Phân tích mối quan hệ di truyền giữa các quần thể Sơn Tra (Docynia Indica (Wall.) Decne) bằng chỉ thị ISSR

Tạp chí KHLN 4/2016 (4603 - 4613)  
©: Viện KHLNVN - VAFS  
ISSN: 1859 - 0373  
PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ DI TRUYỀN  
GIỮA CÁC QUẦN THỂ SƠN TRA (Docynia indica (Wall.) Decne)  
BẰNG CHỈ THỊ ISSR  
Vũ Thị Thu Hiền1, Trần Thị Liệu1, Đinh Thị Phòng1,  
Phí Hồng Hải2, La Ánh Dương2, Vũ Đức Toàn3, Delia Catacutan4, Đàm Việt Bắc4  
1 Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam  
2 Viện KH Lâm nghiệp Việt Nam  
3 Đại học Tây Bắc  
4 Tổ chức Nông Lâm quốc tế (ICRAF) tại Việt Nam  
TÓM TẮT  
Trong nghiên cứu của chúng tôi, 30 chỉ thị ISSR đã được sử dụng để  
nghiên cứu đa dạng di truyền genome của 35 mẫu Sơn tra thu thập ở 7  
quần thể (Mường La, Cà Mạ, Bắc Yên, Trạm Tấu, Mù Căng Chải, Bát Xát  
and Sìn Hồ). Kết quả chỉ ra 28/30 chỉ thị chỉ ra tính đa hình và nhân bản  
được 148 phân đoạn DNA, trong đó có 96 phân đoạn đa hình (chiếm  
64,86%). Trung bình giá trị đa dạng gen trên một locus (Hj) và hàm lượng  
thông tin đa hình của các chỉ thị tương ứng là 0,133 và 0,119. Kết quả  
phân tích các thông số di truyền của 5 tiểu quần thể Sơn tra (trừ 2 tiểu  
quần thể Cò Mạ và Sìn Hồ chỉ có một cá thể duy nhất không đánh giá  
được một số thông số di truyền) cho thấy tính đa dạng di truyền của các  
tiểu quần thể Sơn tra ở Tây Bắc tương đối thấp (Na = 1,013; Ne = 1,109;  
Từ khóa: Sơn tra,  
Docynia indica, đa hình  
AND, mối quan hệ di  
truyền, ISSR  
I = 0,122, He = 0,084; h = 0,075 và PPB = 21,17%) trong đó thấp nhất là  
tiểu quần thể Bát Xát và cao nhất là tiểu quần thể Bắc Yên. Hệ số di nhập  
gen (Nm) của loài Sơn tra ở mức trung bình (Nm = 0,843), thể hiện cao  
nhất ở hai locus UBC834 và UBC841 (Nm = 4,0) và thấp nhất ở locus  
ISSR6 và UBC859 (Nm = 0). Hệ số tương đồng di truyền giữa 35 mẫu Sơn  
tra dao động từ 0,567 (BY29 và TT45, BS63) đến 0,965 (MCC49 và  
MCC51). Biểu đồ hình cây thể hiện mối quan hệ di truyền giữa 35 mẫu  
Sơn tra phân tích với chỉ thị ISSR chia làm 2 nhánh chính có hệ số tương  
đồng di truyền trong khoảng 61 - 96%, các mẫu thu ở cùng một địa điểm  
đều nằm trong những nhánh phụ riêng biệt.  
Analysis of genetic diversity between populations of Docynia indica  
(Wall.) Dence by ISSR markers  
In our study, 30 ISSR markers were used to assess genetic diversity of 35  
Docynia indica samples collected from 7 different populations (Muong  
La, Co Ma, Bac Yen, Tram Tau, Mu Cang Chai, Bat Xat and Sin Ho).  
Among 30 ISSR markers, there were 28 markers that revealed  
Keywords: Docynia indica  
(Wall.) Dence,  
polymorphism DNA  
genetic diversity, ISSR  
polymorphism. A total of 148 DNA fragments were generated but only 96  
DNA fragments showed polymorphism (approximately 64.86%). Average  
value of genetic diversity on a locus and polymorphism information of the  
markers were 0.133 and 0.119, respectively. The results of genetic  
diversity of 5 populations of Docynia indica (except for Co Ma và Sin Ho;  
4603  
Tạp chí KHLN 2016  
Vũ Thị Thu Hiền et al., 2016(4)  
because they have only one sample) showed that genetic diversity of 5  
populations of Docynia indica was low (Na = 1.013; Ne = 1.109; I = 0.122,  
He = 0.084; h = 0.075 và PPB = 21.17%). Bat Xat population was the  
lowest genetic diversity; Bac Yen population was the highest genetic  
diversity. Gene-flow (Nm) of Docynia indica was average (Nm = 0.843),  
two locus UBC834 và UBC841 (Nm = 4.0) had the hightest values and  
two locus ISSR6 and UBC859 (Nm = 0) had the lowest. Genetic similarity  
coefficients between samples ranged from 0.567 (BY29 and TT45, BS63)  
to 0.965 (MCC49 and MCC51). The pattern of grouping in the  
dendrogram divided 35 Docynia indica samples into 2 main groups, with  
genetic similarity coefficients ranged from 61-96%. The samples collected  
from the same population belong to separate subgroups group.  
đánh giá mức độ di truyền trên nhiều đối  
tượng sinh vật ở nhiều phòng thí nghiệm trên  
I. MỞ ĐẦU  
Sơn tra hay còn gọi là Táo mèo (Docynia  
indica (Wall.) Decne) là loài thân gỗ thuộc chi  
(Rosaceae). Sơn tra là loài ưa sáng, thường  
mọc rải rác trong rừng hoặc thành quần thể  
thuần loài trong trảng cây bụi, ven đồi, suối,  
sườn núi ở độ cao 1500 - 3000m. Ở Việt Nam  
loài được tìm thấy ở các tỉnh miền núi phía  
thế giới và Việt Nam. Các kết quả thu được rất  
có giá trị trong chọn tạo giống cũng như công  
tác bảo tồn và tái tạo nguồn gen (Chung et al.,  
2004; Vũ Thị Thu Hiền et al., 2009; Nguyễn  
Hoàng Nghĩa et al., 2010; Wu et al., 2011;  
Dinh Thi Phong et al., 2009; 2014). Trong các  
loại chỉ thị thì chỉ thị ISSR (Inter Sequence  
Bắc như Lai Châu (Phong Thổ), Lào Cai Simple Repeat) đang được ứng dụng rộng rãi  
(Sapa), Cao Bằng, Sơn La (Bắc Yên: Tạ Xùa),  
Yên Bái. Trên thế giới loài phân bố ở các nước  
Trung Quốc, Ấn Độ, Mianma và Thái Lan  
(Sách đỏ Việt Nam, 2007).  
và có hiệu quả trong việc đánh giá đa dạng di  
truyền ở cả mức độ quần thể và loài (Nguyễn  
Đức Thành, 2014; Vũ Đình Duy et al., 2010;  
Đinh Thị Phòng et al., 2015; Trần Thị Liễu et  
al., 2015). Tuy nhiên đối với loài Sơn tra và  
một số loài khác thuộc chi Docynia hầu như  
chưa có một nghiên cứu nào đánh giá về mức  
độ đa dạng di truyền của loài. Các nghiên cứu  
mới chỉ tập trung vào thành phần hóa học và  
tác dụng dược liệu của các sản phẩm chế biến  
từ quả Sơn tra (Đinh Thị Kim Chung, 2007;  
Hoàng Thị Minh Tân, 2009; Vũ Thị Huê và  
Bùi Thị Việt Hà, 2010; Nguyễn Thị Thanh  
Loan et al., 2011; Vũ Thị Hạnh Tâm, 2011).  
Quả và hạt Sơn tra được sử dụng rộng rãi như  
là nguồn dược liệu nên được nhân dân địa  
phương khai thác hàng năm để dùng và bán  
dẫn tới việc giảm số lượng cá thể và thu hẹp  
khu phân bố. Vì vậy cần có chiến lược khai  
thác thích hợp (chỉ hái quả, không chặt cây) và  
khoanh vùng giữ lại các cây con mọc hoang  
trong rừng, ven bản làng. Đồng thời cần có  
biện pháp gây trồng trong vườn rừng ở vùng  
cao (Đinh Thị Kim Chung, 2007).  
Xuất phát từ cơ sở khoa học trên, chúng tôi  
trình bày kết quả nghiên cứu phân tích đa dạng  
di truyền 35 mẫu Sơn tra bản địa (Docynia  
indica) bằng chỉ thị ISSR tại 7 quần thể ở Tây  
Bắc làm cơ sở cho công tác bảo tồn và chọn  
tạo nguồn gen loài Sơn tra của Việt Nam.  
Để công tác bảo tồn loài được hiệu quả, việc  
nghiên cứu mối quan hệ di truyền giữa các  
quần thể và giữa cá thể trong quần thể hết sức  
quan trọng và cần thiết. Hiện nay, đã có rất  
nhiều nghiên cứu sử dụng các chỉ thị phân tử  
như SSR, ISSR, RFLP, AFLP, RAPD,... trong  
4604  
Vũ Thị Thu Hiền et al., 2016(4)  
Tạp chí KHLN 2016  
Xác định hệ số tương đồng di truyền theo  
phương pháp của Nei và Li 1979 (hệ số Dice):  
II. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP  
Vật liệu nghiên cứu: Bao gồm 35 mẫu lá Sơn  
tra được ký hiệu và nơi thu thập như bảng 1.  
Đây là các mẫu lá trộn từ 3 cây cá thể trong  
các quần thể tự nhiên của Sơn tra tại Tây Bắc.  
Các cây cá thể được chọn ngẫu nhiên và đảm  
bảo cách nhau tối thiểu 300m.  
2a  
Sij  
2a b c  
Trong đó: Sij: Hệ số giống nhau giữa cá thể i  
và j; a: Số phân đoạn ADN xuất hiện ở cả cá  
thể i và j; b: Số phân đoạn ADN xuất hiện ở i  
và không xuất hiện ở j; c: Số phân đoạn ADN  
xuất hiện ở j và không xuất hiện ở i.  
Các mồi sử dụng trong nghiên cứu: 30 chỉ thị  
ISSR được tổng hợp bởi hãng IDT (Integrated  
DNA Technology, Mỹ). Trình tự nucleotide  
của các mồi ISSR được trình bày trong bảng 2.  
Các thông số di truyền nghiên cứu quan tâm  
như số alen trung bình quan sát (Number of  
alleles: Na), số alen hiệu quả (Number of  
effective alleles: Ne), hệ số gen dị hợp tử  
mong đợi (Expected heterozygosity: He), chỉ  
số đa dạng di truyền theo Shanon (Shanon’s  
index: I), hệ số di nhập gen (Nm) của 7 tiểu  
quần thể Sơn tra được tính toán ở mức độ quần  
thể và loài bằng phần mềm GenAlex 6.3  
(Peakall & Smouse, 2006) và phần mềm  
Popgen (Yeh et al., 1999). Chỉ số đa dạng di  
truyền (h) theo cách tính của Nei (1973) được  
tính bằng công thức: h = ∑pi2 (trong đó pi là  
tần số của alen thứ i tại locus đó) (Nei, 1973).  
Tách chiết DNA tổng số: DNA tổng số từ 35  
mẫu lá Sơn tra được tách chiết theo phương  
pháp miêu tả bởi Doyle và Doyle (1987) có cải  
tiến một số bước cho phù hợp với điều kiện  
phòng thí nghiệm. Sau đó được tinh sạch bằng  
bộ kít (genome DNA purification kit, #  
KO512) của hãng Fermentas. Hàm lượng và  
độ sạch của DNA tổng số được đo trên máy  
quang phổ hấp phụ và kiểm tra trên gel  
agarose 0,9%.  
Phản ứng PCR - RAPD: Một phản ứng PCR  
có thể tích 25µl: Bao gồm dung dịch đệm  
PCR 1X; 2,5 mM MgCl2; 2 mM dNTPs;  
200nM đoạn mồi; 1,125 đơn vị Taq  
polymerase và 10 ng ADN khuôn. Phản ứng  
PCR - RAPD thực hiện trong máy PCR -  
Thermal Cycler theo chu trình nhiệt: bước 1:  
94oC - 1 phút; bước 2: 92oC - 1 phút; bước 3:  
35oC - 1 phút; bước 4: 72oC - 1 phút; từ bước  
2 đến bước 4 lặp lại 45 chu kỳ; bước 5: 72oC  
- 10 phút; bước 6: Giữ sản phẩm ở 4oC. Điện  
di sản phẩm PCR trên gel agarose 1,5%,  
nhuộm Ethidium bromide và chụp ảnh trên  
máy soi gel.  
Hàm lượng thông tin đa hình (Polymorphism  
infomation content: PIC) của mỗi chỉ thị được  
xác định theo công thức PIC = 1 - ∑Pi2, trong  
đó Pi là tần số alen thứ i của kiểu gen được  
kiểm tra. Phạm vi giá trị PIC từ 0 (không đa  
hình) tới 1 (đa hình hoàn toàn). Giá trị đa dạng  
gen trên một locus (Intralocus Gene Diversity:  
Hj) được tính theo công thức: Hj = 1 - p2 - q2.  
Biểu đồ hình cây và biểu đồ đa chiều thể hiện  
mối quan hệ di truyền của 35 mẫu Sơn tra  
được thiết lập dựa trên giá trị của khoảng cách  
di truyền bằng phần mềm NTSYSpc 2.0  
(Rohlf, 1992) và giá trị Bootrap được hỗ trợ  
bởi phần mềm Win-Boot (Yap, 1996) với số  
lần lặp lại 1000 lần.  
Phân tích số liệu: Phân tích số liệu theo quy  
ước: 1 = phân đoạn ADN xuất hiện và 0 = phân  
đoạn ADN không xuất hiện, khi điện di sản  
phẩm RAPD với các đoạn mồi ngẫu nhiên.  
4605  
Tạp chí KHLN 2016  
Vũ Thị Thu Hiền et al., 2016(4)  
Bảng 1. Nguồn gốc, ký hiệu và tọa độ của 35 mẫu Sơn tra sử dụng trong nghiên cứu  
Tọa độ địa lý  
Số mẫu Ký hiệu mẫu  
Địa điểm thu hái mẫu  
Độ cao  
(so mặt nước biển)  
Kinh độ  
Vĩ độ  
ML1  
ML4  
ML5  
104023.662  
104027.753  
104023.920  
104023.999  
104024.114  
104024.580  
104024.790  
103042.348  
104040.731  
104040.134  
104040.158  
104040.302  
104040.707  
104040.713  
104040.739  
104040.956  
104039.168  
104039.233  
104039.245  
104039.251  
104039.263  
104039.359  
104020.190  
104020.142  
104020.155  
104020.259  
104020.280  
104020.287  
104020.214  
103063.049  
103063.231  
103063.252  
103063.254  
103063.539  
103049.757  
21060.100  
21060.180  
21060.131  
21060.114  
21060.063  
21059.704  
21059.510  
21036.223  
21029.339  
21029.366  
21029.219  
21029.377  
21029.431  
21029.338  
21029.311  
21029.371  
21052.381  
21052.368  
21052.317  
21052.410  
21052.392  
21052.078  
21067.990  
21068.042  
21067.975  
21067.014  
21068.036  
21068.015  
22063.347  
22063.437  
22063.560  
22063.545  
22063.545  
22063.256  
22008.791  
1837  
1889  
1850  
1913  
1920  
1975  
1984  
1785  
1707  
1711  
1663  
1716  
1716  
1714  
1701  
1717  
1554  
1563  
1556  
1604  
1597  
1464  
1574  
1568  
1580  
1600  
1595  
1605  
1576  
1955  
1965  
1971  
1972  
1972  
1952  
Bản Nậm Nghiệp -  
Ngọc Chiến -  
Mường La - Sơn La  
7
1
ML6  
ML9  
ML14  
ML19  
ĐB11  
BY10  
BY21  
BY23  
BY26  
BY29  
BY30  
BY32  
BY34  
TT36  
Cò Mạ, Sơn La  
Bắc Yên, Sơn La  
8
6
8
Bản Cáo A - Làng Chiếu -  
Bắc Yên - Sơn La  
TT37  
TT39  
Thôn Suối Giao - Xà Hồ -  
Trạm Tấu - Yên Bái  
TT45  
TT47  
TT48  
MCC49  
MCC51  
MCC53  
MCC56  
MCC58  
MCC59  
MCC60  
MCC61  
BS62  
BS63  
BS64  
BS65  
SH70  
Bản Cán Dộng -  
Nậm Khắt - Mù Cang  
Chải - Yên Bái  
Bản Phìn Hồ - Y Tý -  
Bát Xát - Lào Cai  
4
1
Sìn Hồ, Lai Châu  
4606  
Vũ Thị Thu Hiền et al., 2016(4)  
Tạp chí KHLN 2016  
Bảng 2. Trình tự các nucleotide 30 chỉ thị ISSR sử dụng trong nghiên cứu  
TT  
1
Chỉ thị  
ISSR1  
Trình tự nucleotide  
(CAG)5  
Tài liệu tham khảo  
Bornet et al., 2011  
2
ISSR2  
(CAA)5  
Bornet et al., 2011  
Lee et al., 2011  
3
ISSR5  
(CCG)6  
4
ISSR6  
(CTC)6  
Lee et al., 2011  
5
ISSR8  
(GAA)6  
Baloch et al., 2010  
Baloch et al., 2010  
Mahdizadeh et al., 2012  
Mahdizadeh et al., 2012  
Mahdizadeh et al., 2012  
Mahdizadeh et al., 2012  
Arif et al., 2009  
6
ISSR9  
(TG)8GA  
(CCA)5  
7
ISSR11  
ISSR14  
ISSR16  
ISSR18  
ISSR52  
ISSR54  
ISSR55  
ISSR59  
ISSR61  
ISSR64  
ISSR67  
ISSR69  
HB12  
8
(CT)8GTC  
(CT)8AC  
(CT)8A  
9
10  
11  
12  
13  
14  
15  
16  
17  
18  
19  
20  
21  
22  
23  
24  
25  
26  
27  
28  
29  
30  
(CT)8G  
(TC)8G  
Arif et al., 2009  
(AC)8T  
Arif et al., 2009  
(GA)8CT  
(AC)8TG  
ACA(GT)7  
(ATG)6  
Arif et al., 2009  
Arif et al., 2009  
Arif et al., 2009  
Arif et al., 2009  
(GGGTG)3  
(CAC)3GC  
GTG)3 GC  
(CA)6 AG  
(AG)8 CT  
(GA)8 CC  
(CA)8 GT  
(GT)8 CA  
(GT)8 CG  
(TC)8AG  
(AC)8CT  
(TG)8 GC  
(GATA)2 (GACA)2  
Arif et al., 2009  
Parasharami et al., 2012  
Parasharami et al., 2012  
Parasharami et al., 2012  
Isshiki et al., 2008  
Wang et al., 2010  
Wang và Hao 2010  
Wang và Hao 2010  
Wang và Hao 2010  
Wang và Hao 2010  
Yang et al., 2005  
HB15  
A17901  
UBC834  
UBC841  
UBC846  
UBC849  
UBC851  
UBC854  
UBC855  
UBC859  
UBC876  
Wang et al., 2010  
Wang và Hao 2010  
HB12). Tổng số phân đoạn DNA khi phân tích  
với 30 chỉ thị là 148 phân đoạn, trong đó có 96  
phân đoạn đa hình (chiếm 64,86%) và 52 phân  
đoạn đồng hình (chiếm 35,14%). Trong tổng  
số 30 chỉ thị sử dụng phân tích thì có 03 chỉ thị  
(ISSR8, ISSR59 và UBC849) có số phân đoạn  
đa hình hoàn toàn (100%), 22 chỉ thị có tính đa  
hình trên 50%. Trung bình giá trị đa dạng gen  
trên một locus (Hj) và hàm lượng thông tin đa  
hình của các chỉ thị (PIC) là 0,133 và 0,119  
tương tứng (Bảng 3).  
III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN  
3.1. Đa dạng nguồn gen di truyền của 35  
mẫu Sơn tra  
Kết quả nghiên cứu phân tích tính đa hình  
DNA của 35 mẫu Sơn tra thu tại 7 tiểu quần  
thể ở 4 tỉnh Tây Bắc cho thấy có 28/30 chỉ thị  
chỉ ra tính đa hình, với giá trị PIC dao động từ  
0 (chỉ thị ISSR18 và UBC855) đến 0,255 (chỉ  
thị ISSR54). Số lượng các phân đoạn DNA  
nhân bản được với mỗi chỉ thị dao động từ 2  
(chỉ thị ISSR64) đến 8 phân đoạn (chỉ thị  
4607  
Tạp chí KHLN 2016  
Vũ Thị Thu Hiền et al., 2016(4)  
Bảng 3. Tỷ lệ phân đoạn đa hình, giá trị PIC, đa dạng gen một locus và hệ số di nhập gen của 35  
mẫu Sơn tra phân tích với 30 chỉ thị ISSR  
Phân  
đoạn  
đa  
Đa dạng  
gen trên  
một locus  
(Hj)  
Kích thước  
sản phẩm  
PCR (bp)  
Tổng  
phân  
đoạn  
Phân  
đoạn  
đồng hình  
% phân  
đoạn đa  
hình  
Hệ số di  
nhập gen  
(Nm)  
Giá trị  
PIC  
TT  
Chỉ thị  
hình  
1
2
3
4
5
6
7
8
9
ISSR1  
ISSR2  
ISSR5  
ISSR6  
ISSR8  
ISSR9  
ISSR11  
ISSR16  
ISSR14  
375 - 1200  
500 - 1200  
600 - 1100  
600 - 1100  
300 - 1400  
600 - 1350  
350 - 2000  
350 - 900  
6
4
3
6
7
6
6
6
5
5
2
1
5
7
5
3
4
2
1
2
2
1
0
1
3
2
3
83,33  
50,00  
33,33  
83,33  
100,00  
83,33  
50,00  
66,67  
40,00  
0,219  
0,173  
0,005  
0,115  
0,180  
0,158  
0,158  
0,168  
0,112  
0,188  
0,196  
0,019  
0,193  
0,272  
0,167  
0,075  
0,143  
0,157  
0,158  
0,070  
2,919  
0,000  
0,137  
0,904  
0,610  
0,520  
0,250  
500 -1350  
10  
11  
12  
13  
14  
15  
16  
17  
18  
19  
20  
21  
22  
23  
24  
25  
26  
27  
28  
29  
30  
ISSR18  
ISSR52  
ISSR54  
ISSR55  
ISSR59  
ISSR61  
ISSR64  
ISSR67  
ISSR69  
HB12  
320 - 950  
300 - 1250  
400 - 1050  
500 - 1100  
600 - 850  
400 -950  
3
7
0
6
5
4
3
5
1
1
3
4
3
6
4
1
5
4
2
2
3
1
2
96  
3
1
1
1
0
1
1
2
2
4
4
1
2
2
2
0
2
1
0
2
2
52  
0,00  
85,71  
83,33  
80,00  
100,00  
83,33  
50,00  
33,33  
60,00  
50,00  
42,86  
85,71  
66,67  
33,33  
71,43  
100,00  
50,00  
66,67  
0,00  
0,000  
0,153  
0,255  
0,181  
0,083  
0,185  
0,022  
0,010  
0,145  
0,099  
0,015  
0,250  
0,010  
0,005  
0,123  
0,244  
0,068  
0,019  
0,000  
0,207  
0,217  
0,119  
0,000  
0,273  
0,190  
0,065  
0,221  
0,154  
0,078  
0,036  
0,120  
0,124  
0,051  
0,246  
0,037  
0,019  
0,203  
0,249  
0,149  
0,071  
0,000  
0,082  
0,211  
0,133  
-
0,430  
0,670  
2,208  
0,461  
0,258  
2,561  
1,750  
0,665  
0,231  
0,455  
0,394  
4,000  
4,000  
0,230  
0,263  
0,570  
0,353  
-
6
5
3
6
650 - 750  
400 - 1000  
650 - 1300  
500 - 2000  
300 - 1700  
300 - 1600  
250 - 900  
500 - 750  
250 - 1000  
600 - 1500  
400 - 950  
400 - 1000  
350 - 700  
500 - 1000  
500 -800  
2
3
5
8
HB15  
7
A17901  
UBC834  
UBC841  
UBC846  
UBC849  
UBC851  
UBC854  
UBC855  
UBC859  
UBC876  
7
6
3
7
4
4
3
3
3
33,33  
50,00  
64,86  
0,000  
0,231  
0,843  
4
148  
Đến nay có thể nói gần như chưa có một trên một số loài thuộc chi khác trong họ Hoa  
nghiên cứu nào trên thế giới và Việt Nam về hồng (Rosaceae) như Crataegus (Rajeb et al.,  
đa dạng di truyền loài Sơn tra và các loài trong 2010; Beigmohamadi và Rahmani, 2011),  
chi Docynia. Các nghiên cứu mới tập trung Rosa (Jabbarzadeh et al., 2013), Malus  
4608  
Vũ Thị Thu Hiền et al., 2016(4)  
Tạp chí KHLN 2016  
(Goulão và Oliveira, 2001; Fazeli et al., 2016) 21,17%. So sánh với một số loài khác cho thấy  
mức đa dạng di truyền của loài Sơn tra ở Việt  
Nam (I = 0,122; h = 0,075 và PPB = 21,17%)  
thấp hơn loài Prunus mira ở Trung Quốc  
(I = 0,38; h = 0,23 và PPB = 72,73%) (Tian  
et al., 2015).  
và Prunus (Tian et al., 2015). Khi so sánh với  
một số loài khác trong họ Hoa hồng cho thấy  
loài Sơn tra ở Việt Nam có phần trăm phân  
đoạn đa hình (64,86%) thấp hơn loài Prunus  
mira (Trung Quốc) (100%) (Tian et al., 2015),  
loài Crataegus azarolus (Tunisia) (77,14%)  
(Rajeb et al., 2010), loài Crataegus spp. (Iran)  
(75,25%) (Beigmohamadi và Rahmani, 2011).  
Ở các quần thể tự nhiên Sơn tra, người dân  
chặt bỏ các loài cây khác và có thể trồng bổ  
sung thêm các cây Sơn tra cùng nguồn gốc  
xuất xứ, do vậy đây có thể là nguyên nhân tính  
đa hình thấp ở loài Sơn tra ở Việt Nam.  
Ở mức độ loài, các thông số di truyền như số  
alen quan sát trung bình (Na); số alen hiệu quả  
(Ne); chỉ số đa dạng di truyền theo Shannon (I)  
và theo Nei (h); hệ số gen dị hợp tử mong đợi  
(He), phần trăm phân đoạn đa hình (PPB) của  
loài Sơn tra là 1,654; 1,365; 0,333; 0,146;  
0,220 và 65,44, tương ứng (Bảng 4).  
Kết quả phân tích ở bảng 4 cho thấy hệ số gen  
dị hợp tử mong đợi (He) của cả 5 tiểu quần thể  
(trừ tiểu quần thể Cò Mạ và Sìn Hồ) đều ở  
mức thấp (dao động từ 0,053 - 0,169). Trong  
đó tiểu quần thể Bát Xát thấp nhất (0,053). Hệ  
số dị hợp tử thấp đồng nghĩa với hệ số đồng  
hợp tử cao có thể là kết quả của quá trình giao  
phấn cận huyết do ảnh hưởng bởi sự lạc dòng  
di truyền (genetic drift) do quần thể thể nhỏ và  
bị phân tách. Thêm vào đó số alen hiệu quả  
(Ne) cũng được tìm thấy rất thấp ở tiểu quần  
thể Bát Xát (1,100). Kết quả này cho phép  
nhận định sự suy giảm di truyền cao ở tiểu  
quần thể Bát Xát và cần sớm có biện pháp bảo  
vệ đặc biệt đối với tiểu quần thể này. Tuy  
nhiên kết quả phân tích trong bảng 4 cho thấy  
hệ số di nhập gen (Nm) của loài ở mức trung  
bình (Nm = 0,843), thể hiện cao nhất ở hai  
locus UBC834 và UBC841 (Nm = 4,0) và thấp  
nhất ở locus ISSR6 và UBC859 (Nm = 0). Kết  
quả này cho thấy sự biến động alen (thêm vào  
hay mất đi) xảy ra cao nhất ở hai locus  
UBC834 và UBC841. Sự di nhập gen có thể  
làm tăng hoặc giảm sự đa dạng di truyền của  
quần thể, tuy nhiên nếu sự di nhập gen tương  
đối cao vào quần thể có thể làm giảm hiệu quả  
biến đổi gen do chọn lọc tự nhiên, đột biến hay  
các yếu tố ngẫu nhiên và có thể làm chậm hoặc  
ngăn cản sự đa dạng của quần thể.  
3.2. Một số thông số di truyền của các quần  
thể Sơn tra  
Tính đa dạng di truyền giữa 35 mẫu Sơn tra  
được thể hiện qua các thông số di truyền khi  
phân tích ở mức độ quần thể và mức độ loài.  
Riêng hai quần thể Cò Mạ và Sìn Hồ chỉ có  
một mẫu duy nhất nên không đánh giá được  
một số thông số như chỉ số đa dạng di truyền  
theo Shannon (I), hệ số gen dị hợp tử mong  
đợi (He) và phần trăm phân đoạn đa hình  
(PPB). Kết quả phân tích các thông số di  
truyền của 5 quần thể Sơn tra còn lại cho thấy  
quần thể Bát Xát (Lào Cai) có tính đa dạng di  
truyền thấp nhất (Na = 0,985; Ne = 1,1; I =  
0,075, He = 0,053; h = 0,053 và PPB =  
11,76%), thứ hai là quần thể Mường La (Na =  
1,037; Ne = 1,103; I = 0,087, He = 0,059; h =  
0,058 và PPB = 15,44%), thứ ba là quần thể  
Trạm Tấu (Na = 1,081; Ne = 1,123; I = 0,098,  
He = 0,067; h = 0,065 và PPB = 16,91%), thứ  
tư là quần thể Mù Cang Chải (Na = 1,074; Ne  
= 1,129; I = 0,105, He = 0,072; h = 0,065 và  
PPB = 18,38%) và cao nhất là quần thể Bắc  
Yên (Na = 1,346; Ne = 1,306; I = 0,246, He =  
0,169; h = 0,132 và PPB = 43,38%) (Bảng 4).  
Ở mức độ quần thể, trung bình đa dạng di  
truyền theo Shannon (I) và theo Nei (h), phần  
trăm phân đoạn đa hình (PPB%) của các quần  
thể Sơn tra tương ứng là 0,122; 0,075 và  
4609  
Tạp chí KHLN 2016  
Vũ Thị Thu Hiền et al., 2016(4)  
Bảng 4. Một số thông số đa dạng di truyền quần thể Sơn tra với chỉ thị ISSR  
Na  
Ne  
I
He  
0,059  
-
h
PPB (%)  
15,44  
-
Mường La  
Cò Mạ  
1,037  
0,779  
1,346  
1,081  
1,074  
0,985  
0,787  
1,013  
1,654  
1,103  
1,000  
1,306  
1,123  
1,129  
1,100  
1,000  
1,109  
1,365  
0,087  
-
0,058  
-
Bắc Yên  
Trạm Tấu  
Mù Cang Chải  
Bát Xát  
0,246  
0,098  
0,105  
0,075  
-
0,169  
0,067  
0,072  
0,053  
-
0,132  
0,065  
0,065  
0,053  
-
43,38  
16,91  
18,38  
11,76  
-
Sìn Hồ  
Trung bình  
Loài  
0,122  
0,333  
0,084  
0,220  
0,075  
0,146  
21,17  
65,44  
Ghi chú: Na: Số alen quan sát trung bình; Ne: Số alen hiệu quả; I, h: Chỉ số đa dạng di truyền theo Shannon và  
theo Nei; He: Hệ số gen di hợp tử mong đợi; PPB: Phần trăm phân đoạn đa hình; “ - ” Không đánh giá.  
truyền và khoảng cách di truyền giữa 7 quần  
thể. Kết quả chỉ ra các quần thể Sơn tra nghiên  
cứu đều có hệ số tương đồng di truyền tương  
đối cao (dao động từ 0,796 đến 0,942), trung  
bình 0,881. Trong đó quần thể Bát Xát (Lào  
Cai) và Sìn Hồ (Lai Châu) có mối quan hệ di  
truyền gần gũi nhất (0,942). Hệ số tương đồng  
di truyền thấp nhất được xác định giữa quần  
thể Cò Mạ (Sơn La) và quần thể Mù Cang  
Chải (Yên Bái) (0,796). Tương tự, khoảng  
cách di truyền trung bình giữa các quần thể  
Sơn tra là 0,128 và được xác định cao nhất  
giữa cặp quần thể Mù Cang Chải/ Cò Mạ  
(0,228), thấp nhất giữa cặp quần thể Bát Xát/  
Sìn Hồ (0,060) (Bảng 5).  
3.3. Hệ số tương đồng di truyền giữa 35  
mẫu trong 7 quần thể Sơn tra  
Hệ số tương đồng di truyền của 35 mẫu Sơn  
tra dao động từ 0,567 (BY29 và TT45, BS63)  
đến 0,965 (MCC49 và MCC51). Trong số các  
mẫu Sơn tra nghiên cứu thì mẫu BY29 có hệ  
số tương đồng di truyền với 34 mẫu còn lại  
thấp nhất, dao động từ 0,567 (BY29 và TT45,  
BS63) đến 0,670 (BY29 và BY30). Từ kết quả  
nhận được cho thấy các mẫu Sơn tra có quan  
hệ xa nhau về mặt di truyền, nhất là mẫu  
BY29 với các mẫu còn lại.  
Mối quan hệ di truyền giữa các quần thể Sơn  
tra được xác định dựa trên hệ số tương đồng di  
Bảng 5. Hệ số tương đồng di truyền (dưới) và khoảng cách di truyền (trên) theo Nei (1973) giữa  
7 quần thể Sơn tra phân tích với chỉ thị ISSR  
Mường La  
Cò Mạ  
Bắc Yên  
Trạm Tấu  
Mù Cang Chải  
Bát Xát  
(6)  
Sìn Hồ  
Trung  
bình  
(1)  
(2)  
(3)  
(4)  
(5)  
(7)  
1
2
3
4
5
6
7
0,143  
0,155  
0,224  
0,065  
0,125  
0,156  
0,099  
0,228  
0,147  
0,108  
0,103  
0,151  
0,175  
0,089  
0,156  
0,113  
0,168  
0,172  
0,085  
0,157  
0,060  
0,867  
0,857  
0,799  
0,883  
0,796  
0,860  
0,846  
0,937  
0,856  
0,863  
0,839  
0,842  
0,128  
0,906  
0,898  
0,915  
0,918  
0,902  
0,856  
0,855  
0,893  
0,942  
Trung bình  
0,881  
4610  
Vũ Thị Thu Hiền et al., 2016(4)  
Tạp chí KHLN 2016  
kiểu hình theo phương pháp của Jaccard và  
kiểu phân nhóm UPGMA có giá trị cao nhất  
(r = 0,92756) (số liệu không chỉ ra ở đây). Vì  
vậy biểu đồ hình cây và biểu đồ đa chiều  
(Hình 1) của các mẫu Sơn tra nghiên cứu  
được thiết lập theo hệ số tương đồng di truyền  
khi tính bằng phương pháp của Jaccard và  
kiểu phân nhóm UPGMA.  
3.4. Mối quan hệ di truyền giữa 35 mẫu Sơn  
tra nghiên cứu  
Để có cái nhìn tổng quát hơn về mối quan hệ  
di truyền giữa 35 cá thể Sơn tra của 7 quần  
thể nghiên cứu, chúng tôi đã thiết lập sơ đồ  
hình cây thể hiện mối quan hệ di truyền giữa  
35 cá thể Sơn tra. Trước khi lập biểu đồ hình  
cây chúng tôi tính được giá trị tương quan  
z
e
d
a
c
c
65  
II.2  
62  
b
II  
54.6  
99.2  
90.5  
82  
b
50.7  
a
II.1  
I
0
Hình 1. Biểu đồ hình cây (bên phái) và Biểu đồ đa chiều (bên trái) theo phương pháp của  
Jacccard và kiểu phân nhóm UPGMA với giá trị bootrap lặp lại 1000 lần thể hiện mối quan hệ di  
truyền của 35 mẫu Sơn tra phân tích với 30 chỉ thị ISSR (Ghi chú: a: mẫu ở Bắc Yên,  
b: mẫu ở Mù Cang Chải, c: mẫu ở Bát Xát, d: mẫu ở Trạm Tấu, e: mẫu ở Mường La).  
Kết quả phân tích hình 1 cho thấy biểu đồ hình đồng di truyền trong khoảng từ 79,6% đến  
cây chia thành 2 nhánh chính I và II riêng biệt 96%. Trong đó nhánh phụ II.1 gồm 7 mẫu còn  
có hệ số tương đồng di truyền trong khoảng 61 lại ở Bắc Yên là BY10, BY21, BY23, BY26,  
- 96%. Nhánh chính I gồm duy nhất mẫu BY30, BY32 và BY34 có hệ số tương đồng di  
BY29 ở Bắc Yên (Sơn La), nhánh chính II truyền dao động trong khoảng từ 84,2% đến  
gồm 34 mẫu còn lại. Điều này cho phép nhận 95,6%. Nhánh phụ II.2 lại chia thành 2 nhóm  
định mẫu BY29 có sự khác biệt di truyền với nhỏ hơn, trong đó nhóm thứ nhất gồm 8 mẫu  
các mẫu còn lại lớn nhất. Kết quả này cũng thu ở Mù Cang Chải, Yên Bái (ký hiệu b) có  
phù hợp với phân tích hệ số tương đồng di hệ số tương đồng di truyền trong khoảng 90,7  
truyền ở trên (mẫu BY29 có hệ số tương đồng - 96%, nhóm thứ 2 gồm 19 mẫu còn lại có  
di truyền với 34 mẫu còn lại thấp nhất, dao nguồn gốc từ Mường La, Cò Mạ (Sơn La),  
động từ 0,567 đến 0,670). Nhánh chính II chia Trạm Tấu (Yên Bái), Bát Xát (Lào Cai) và Sìn  
thành 2 nhánh phụ II.1 và II.2 có hệ số tương Hồ (Lai Châu).  
4611  
Tạp chí KHLN 2016  
Vũ Thị Thu Hiền et al., 2016(4)  
34 mẫu còn lại thấp nhất, dao động từ 0,567  
(BY29 và TT45, BS63) đến 0,670 (BY29 và  
BY30). Trong 7 tiểu quần thể Sơn tra nghiên  
cứu thì tiểu quần thể Bát Xát và Sìn Hồ có mối  
quan hệ di truyền gần gũi nhất (0,942) và cách  
xa nhất là tiểu quần thể Cò Mạ và Mù Cang  
Chải (0,796).  
IV. KẾT LUẬN  
- Ba mươi chỉ thị phân tử ISSR đã được sử  
dụng để đánh giá đa dạng di truyền cho 35  
mẫu thuộc 7 tiểu quần thể Sơn tra (D. indica) ở  
4 tỉnh Tây Bắc (Mường La, Cò Mạ, Bắc Yên,  
Trạm Tấu, Mù Cang Chải, Bát Xát và Sìn Hồ).  
Kết quả chỉ ra 28/30 chỉ thị chỉ ra tính đa hình  
và nhân bản được 148 phân đoạn DNA, trong  
đó có 96 phân đoạn đa hình (chiếm 64,86%).  
Trung bình giá trị đa dạng gen trên một locus  
(Hj) và hàm lượng thông tin đa hình của các  
chỉ thị tương ứng là 0,133 và 0,119.  
- Biểu đồ hình cây thể hiện mối quan hệ di  
truyền giữa 35 mẫu Sơn tra phân tích với chỉ  
thị ISSR chia làm 2 nhánh chính có hệ số  
tương đồng di truyền trong khoảng 61 - 96%,  
các mẫu thu ở cùng một địa điểm đều nằm  
trong những nhánh phụ riêng biệt. Kết quả  
phân nhóm trên biểu đồ đa chiều cũng phản  
ánh kết quả tương tự, các mẫu có khoảng  
cách di truyền gần nhau thì nằm co cụm lại  
với nhau.  
- Kết quả phân tích các thông số di truyền của  
5 tiểu quần thể Sơn tra (trừ 2 tiểu quần thể Cò  
Mạ và Sìn Hồ chỉ có một cá thể duy nhất  
không đánh giá được một số thông số di  
truyền) cho thấy tính đa dạng di truyền của các  
tiểu quần thể Sơn tra ở Tây Bắc tương đối thấp  
(Na = 1,013; Ne = 1,109; I = 0,122, He =  
0,084; h = 0,075 và PPB = 21,17%) trong đó  
thấp nhất là tiểu quần thể Bát Xát, thứ hai là  
tiểu quần thể Mường La, thứ ba là tiểu quần  
thể Trạm Tấu, thứ tư là tiểu quần thể Mù Cang  
Chải và cao nhất là tiểu quần thể Bắc Yên. Hệ  
số di nhập gen (Nm) của loài Sơn tra ở mức  
trung bình (Nm = 0,843), thể hiện cao nhất ở  
hai locus UBC834 và UBC841 (Nm = 4,0) và  
thấp nhất ở locus ISSR6 và UBC859 (Nm = 0).  
V. LỜI CÁM ƠN  
Công trình này là sản phẩm của dự án hợp  
tác nghiên cứu “Duy trì và Phát triển ngân  
hàng gien cây Sơn tra bản địa tại miền Bắc  
Việt Nam” giữa Viện Khoa học Lâm nghiệp  
Việt Nam, ICRAF Việt Nam và World  
Agroforestry Centre thực hiện trong giai  
đoạn 2013-2016. Các tác giả xin chân thành  
cảm ơn World Agroforestry Centre đã tài trợ  
kinh phí nghiên cứu; Bảo tàng thiên nhiên  
Việt Nam về việc sử dụng một số trang thiết  
bị; Trung tâm KHLN Tây Bắc đã tạo điều  
kiện thuận lợi để các tác giả thu thập mẫu  
nghiên cứu.  
- Hệ số tương đồng di truyền giữa 35 mẫu Sơn  
tra dao động từ 0,567 (BY29 và TT45, BS63)  
đến 0,965 (MCC49 và MCC51). Trong đó  
mẫu BY29 có hệ số tương đồng di truyền với  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Beigmohamadi M. and Rahmani F., 2011. Genetic variation in hawthorn (Crataegus spp.) using RAPD  
markers. African Journal of Biotechnology 10(37): 7131-7135.  
2. Chung J.D., Lin T.P., Tan J.C., Lin M.Y., Hwang S.Y., 2004. Genetic diversity and biogeography of  
Cunninghamia konishii (Cupressaceae), an island species in Taiwan: a comparison with Cunninghamia  
lanceolata, a mainland species in China. Mol. Phylogenet. Evol. 33: 791-801.  
4612  
Vũ Thị Thu Hiền et al., 2016(4)  
Tạp chí KHLN 2016  
3. Đinh Thị Kim Chung, 2007. Ảnh hưởng của một số yếu tố tới quá trình lên men vang Táo mèo (Docynia  
indica). Tạp chí Khoa học và Công nghệ 45(2): 87 - 92.  
4. Dinh Thi Phong, Vu Thi Thu Hien, Tran Thi Lieu, 2015. Genetic variation of Pinus dalatensis Ferre’ (Pinaceae)  
populations - endemic species in Vietnam revealed by ISSR markers. J. Chem. Bio. Phys.Sci. 5 (2): 415-1425.  
5. Đinh Thị Phòng, Vũ Thị Thu Hiền, Trần Thị Liễu, Nguyễn Tiến Hiệp, 2014. Đánh giá tính đa dạng di truyền  
quần thể tự nhiên loài Thông lá dẹt (Pinus krempfii Lecomte) ở Tây Nguyên, Việt Nam bằng chỉ SSR. Tạp chí  
Sinh học, 36 (2): 210-219.  
6. Doyle J.J. and Doyle J.J., 1990. Isolation of plant DNA from fresh tissue. Focus 12: 13-15.  
7. Fazeli Sh., Sheidai M., Farahani F., Noormohammadi Z., 2016. Looking for genetic diversityin Iranian apple  
cultivars (Malus domestica Borkh.). Journal of Sciences, Islamic Republic of Iran 27 (3): 205-215.  
8. Goulão L., Oliveira C. M., 2001. Molecular characterisation of cultivars of apple (Malus domestica Borkh.)  
using microsatellite (SSR and ISSR) markers. Euphytica 122 (1): 81 - 89.  
9. Hoàng Thị Minh Tân, 2009. Nghiên cứu tách chiết một số hợp chất tự nhiên từ cây Táo mèo có tác dụng chống  
rối loạn trao đổi gluxit, lipid, Luận văn thạc sĩ Sinh học.  
10. Jabbarzadeh Z., Khosh-khui M., Salehi H., Shahsavar A.R., Saberivand A., 2013. Assessment of Genetic  
Relatedness in Roses by ISSR Markers. World Applied Sciences Journal 28 (12): 2085-2090.  
11. Nei M., 1973. Analysis of genetic diversity in subdivided populations. Proc. Natl. Acad. Sci. USA, 70: 3321-3323.  
12. Nguyễn Đức Thành, 2014. Các kỹ thuật chỉ thị DNA trong nghiên cứu và chọn lọc thực vật. Tạp chí Sinh học  
36 (3): 265-294 DOI:10.15625/0866-7160/v36n3.5974.  
13. Nguyễn Hoàng Nghĩa, Nguyễn Đức Thành, Lê Thị Bích Thủy, 2010. Phân tích đa dạng di truyền loài Giổi  
xương (Michelia baillonii (Pierre) Fin.et Gagnep) bằng chỉ thị phân tử RAPD và cp SSR. Tạp chí Khoa học  
Lâm nghiệp  
14. Nguyễn Thị Thanh Loan (2011). Tác dụng chống béo phì và giảm trọng lượng của dịch chiết quả Táo mèo  
Docynia indica (Wall.) Decne trên mô hình chuột béo phì thực nghiệm. Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà  
Nội, 27: 125 - 133.  
15. Peakall R. and Smouse P.E., 2006. GenAlEX 6: genetic analysis in Excel. Population genetic software for  
teaching and research. Molecular Ecology Note 6: 288-295.  
16. Rajeb C., Chokri Messaoud C., Chograni H., Bejaoui A., Boulila A., Rejeb M.N., Boussaid M., 2010. Genetic  
diversity in Tunisian Crataegus azarolus L. var. Aronia L. populations assessed using RAPD markers. Ann.  
For. Sci. 67: 512 DOI:10.1051/forest/2010014.  
17. Rohlf F.J., 1992. NTSYS-PC: Numerical taxonomy and multivariate analysis system version 2.0. State  
University of New York (Stony Brook, New York).  
18. Sách đỏ Việt Nam - Phần II: Thực vật (2007). Nhà xuất bản Khoa học tự nhiên và công nghệ.  
19. Tian Y., Xing C., Cao Y., Wang C., Guan F., Li R., Meng, 2015. Evaluation of genetic diversity on Prunus mira  
Koehne by using ISSR and RAPD markers. Biotechnology & Biotechnological Equipment 29 (6): 1053 - 1061.  
20. Trần Thị Liễu, Lê Thị Quỳnh, Vũ Thị Thu Hiền, Đinh Thị Phòng, 2015. Thông số về tính đa dạng di truyền  
quần thể tự nhiên loài Bách xanh (Calocedrus macrolepis) ở Tây Nguyên, Việt Nam bằng chỉ thị ISSR. Tạp chí  
Sinh học 37 (4): 463-469.  
21. Vũ Đình Duy, Bùi Thị Tuyết Xuân, Trần Vinh, Nguyễn Minh Tâm, 2010. Phân tích đa dạng và quan hệ di  
truyền quần thể Thủy tùng (Glyptostrobus pensilis) ở Đắk Lắk bằng chỉ thị SSR. Tạp chí Công nghệ sinh học 8  
(3): 331-336.  
4613  
Tạp chí KHLN 2016  
Vũ Thị Thu Hiền et al., 2016(4)  
22. Vũ Thị Hạnh Tâm, 2011. Nghiên cứu tác dụng hạ lipid và đường huyết của dịch chiết quả Táo mèo (Docynia  
indica (Wall.) Dene) trên mô hình chuột thực nghiệm. Luận văn tốt nghiệp, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên  
Hà Nội.  
23. Vu Thi Hue, Bui Thi Viet Ha, 2010. Study on antibacterial activity toward bacteria causing upper respiratory  
(Moraxella catarrhalis) of Bacillus sp TM1.2 isolated from vinegar Docynia fruit (Docynia indica (Wall.)  
Decne). J. Scien anh Technol 26 (4): 537-542.  
24. Vũ Thị Thu Hiền, Trần Thị Việt Thanh, Lê Anh Tuấn, Phí Hồng Hải, Đinh Thị Phòng, 2009. Phân tích mối  
quan hệ di truyền tập đoàn giống cây Bách xanh (Calocedrus macrolepis) bằng chỉ thị RAPD và DNA lục lạp.  
Hội nghị khoa học toàn quốc về sinh thái và tài nguyên sinh vật lần thứ 3: 122-128.  
25. Wu Z.Y., Liu J.F., Hong W., Pan D.M., Zheng S.Q., 2011. Genetic diversity of natural and planted  
Glyptostrobus pensilis populations: a comparative study. Chinese Journal of Applied Ecology 22(4): 873-9.  
26. Yap I. V. and Nelson R. J., 1996. Winboot: a program for performing bootstrap analysis of binary data to  
determine the confidence of UPGMA-based dendrograms, IRRI, Manila.  
27. Yeh F.C., Yang R.C., Boyle T., 1999. POPGENE Microsoft Windows-Based Freeware for Population Genetic  
Analysis. Release 1.31, University of Alberta, Edmonton.  
Người thẩm định: TS. Nguyễn Đức Kiên  
4614  
pdf 12 trang Mãnh Khiết 15/01/2024 9040 Free
Bạn đang xem tài liệu "Phân tích mối quan hệ di truyền giữa các quần thể Sơn Tra (Docynia Indica (Wall.) Decne) bằng chỉ thị ISSR", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfphan_tich_moi_quan_he_di_truyen_giua_cac_quan_the_son_tra_do.pdf