng nóng, mƣa nhiều, lƣợng vi sinh vật ao, hồ lớn hơn thời kỳ giá  
rét, hanh khô, do dinh dƣỡng không đƣợc bổ sung, điều kiện không thích hợp.  
79  
- Diễn biến thời tiết trong ngày có ảnh hƣởng đến số lƣợng vi sinh vật: vào  
đêm, sáng sớm, lƣợng vi sinh vật nhiều hơn buổi trƣa, chiều nắng gắt; vi sinh vật  
lúc râm mát, trời mƣa, nhiều hơn lúc trời nắng.  
- Trong ao tù thành phần và số lƣợng vi sinh vật nhiều hơn gấp nhiều lần ở  
ao hồ thoát nƣớc. Đặc biệt trong ao đọng nƣớc, số lƣợng vi sinh vật gây bệnh rất  
nhiều, nhƣ: E. coli, E. coliform, Salmonella…  
- Tính theo độ sâu của hồ nƣớc tự nhiên, thì thành phần và số lƣợng vi sinh  
vật tập trung nhiều nhất ở độ sâu 3-20m, sau đó là độ sâu 0,3m và ít nhất là độ sâu  
trên 20m.  
4. Vi sinh vật trong sông ngòi  
Nhiều nhân tố ảnh hƣởng đến hệ vi sinh vật sông ngòi nhƣ vị trí dòng sông,  
tốc độ dòng chảy, độ rộng, độ nông sâu, thời tiết khí hậu…  
- Ở khúc sông có dòng chảy chậm, thì thành phần và số lƣợng vi sinh vật  
nhiều hơn ở khúc sông có cƣờng độ chảy nhanh.  
- Ở khúc sông chảy qua khu dân cƣ, thành phố thì thành phần và số lƣợng vi  
sinh vật nhiều hơn ở khúc sông không chảy qua khu dân cƣ, thành phố.  
5. Vi sinh vật trong nƣớc mạch, nƣớc giếng, nƣớc mặn  
Do tác dụng lọc mà trong nƣớc mạch, nƣớc giếng có hợp chất hữu cơ và  
muối khoáng, sự nhiễm vi sinh vật ban đầu cũng ít, đặc biệt là sự nhiễm vi sinh vật  
gây bệnh.  
a, Nước mạch  
Nƣớc tự nhiên đƣợc lọc qua tầng đất dày, chất hữu cơ bị giữ lại cùng với  
một phần vi sinh vật, nên số lƣợng còn lại ít, trong 1 lít nƣớc có khoảng 100.000 tế  
bào vi sinh vật.  
b, Nước giếng  
Cũng lấy từ nguồn nƣớc ngầm, đƣợc qua lọc nhƣ do đƣợc phun thấm và giữ  
lại ở trong giếng nên nó bị chi phối bởi nhiều nhân tố khác nữa đó là vị trí giếng:  
giếng đƣợc đào đúng chỗ mạch nƣớc ngầm thì trong, ít vi sinh vật. Nếu đào gần  
80  
ao, sông, chỗ đất thấp dễ thu đƣợc nguồn nƣớc thấm không phải là nƣớc mạch thì  
nƣớc đục, nhiều vi sinh vật. Ngoài ra hệ vi sinh vật còn phụ thuộc vào kỹ thuật xây  
giếng, cách bảo quản sử dụng: giếng có thành thấp, không có nắp đậy dễ bị nhiễm  
vi sinh vật từ đất bụi, không khí, rác bẩn.  
Trong 1 lít nƣớc có hàng chục đến hàng triệu vi sinh vật.  
c, Nước mặn  
Nƣớc biển mặc dù có lƣợng muối cao, áp suất thẩm thấu lớn, nhiệt độ thấp  
vẫn có hệ vi sinh vật với số lƣợng tƣơng đối lớn là do chúng thích nghi với môi  
trƣờng sống ở đây và dinh dƣỡng trong nƣớc biển cũng thoả mãn cho nhu cầu của  
chúng. Độ mặn càng cao thì thành phần và số lƣợng vi sinh vật càng ít; trong nƣớc  
biển vi sinh vật có tiên mao chiếm trên 70%.  
Số lƣợng và chủng loại vi sinh vật biển thay đổi theo chiều sâu, khoảng cách  
so với bờ, ngoài ra còn phụ thuộc vào thời tiết khí hậu.  
III. Hệ vi sinh vật không khí  
Không khí đƣợc coi là môi trƣờng không thuận lợi cho sự phát triển của vi  
sinh vật, thiếu dinh dƣỡng, khô, luôn bị ánh sáng mặt trời chiếu sáng và mƣa rửa  
trôi bụi bẩn trong không khí.  
Sự nhiễm vi sinh vật trong không khí chủ yếu là từ đất, gió thổi bụi bẩn  
trong đất có mang theo vi sinh vật tung vào không khí, ngoài ra còn từ nƣớc do bốc  
hơi nƣớc hay hơi thở của ngƣời, động vật.  
Hệ vi sinh vật không khí có quan hệ với các nhân tố:  
- Hệ vi sinh vật đất: số lƣợng, chủng loại vi sinh vật trong đất ở một vùng  
nào đó phản ảnh số lƣợng và chủng loại vi sinh vật trong không khí ở vùng đó.  
Những vi sinh vật thƣờng gặp trong không khí cũng là nhiều loài có trong đất. Bao  
gồm các vi khuẩn, xạ khuẩn, nấm, virut, đáng chú ý là các vi khuẩn gây bệnh cũng  
khá nhiều nhất là các vi khuẩn lao, bạch hầu, các virut gây bệnh cảm cúm, xuất  
huyết…  
81  
- Sự hoạt động của con ngƣời, động vật và các phƣơng tiện cần thiết cho  
sinh hoạt của con ngƣời. Nơi tập trung dân, tập trung gia súc, gia cầm và sự hoạt  
động của con ngƣời, gia súc, gia cầm lớn thì số lƣợng và chủng loại vi sinh vật  
lớn.  
- Tầng không khí: không khí càng gần mặt đất thì số lƣợng vi sinh vật càng  
lớn, càng lên cao càng giảm.  
- Thời tiết khí hậu: nắng và mƣa có tác dụng làm giảm vi sinh vật trong  
không khí. Trời hanh khô, nhiều gió sẽ tăng lƣợng vi sinh vật trong không khí.  
IV. Hệ vi sinh vật ở ngƣời  
Trong quá trình tiến hoá giới sinh vật, trong đó có ngƣời và vi sinh vật, xảy  
ra quan hệ thích ứng qua lại với nhau. Kết quả là trên ngƣời có những nhóm vi sinh  
vật thƣờng xuyên cƣ trú ở bên ngoài cũng nhƣ các khoang bên trong cơ thể.  
Những vi sinh vật vào cơ thể từ môi trƣờng bên ngoài (từ đất, nƣớc, không  
khí, thực phẩm hoặc từ đối tƣợng khác) lây nhiễm vào cơ thể. Thành phần của các  
nhóm vi sinh vật “ngoại lai” này phụ thuộc không chỉ vào các yếu tố bên ngoài mà  
còn phụ thuộc vào các điều kiện sinh hoạt (tắm rửa, thay quần áo, ăn uống ) đặc  
điểm sinh lý của mỗi ngƣời (da nhờn hay khô, sự tiết mồ hôi…). Cơ thể ngƣời có  
các hệ vi sinh vật trong đƣờng ruột, khoang miệng, đƣờng hô hấp…Hệ vi sinh vật  
ở nơi này có thể có sẵn từ khi mới sinh và từ nguồn bên ngoài.  
Trong khoang miệng có nhiều thể loại vi sinh vật. Ở đây có nhiệt độ thích  
hợp, nƣớc bọt có phản ứng kiềm nhẹ, có cặn thức ăn…Các điều kiện này thích hợp  
cho nhiều loại vi sinh vật phát triển. Trong khoang miệng hay gặp là cầu khuẩn  
(Micrococcus), liên cầu khuẩn (Streptococcus), tụ cầu khuẩn (Staphylococcus),  
trực khuẩn sinh bào tử và không sinh bào tử, Vibrio, Spirochaet, nấm men, xạ  
khuẩn…Đặc biệt nhiều vi khuẩn ở bợ răng, những chỗ sâu răng và hạch amiđan bị  
viêm. Trong khoang miệng của những ngƣời bệnh hoặc ngƣời khoẻ mang mầm  
bệnh dễ gặp các vi khuẩn Streptococcus gây tan máu, trực khuẩn bạch cầu, cầu  
khuẩn màng não, trực khuẩn lao.  
82  
Đƣờng hô hấp ở ngƣời có hệ vi sinh vật không ổn định. Nó phụ thuộc vào số  
lƣợng cũng nhƣ thành phần hệ vi sinh vật không khí khi con ngƣời hít thở trong  
những điều kiện xác định, trừ những ngƣời bị bệnh lao trong đƣờng hô hấp luôn có  
vi khuẩn lao.  
Hệ vi sinh vật ở đƣờng tiêu hoá, đặc biệt ở ruột gà (đại tràng) rất phong phú  
về số lƣợng cũng nhƣ thành phần. Ngƣời lớn thải ra theo phân đến hàng trăm tỷ vi  
sinh vật mỗi ngày. Trong mỗi ngƣời không kể lứa tuổi cũng nhƣ động vật có vú  
khác có những nhóm vi sinh vật cƣ trú, đó là nhóm coliform, trong đó có những vi  
khuẩn hình cầu, hình que (có thể có cả trực khuẩn uốn ván)… Ngƣời ta thƣờng gọi  
các “cƣ dân” cƣ trú ở đƣờng ruột là các vi khuẩn đƣờng ruột, thƣờng có trong  
phân, trong nƣớc thải tiết ra từ đƣờng ruột. Ngoài ra ở phân ngƣời cũng nhƣ phân  
súc vật rất dễ có các vi khuẩn gây bệnh (tả, lị, thƣơng hàn, phó thƣơng hàn…). Vi  
khuẩn đƣờng ruột thƣờng có trong phân gồm 3 nhóm:  
- Nhóm Coliform đặc trƣng là Escherichia coli (E. coli).  
- Nhóm Streptococcus đặc trƣng là Streptococcus faecalis.  
- Nhóm Clostridium đặc trƣng là Clostridium perfringens.  
Các vi khuẩn này dễ nhiễm vào ngƣời khi đi vệ sinh hoặc làm việc tiếp xúc  
với phân, dễ nhiễm vào nƣớc, vào đất, vào thực phẩm cũng nhƣ các đối tƣợng  
khác. Do vậy sau khi đi vệ sinh phải rửa tay sạch sẽ là việc làm hết sức cần thiết.  
Thực phẩm tƣơi sống phải đƣợc rửa sạch bằng nƣớc sạch…nhằm tránh nhiễm vi  
khuẩn đƣờng ruột cũng nhƣ tránh lây nhiễm các vi sinh vật gây bệnh khác một  
cách có hiệu quả.  
83  
CÂU HỎI ÔN TẬP CHƢƠNG IV  
1, Tại sao nói “đất là môi trƣờng sống tốt nhất đối với vi sinh vật”? Cho biết hệ vi  
sinh vật có trong đất?  
2, Phân tích các yếu tố ảnh hƣởng đến sự phân bố của vi sinh vật trong đất ?  
3, Cho biết vi sinh vật trong không khí? Phân tích các yếu tố ảnh hƣởng đến sự  
phân bố của vi sinh vật trong không khí?  
4, Trình bày các nguồn lây nhiễm vi sinh vật vào không khí? Cho biết tại sao  
không khí là môi trƣờng không thuận lợi cho vi sinh vật phát triển?  
5, Cho biết các nguồn lây nhiễm vi sinh vật vào nƣớc? Sự phân bố của vi sinh vật  
trong nƣớc phụ thuộc vào những nhân tố nào?  
6, Trình bày sự phân bố của vi sinh vật trong các nguồn nƣớc khác nhau?  
7, Trình bày sự phân bố của vi sinh vật trên cơ thể ngƣời? Các biện pháp đề phòng  
nhiễm vi sinh vật từ ngƣời vào lƣơng thực, thực phẩm?  
84  
CHƢƠNG V: VI SINH VẬT TRONG THỰC PHẨM  
Lƣơng thực thực phẩm, đặc biệt là những sản phẩm tƣơi sống nhƣ: thịt,  
trứng, cá, sữa, rau quả…chứa nhiều nƣớc, là môi trƣờng rất tốt cho vi sinh vật sinh  
trƣởng và phát triển. Những vi sinh vật có ở lƣơng thực thực phẩm gây thiệt hại  
lớn về mặt giá trị dinh dƣỡng, chất lƣợng của sản phẩm. Ngoài ra trong lƣơng thực  
thực phẩm còn có thể có những vi sinh vật gây bệnh cho ngƣời. Hệ vi sinh vật  
lƣơng thực thực phẩm nói chung có sẵn từ sản phẩm thu hái (rau, quả, hạt…), bị  
nhiễm sau khi giết mổ và sơ chế (thịt, cá, sữa) từ sản phẩm chế biến… và từ môi  
trƣờng bên ngoài (đất, nƣớc, không khí, con ngƣời, dụng cụ, thiết bị thu hái, chứa  
đựng, vận chuyển…)  
Hệ vi sinh vật lƣơng thực thực phẩm thƣờng gồm 3 nhóm chính: vi khuẩn,  
nấm men và nấm mốc ngoài ra còn thấy cả xạ khuẩn.  
I. Các nguồn lây nhiễm vi sinh vật vào lƣơng thực, thực phẩm  
1. Lây nhiễm tự nhiên  
- Từ động vật: trên da và đƣờng tiêu hoá của gia súc, thuỷ sản luôn có sẵn  
các vi sinh vật do chúng tiếp xúc trực tiếp với phân, rắc rƣởi, thức ăn, nƣớc…  
Những giống vi khuẩn thƣờng có ở động vật là: Streptococcus, Escherichia,  
Aerobacter, Pseudomonas, Clostridium…Thịt từ những con ốm yếu mang bệnh sẽ  
có những vi khuẩn gây bệnh.  
- Từ đất: đất chứa một lƣợng lớn vi sinh vật có nguồn gốc khác nhau, chúng  
từ đất có thể nhiễm vào động vật, rau quả, hạt và một số sản phẩm khác. Chúng  
cũng từ đất vào nƣớc, không khí rồi nhiễm vào sản phẩm.  
Hệ vi sinh vật đất thấy trong lƣơng thực, thực phẩm gồm: các giống  
Clostridium, Bacillus, Acerobacter, Escherichia, Pseudomonas, Proteus,  
Steptococcus, Leuconostoc cùng các giống Streptomyces (xạ khuẩn), vi khuẩn sắt,  
nấm men, nấm mốc.  
- Từ nƣớc: nƣớc trong tự nhiên có chứa hệ vi sinh vật riêng và còn có các vi  
sinh vật từ đất, cống rãnh, nƣớc thải. Số lƣợng và thành phần vi sinh vật trong  
85  
nƣớc thay đổi tuỳ thuộc vào khu vực, mùa, lƣu động chảy, thời tiết, mức độ ô  
nhiễm.  
Trong nƣớc thƣờng có Pseudomonas, Chromobacterium, Proteus,  
Achromobacter, Microcuccus, Bacillus, Escherichia.  
- Từ không khí: Vi sinh vật và bào tử của chúng từ đất theo bụi, theo những  
hạt nƣớc nhỏ bay vào không khí, theo gió phát tán đi khắp mọi nơi và nhiễm vào  
lƣơng thực, thực phẩm.  
2. Lây nhiễm vi sinh vật trong quá trình chế biến  
Lƣơng thực, thực phẩm tƣơi sống thu hoạch tốt, giết mổ và sơ chế sạch  
thƣờng có ít vi sinh vật.  
Thịt gia súc, thuỷ sản từ các con vật khoẻ có rất ít hoặc không có vi sinh vật.  
Khi giết mổ hoặc sơ chế không đảm bảo vệ sinh sản phẩm sẽ bị nhiễm vi sinh vật.  
Hoa quả, trứng có vỏ bọc kín và có chất kháng khuẩn tự nhiên nên bên trong  
thƣờng tinh khiết. Vỏ trứng dễ nhiễm bẩn từ phân gà, vịt hay từ bàn tay ngƣời, từ  
dụng cụ chứa đựng.  
Sữa mới vắt từ con bò cái khoẻ chứa rất ít vi sinh vật. Do tay ngƣời vắt sữa  
bò, dụng cụ chứa đựng, vận chuyển sẽ làm cho sữa bị nhiễm vi sinh vật.  
3. Lây nhiễm vi sinh vật do vật môi giới lây truyền  
Đó là ruồi, nhặng, muỗi, côn trùng…Trên thân mình, chân, râu, cánh của  
chúng có nhiễm vi sinh vật, kể cả vi sinh vật gây bệnh, rồi đậu vào lƣơng thực thực  
phẩm và truyền vi sinh vật cho các sản phẩm này.  
II. Hệ vi sinh vật thịt  
1. Hệ vi sinh vật thịt và sự phân bố vi sinh vật ở thịt  
Thịt là một loại thực phẩm giàu dinh dƣỡng. Trong thịt có nƣớc, protein,  
lipit, các chất khoáng và vitamin. Do đó thịt là môi trƣờng rất thích hợp cho vi sinh  
vật phát triển. Các vi sinh vật có thể nhiễm vào thịt theo 2 con đƣờng: nội sinh và  
ngoại sinh.  
86  
* Nhiễm nội sinh: là do con vật bị bệnh. Đầu tiên mầm bệnh có ở một tổ chức hay  
một cơ quan nội tạng nào đó của con vật, sau đó lan tràn vào máu, vào thịt hoặc  
các cơ quan khác. Đôi khi cũng do hậu quả của suy nhƣợc cơ thể và làm việc quá  
sức, đói và lạnh cũng làm cho vi sinh vật từ đƣờng tiêu hoá tràn vào bắp thịt và các  
tổ chức khác của con vật theo mạch máu. Thức ăn mà con vật ăn trƣớc khi giết mổ  
cũng là nguồn nhiễm vi sinh vật từ bên trong cho thịt. Nếu khi mổ gia súc, gia cầm,  
bỏ ngay các chất trong đƣờng tiêu hoá của chúng thì có thể tránh đƣợc hiện tƣợng  
này. Trong thực tế, thịt từ các con vật bị ốm bệnh thƣờng nhiều vi sinh vật hơn và  
nhanh hỏng hơn thịt của các con vật khoẻ.  
* Nhiễm ngoại sinh: là do nhiễm bẩn từ bên ngoài và thịt trong quá trình giết mổ  
và vận chuyển.Trong khi làm thịt, vi sinh vật ở da, lông, móng, ở dao mổ, ở dụng  
cụ chứa, từ tay, quần áo của ngƣời thịt và từ đất, nƣớc, không khí… cũng có thể  
lây nhiễm vào thịt. Các chất chứa trong đƣờng tiêu hoá thƣờng chứa một lƣợng lớn  
vi sinh vật: khi chọc tiết áp suất giảm dần, tạo điều kiện thuận lợi cho vi sinh vật  
lan tràn vào các mạch máu và lan đi khắp cơ thể.Vì vậy sau khi giết, phải lấy ngay  
dạ dày và nội tạng ra khỏi con vật. Trên bề mặt da, lông của con vật cũng có rất  
nhiều vi sinh vật và khi giết mổ gia súc, gia cầm thƣờng đƣợc làm bằng nƣớc nóng,  
đó cũng là biện pháp khử trùng có hiệu quả.  
Thịt gia súc, gia cầm khi giết mổ thƣờng thấy số lƣợng vi sinh vật trên bề  
mặt nhiều hơn bên trong, dần dần các vi sinh vật bên ngoài tuỳ theo điều kiện nhiệt  
độ, độ ẩm, sẽ xâm nhập vào sâu trong thịt.  
Các vi sinh vật thƣờng gặp là vi sinh vật hoại sinh, bào tử nấm mốc, các tế  
bào nấm men, cũng có thể gặp các vi sinh vật gây bệnh cho ngƣời và gia súc nhƣ  
Bacillus subtilis, Bacillus mesentercus, Bacillus mycoides, Bacillus megathericus,  
Clostridium sporogenes…, các loại cầu khuẩn khác nhau, các trực khuẩn đƣờng  
ruột, nhƣ Echrichia coli, Bacterium faecalis, Proteus vulgaris; ngoài ra còn có các  
nấm men, các giống nấm mốc khác nhƣ: Cladoporium, Sporotrium, Thammidium,  
Mucor, Penicillium…Nhất là những giống nấm sinh bào tử thƣờng thấy ở thịt. Các  
vi sinh vật gây bệnh cho ngƣời ở thịt là: Salmonella, Streptococcus,  
Mycobacterium…  
87  
Số lƣợng vi sinh vật ở thịt phản ánh chất lƣợng của thịt, nếu đạt tới 107- 108  
tế bào/1gam hoặc trên 1cm2 bề mặt thì thịt đã kém phẩm chất. Đối với thịt gia cầm,  
ngoài các vi sinh vật nếu trên, đặc biệt thƣờng hay gặp vi khuẩn Salmonella là vi  
khuẩn gây ngộ độc thực phẩm, nhất là ở vịt nguyên con bảo quản lạnh.  
2. Các dạng hƣ hỏng của thịt  
Thịt bảo quản dễ bị hƣ hỏng do hoạt động của vi sinh vật. Các dạng hƣ  
hỏng của thịt bao gồm.  
2.1. Thịt bị thối rữa  
Vi khuẩn gây thối rữa phát triển và hoạt động mạnh trên bề mặt của thịt.  
Những vi khuẩn này có hoạt tính proteaza cao, chính chúng tiết ra enzim proteaza  
làm phân huỷ protein đến các sản phẩm có mùi hôi thối nhƣ: NH3, indol,  
mercaptan...Thịt của những con vật bị bệnh hoặc mệt yếu dễ bị thối rữa. Còn trong  
thịt có nhiều glycogen thì axit lactic dễ đƣợc tạo thành trong quá trình bảo quản và  
môi trƣờng axit lại ức chế vi khuẩn gây thối rữa phát triển. Sự thối rữa xảy ra trong  
cả điều kiện yếm khí và hiếu khí. Các vi khuẩn yếm khí là: Clostridium  
perfringeus, Clostridium puttrificum...Các vi khuẩn hảo khí bao gồm: Protues  
vulgaris, Bacillus subtilis, Bacillus mesentericus, Bacillus megatherium...  
Thông thƣờng thịt bò bị thối rữa là do 2 quá trình hiếu khí và hảo khí xảy ra  
đồng thời, rất hiếm khi xảy ra một trong hai quá trình xảy ra riêng biệt. Trong thịt  
bò bị thối rữa, đầu tiên các protein bị phân huỷ thành các polopeptit và các axit  
amin, sau đó chúng lại bị khử các axit amion và các axit béo và NH3 đƣợc tạo  
thành. Các axit thơm nhƣ: tirozin, triptofan sẽ cho các sản phẩm phân huỷ là H2S,  
indola, axit butyric, các chất khác có mùi khó chịu. Trong sản phẩm thối rữa của  
thịt có các chất độc nhƣ ptomain.  
* Quá trình thối rữa hiếu khí  
Bắt đầu từ bề mặt ngoài của thịt dần sẽ ăn sâu vào bên trong theo các lớp  
tiếp giáp giữa thịt với xƣơng hoặc các mạch máu lớn. Quá trình này xảy ra qua 3  
giai đoạn:  
88  
- Giai đoạn 1: trên bề mặt thịt mọc ra các khuẩn lạc vi sinh vật hảo khí và  
thay đổi cảm quan của thịt chƣa rõ ràng.  
- Giai đoạn 2: bắt đầu khi thấy rõ các khuẩn lạc và bề mặt thịt bị mềm, thịt bị  
thay đổi màu sắc và mùi vị, phản ứng của thịt ngả sang kiềm, nhƣng bên trong thịt  
vẫn tốt.  
- Giai đoạn 3: vi khuẩn phát triển mạnh trong thịt làm cho các mô liên kết bị  
đứt và protein bị phân huỷ.  
* Quá trình thối rữa yếm khí  
Là do vi sinh vật hô hấp yếm khí gây ra, chúng nhiễm vào thịt từ đƣờng  
ruột. Quá trình này xả ra tƣơng tự nhƣ quá trình hảo khí theo trình tự các sản phẩm  
phân huỷ. Sự thối rữa thịt hay các sản phẩm thịt cá cũng tƣơng tự nhƣ các sản  
phẩm giàu protein còn gọi là sự lên men thối, sản phẩm của sự lên men này là NH3  
và các axit béo, các chất có mùi khó chịu làm ô nhiễm môi trƣờng sống.  
2.2. Thịt bị hoá nhày  
Thực chất đây là giai đoạn đầu của quá trình hƣ hỏng thịt. Trên bề mặt hình  
thành một lớp dày đặc gồm những vi khuẩn: Micrococcus aureus, Micrococcus  
candidus... Cũng có nhiều loài thuộc nhóm: Achoromobacter, Pseudomonas,  
Leuconostoc, Lactobacillus và nấm men. Tốc độ tạo thành sự hoá nhày phụ thuộc  
vào độ ẩm không khí và nhiệt độ bảo quản. Thịt bảo quản tốt nhất ở 0-20C, độ ẩm  
tƣơng đối của không khí là 85-90%. Với điều kiện này thịt có thể bảo quản 2 tuần  
không bị hoá nhày.  
2.3. Thịt bị lên men chua  
Thịt có thể bị chua do vi khuẩn lactic. Thịt bị lên men chua thƣờng là loại  
thịt có chứa nhiều glycogen. Trong quá trình này, các sản phẩm lên men thƣờng là  
các axit hữu cơ, ban đầu các axit này ức chế các vi khuẩn gây thối rữa phát triển.  
Nhƣng ở môi trƣờng axit nấm mốc lại phát triển và hoạt động tạo NH3 và kiềm,  
những chất này trung hoà môi trƣờng axit, tạo điều kiện cho vi khuẩn gây thối rữa  
phát triển, trƣớc hết là Bacterium proteus, Bacillus subtilis, Bacterium  
89  
mesenterium. Thịt bị chua có màu xám có mùi khó chịu, hiện tƣợng này báo hiệu  
thịt sắp bị thối.  
2.4. Thịt bị biến đổi sắc tố  
Dƣới tác dụng của hệ vi sinh vật có trong thịt, màu đỏ của thịt biến thành  
màu xám  
nâu hoặc xanh lục với sự có mặt của những hợp chất oxy hoá hoặc hydrosunfua  
H2S do sự hoạt động của một số loài vi khuẩn lactic nhƣ Lactobacillus,  
Leuconostoc. Nếu mùi của thịt vẫn bình thƣờng và không thấy các chất có độc tố,  
thì chỉ cần loại bỏ các chất màu và thịt vẫn có thể sử dụng bình thƣờng.  
2.5. Thịt có vết màu trên bề mặt  
Dƣới tác dụng của các vi khuẩn hô hấp hảo khí, trên bề mặt thịt sẽ xuất hiện  
các vết màu khác nhau:  
- Bacterium prodigiosum hoặc Seratia marcerans: thịt có các vết màu đỏ.  
- Pseudomonas pyocyanens: tạo vết xanh.  
- Pseudomonas flourescens: tạo vết xanh lục  
- Chromobacterium : tạo vết nâu nhạt, nâu đen  
- Micrococcus : tạo vết màu vàng  
Khi mỡ bị ôi và xuất hiện peroxit, thì màu vàng sẽ biến thành màu xám tối  
và sau đó trở lên tím nhạt, xanh. Nếu thịt vẫn có mùi bình thƣờng và không tìm  
thấy các độc tố, thì sau khi tẩy sạch các vết màu, vẫn có thể sử dụng đƣợc bình  
thƣờng.  
2.6. Thịt có mùi mốc  
Dƣới tác dụng của các nấm mốc nhƣ Mucor, Penicillium, Asperillus phát  
triển trên bề mặt thịt, sẽ làm giảm các chất chiết xuất, làm tăng độ kiềm, làm xảy ra  
quá trình phân huỷ protein và các chất béo tạo axit bay hơi. Nấm mốc trƣớc tiên  
tạo thành các sợi trên bề mặt thịt và ăn sâu vào 2-5mm, sau đó phát triển các nhánh  
sinh bào tử. Thịt bị mốc có mùi ngái khó chịu và dần dần sẽ bị thay đổi sắc tố, có  
mùi chua và hƣ hỏng.  
90  
3. Một số sản phẩm chế biến từ thịt  
3.1. Thịt muối  
Trong thịt muối, các vi sinh vật ƣa muối vẫn tồn tại và phát triển làm hƣ  
hỏng thịt. Các vi khuẩn này sinh màu vàng, đỏ và có cả Salmonella và Clostridium  
botullium.. Các vi khuẩn này chỉ bị ức chế ở nồng độ muối NaCl 10%, Salmolella  
bị chết ở nồng độ muối là 19% sau 70-80 ngày. Cầu khuẩn bị chết trong môi  
trƣờng muối là 15% còn tụ cầu vàng gây ngộ độc thực phẩm thì ngừng sinh  
trƣởng ở nồng độ muối ăn là 15-20% và chết ở nồng độ 20-25%. Các vi khuẩn yếm  
khí rất ít thấy ở vi khuẩn thịt muối, nhƣ Clostridiums sporogenes ngừng phát triển  
ở nồng độ muối ăn là 12%. Các loại nấm men, nấm mốc có thể chịu đƣợc nồng độ  
muối cao hơn, chúng có thể phát triển đƣợc ở nồng độ muối ăn là 20%.  
Dịch thịt muối có thể chứa hàng ngàn tới hàng triệu tế bào vi sinh vật trên  
1ml dịch. Hệ vi sinh vật trong dịch thịt muối rất phong phú đa dạng, chúng thƣờng  
bao gồm: Micrococcus alvatus, Micrococcus aquatilis, Micrococcus candidus,  
Micrococcus flavus…Ngƣời ta thƣờng muối đƣờng với thịt để làm mềm thịt, một ít  
nitrit natri hoặc nitrat natri làm đỏ thịt, ngoài ra còn cho thêm ít húng lìu. Để tăng  
cƣờng khả năng ức chế vi sinh vật kéo dài thời gian bảo quản, ngƣời ta thƣờng giữ  
thịt muối ở điều kiện lạnh (2-50C ) hoặc đem thịt muối xông khói. Thịt muối ƣớp  
lạnh dịch thịt thƣờng bị vẩn đục, sủi bọt và nhanh chóng bị hỏng do vi sinh vật  
phát triển.  
3.2. Thịt bảo quản lạnh  
* Thịt ướp lạnh  
- Thịt đƣợc đƣa vào bảo quản lạnh ở nhiệt độ -3 đến 10C. Trƣớc khi nhập  
thịt, nhiệt độ trong buồng bảo quản lạnh nên hạ xuống -1 đến -30C và trong thời  
gian bảo quản thì giữ ở nhiệt độ 0-10C. Độ ẩm tƣơng đối của không khí ban đầu là  
95-98% và sau là 90-92%.  
- Tuỳ thuộc vào số lƣợng vi sinh vật ban đầu của thịt, nhiệt độ và độ ẩm  
buồng lạnh mà có thể bảo quản thịt bò tới 30 ngày, thịt lợn, dê, cừu khoảng 15  
ngày. Hệ vi sinh vật thịt ít thay đổi trong thời gian đầu về số lƣợng và thành phần,  
91  
nhƣng sau đó các loại ƣa ấm ngừng sinh sản hoặc bị chết một phần, còn các loài vi  
sinh vật ƣa lạnh tiếp tục phát triển nhƣng chậm.  
- Các vi khuẩn thƣờng gặp trong bảo quản lạnh thịt bao gồm: Pseudomonas,  
Achromobacter, Flavobacterium. Các vi sinh vật ƣa lạnh có một số lƣợng nhỏ  
trong đất, nƣớc và không khí. Hai giống Pseudomonas, Achromobacter có khả  
năng sinh sản ở nhiệt độ -5 đến 00C và một số loài có thể phát triển ở -8 đến -90C.  
Nhiều loài trong 2 giống này ở khoảng nhiệt độ thấp vẫn có khả năng gây hƣ hỏng  
thịt, đó là Pseudomonas putrifacius, Pseudomonas fluorescens, Pseudomonas  
geniculata.  
- Khi bảo quản dài ngày, một số loại Pseudomonas phát triển trên thịt tạo  
thành vết nhày có màu xám hoặc nâu xám. Đó là do thịt lây màu khuẩn lạc, không  
ảnh hƣởng đến mùi vị của thịt và không gây nguy hiểm cho ngƣời dùng. Thời gian  
bảo quản thịt càng dài, ta thấy xuất hiện thêm nấm men, nấm mốc trên bề mặt của  
thịt, có khi có cả xạ khuẩn làm cho thịt có mùi khó chịu. Các loài Mucor,  
penicillium, Clasdosporium và các nấm men không sinh bào tử Rhodototula ở  
nhiệt độ -9 đến -40C chúng vẫn phát triển và gây hƣ hỏng thịt, còn các loài khác bị  
ức chế ở nhiệt độ này.  
* Thịt lạnh đông  
- Phƣơng pháp này giữ thịt ở nhiệt độ lạnh sâu, ở những lớp sâu từ 8-10cm  
của thịt nhiệt độ không dƣới -60C để bảo quản thịt trong thời gian dài. Trong thịt  
lạnh đông phần nƣớc đóng băng ở dạng tinh thể, nếu nhiệt độ hạ thấp dần dần thì  
tinh thể nhỏ và nếu hạ thấp nhanh thì tinh thể đá sẽ lớn. Điều này liên quan đến  
việc làm tan băng, nếu tinh thể băng nhỏ khi tan băng sẽ phá vỡ tế bào thịt ít hơn,  
nếu tinh thể băng lớn sẽ phá vỡ nhiều hơn. Nhƣ vậy phần nƣớc trong tế bào sẽ tiết  
ra nhiều hơn.  
- Ở thịt lạnh đông một số vi sinh vật bị tiêu diệt, tốc độ chết phụ thuộc vào  
tốc độ đông lạnh nhanh và sâu. Nấm mốc vẫn có thể phát triển ngay trên thịt lạnh  
đông và sự phát triển này liên quan chặt chẽ đến độ ẩm tƣơng đối của không khí,  
nhiệt độ và độ thoáng khí của buồng lạnh. Nhiệt độ, độ ẩm càng cao và lƣu lƣợng  
không khí càng thấp thì nấm mốc càng phát triển nhanh.  
92  
- Khi làm tan băng, dịch nƣớc thịt đƣợc tiết ra và vi sinh vật còn sống trong  
thịt đông lạnh phát triển nhanh. Thịt tan băng mất tính bền vững, bề mặt ẩm ƣớt,  
cấu trúc tế bào bị phá huỷ. Do vậy thịt làm tan băng phải sử dụng ngay và không  
nên làm đông lạnh trở lại  
3.3. Thịt hộp  
- Thịt chứa đựng ở hộp kín và thanh trùng ở nhiệt độ cao.  
- Trong quá trình thanh trùng, các vi sinh vật bị tiêu diệt phần lớn, trừ những  
bào tử của Bacillus subtilis, Bacillus mesentericus, Clostridium botulinum có thể  
vẫn còn sống. Vì vậy số bào tử càng nhiều thì thời gian thanh trùng càng dài để có  
thể tiêu diệt đƣợc chúng.  
- Sự hƣ hỏng của thịt hộp thể hiện rất rõ, nhất là hộp bị phồng. Nguyên nhân  
của hiện tƣợng này thƣờng do các vi sinh vật còn sống sót trong quá trình thanh  
trùng, sau đó phát triển, sinh hơi và làm phồng. Các vi khuẩn thƣờng gặp là các vi  
khuẩn yếm khí, ƣa nhiệt, đôi khi còn gặp các vi khuẩn hảo khí tuỳ tiện. Những bào  
tử của Bacillus subtilis, Bacillus mesentericus, Clostridium botulinum chƣa qua gia  
nhiệt sẽ này mầm sau 1-2 ngày. Nếu đã qua gia nhiệt cao sẽ nảy mầm ở 370C, sau  
khoảng 20-27 ngày đối với Bacillus subtilis, Bacillus mesentericus. Sau 56-58  
ngày hoặc muộn hơn đối với Clostridium botulinum và Clostridium sporogenes.  
3.4. Xúc xích, giò, lạp sƣờn  
Đây là những sản phẩm ăn trực tiếp không qua đun nấu, vì vậy yêu cầu vệ  
sinh cao, yêu cầu về nguyên liệu thịt cũng cao. Thịt dùng để làm xúc xích, giò, lạp  
sƣờn là loại thịt tốt, tƣơi, ngoài ra còn phải chú ý đến chất lƣợng nguyên liệu phụ  
nhƣ: muối, bột, các gia vị…  
- Thịt sau khi lọc xƣơng hoặc xay có thể nhiễm Escherichia coli,  
Escherichia paracoli, Bacterium facilis, Bacterium proteus, các loại cầu khuẩn,  
bào tử nấm mốc, xạ khuẩn…Thịt xay đƣợc ƣớp muối, muối ngấm vào thịt làm tăng  
áp suất thẩm thấu do đó làm ức chế hoạt động của vi sinh vật, một phần vi sinh vật  
bị chết, còn lại là Bacterium subtilis, Bacterium mesentericus, Pseudomonas  
fluorescens, các cầu khuẩn sinh mầu, một số Micrococcus chịu đƣợc muối cao.  
93  
Bảo tử nấm mốc, xạ khuẩn và một số vi khuẩn gây bệnh có thể chịu đƣợc muối cao  
trong thời gian dài. Một số vi sinh vật trong thịt có hoạt tính proteaza và có khả  
năng làm thối thịt, nếu cho đƣờng vào thịt muối, thịt sẽ mềm và tƣơi, dễ bị vi sinh  
vật lên men sinh axit, do đó kiềm chế đƣợc vi khuẩn gây thối.  
- Xúc xích, lạp sƣờn, giò chả… có một lƣợng nƣớc không lớn (30-40%), có  
vỏ bọc, có các chất ức chế khuẩn nên có thể bảo quản đƣợc một thời gian. Trong  
quá trình bảo quản, các sản phẩm này có thể bị hƣ hỏng, các dạng hƣ hỏng thƣờng  
gặp là : thối rữa, đắng, mốc.  
III. Hệ vi sinh vật cá  
1. Hệ vi sinh vật cá  
- Thịt của cá có thành phần nhƣ sau: protein 12-23%, chất béo – 0,1-33%,  
nƣớc 65-85%, chất khoáng, vitamin. Đây là môi trƣờng rất tốt cho vi sinh vật phát  
triển, đặc biệt là các vi khuẩn gây thối. Tất cả vi sinh vật ƣa lạnh, gây thối của cá  
dễ thích ứng với nhiệt độ thấp trong bảo quản cá, cho nên cá bị phân huỷ ở nhiệt  
độ thấp hơn so với thịt của động vật máu nóng.  
- Ngoài ra, cá bao giờ cũng có một lớp nhớt. Lớp nhớt này giàu protein và là  
môi trƣờng dinh dƣỡng tốt cho vi sinh vật phát triển. Số lƣợng vi sinh vật của cá  
mới bắt thƣờng dao động lớn từ 10 – 106 tế bào/cm2 bề mặt da cá, bao gồm các loại  
trực khuẩn, cầu khuẩn, một số nấm mốc, nấm men trong nƣớc. Thƣờng gặp hơn cả  
là: Pseudomonas flourescens, Liquefaciens, Proteus và nhóm Escherichia coli.  
- Trong mang cá đặc biệt có nhiều vi sinh vật. Mang là cơ quan hô hấp của  
cá, ở đây liên quan đến sự hảo khí tích cực, với hàm lƣợng các chất hữu cơ và phản  
ứng kiềm nhẹ. Vì vậy trong mang cá có nhiều vi sinh vật ở nƣớc, bùn. Phần lớn là  
các vi sinh vật hảo khí nhƣ : Pseudomonas flourescens, Liquefaciens. Sau khi cá  
chết các vi sinh vật này phát triển rất mạnh.  
- Trong ruột cá hệ vi sinh vật rất đa dạng và là nguồn gây thối rữa sau khi cá  
chết. Thƣờng gặp nhất là Clostridium sporogens, Clostridium putrificus,  
Escherichia coli. Ngoài ra còn có các vi khuẩn gây ngộ độc thực phẩm nhƣ  
Salmonella, Clostridium.  
94  
- Số lƣợng và thành phần vi sinh vật phụ thuộc vào số lƣợng và thành phần  
vi sinh vật nƣớc, bùn, thức ăn, trạng thái cá...Cá sống thƣờng ít vi khuẩn, trong tế  
bào của cá sống thƣờng có khả năng bảo vệ và miễn dịch, vì vậy các vi khuẩn gây  
thối rữa thƣờng khó phát triển. Sự thay đổi chất lƣợng cá đặc biệt nhanh khi cá  
chết không lấy ruột ra, vì trong ruột có rất nhiều vi sinh vật. Sau khi cá chết, vi  
khuẩn phát triển mạnh và lây nhiễm từ ngoài da, từ mang theo các mạch máu, từ  
ruột tràn vào các tổ chức bên trong, vào các mô thịt cá rồi làm cá bị ƣơn và thối.  
Cá thối số lƣợng vi sinh vật từ 107- 108 tế bào/g.  
Khi cá chết sẽ dần dần thay đổi trạng thái. Đó là sự phân huỷ sâu sắc của  
gluxit và protein trong thịt cá làm cho cá bị thối rữa từ ngoài vào trong, pH của thịt  
cá chuyển sang kiềm, màu sắc thay đổi và có mùi khó chịu do sinh NH3, indola,  
scatola, mecaptan…  
2. Các sản phẩm của cá  
2.1. Các ƣớp lạnh  
- Cá ƣớp lạnh là cá đƣợc bảo quản ở nhiệt độ thấp do đó thể giữ đƣợc phẩm  
chất của cá trong một thời gian.  
- Hệ vi sinh vật của cá ƣớp lạnh không khác biệt về thành phần hệ vi sinh  
vật trong các mô, các cơ quan của cá tƣơi. Số lƣợng vi sinh vật ở cá ƣớp lạnh có  
thể giữ nguyên hoặc giảm chút ít so với cá lúc đầu, sau một thời gian các vi sinh  
vật mới phát triển. Trong số các vi sinh vật ở cá ƣớp lạnh, có ý nghĩa đặc biệt là  
nhóm ƣa lạnh. Trong nhóm này ta thấy có vi khuẩn, xạ khuẩn, nấm men, nấm mốc.  
Chúng có thể sinh sản ở -5 đến -8 0 C, thậm chí cả -130C.  
- Nhiệt độ thấp làm chậm sự phát triển của vi sinh vật ƣa lạnh, kìm hãm các  
quá trình biến đổi sinh hoá do enzim và do các vi sinh vật gây thối trong cá ƣớp  
lạnh. Vì vậy cá bị biến đổi phẩm chất tƣơng đối chậm, các chất dinh dƣỡng ít thay  
đổi.  
Tuy nhiên cá ƣớp lạnh có thể bị thối do các vi khuẩn hảo khí gây ra, đó là  
:Pseudomonas fluorescens, Bacterium putrificiens. Ngoài vi khuẩn, trong cá ƣớp  
lạnh còn thấy phát triển khá mạnh các loại nấm mốc: Mucor, Asperillus,  
95  
Penicillium, Rhizopus. Ngoài ra còn có các vi khuẩn có khả năng phân huỷ chất  
béo làm hƣ hỏng cá có nhiều mỡ. Điều kiện vệ sinh cũng ảnh hƣởng đến thời gian  
bảo quản.  
2.2. Cá đông lạnh  
- Cá bảo quản đông lạnh ở -120C đối với cá to và -160C cá nhỏ. Khi nhiệt độ  
xuống dƣới -80C thì 76-80% nƣớc trong mô thịt cá đóng đóng thành băng và trở  
lên cứng, không còn nƣớc để xảy ra các quá trình dinh dƣỡng và hoạt động sống  
của vi sinh vật. Trong thực tế cá đƣợc bảo quản ở -18 đến -200C, ở nhiệt độ này vi  
khuẩn không phát triển đƣợc, chính vì vậy mà cá đông lạnh giữ đƣợc thời gian dài  
và phẩm chất ít bị biến đổi, song cần lƣu ý một số vi sinh vật trong cá vẫn sống ở  
trạng thái tiềm sinh, chúng là nguyên nhân làm thay đổi chất lƣợng của cá sau 2-3  
tháng bảo quản.  
Khi tan băng, nƣớc đá chảy ra là môi trƣờng rất tốt cho vi khuẩn vật phát  
triển trở lại, do vậy cá sau khi làm tan băng không sử dụng ngay sẽ bị hƣ hỏng rất  
nhanh, không lên đƣa lạnh đông trở lại.  
2.3. Cá muối  
- Cá muối là một sản phẩm phổ biến và phƣơng pháp muối cá đƣợc dùng từ  
thời cổ xƣa. Muối cá bằng cách rửa sạch, mổ, bóc mang rồi ngâm vào dung dịch  
muối ăn từ 5-20%. Dung dịch muối có khả năng tạo áp suất thẩm thấu cao (dung  
dịch 15-20% NaCl có Ptt trên 200atm). Vì vậy các tế bào vi sinh vật có xu hƣớng  
chảy dịch bào ra ngoài và dịch muối thâm nhập vào nội bào, tế bào bị teo nguyên  
sinh chất. Hiện tƣợng này làm cho vi sinh vật bị chất hoặc ngừng hoạt động  
- Các vi khuẩn gây ngộ độc thực phẩm nhƣ: Clostridium botulinum và  
Salmonella bị ngừng phát triển ở dung dịch muối có nồng độ tƣơng đối thấp,  
nhƣng không bị chết ngay mà chúng còn tồn tại đƣợc trong một thời gian dài. Ở  
nồng độ muối cao cũng không phá huỷ đƣợc độc tố của Clostridium botulinum.  
Nhiều vi khuẩn làm quen với muối và phát triển bình thƣờng nhƣ trong dung dịch  
không muối. Vì vậy trong muối cá thấy một số khá lớn vi khuẩn, ngoài ra còn có  
một số vi sinh vật ƣa muối sẵn có từ muối hoặc từ không khí, dụng cụ… rơi vào  
96  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 44 trang Mãnh Khiết 15/01/2024 8140 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Vi sinh công nghiệp (Phần 2)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_vi_sinh_cong_nghiep_phan_2.pdf