Đặc điểm sinh học của nấm Thượng Hoàng (Phellinus Linteus) trong nuôi cấy thuần khiết

Tạp chí KHLN 1/2016 (4231 - 4237)  
©: Viện KHLNVN - VAFS  
ISSN: 1859 - 0373  
Đăng tải tại: www.vafs.gov.vn  
ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA NẤM THƯỢNG HOÀNG (Phellinus linteus)  
TRONG NUÔI CẤY THUẦN KHIẾT  
Phạm Quang Thu  
Trung tâm Nghiên cứu Bảo vệ rừng, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam  
TÓM TẮT  
Nấm Thượng hoàng (Phellinus linteus) là một loài nấm dược liệu nổi  
tiếng ở các nước phương Đông với các hoạt tính sinh học phong phú, đặc  
biệt trong phòng chống ung thư. Việc khai thác loài nấm này chủ yếu  
được thu hái ngoài tự nhiên và đang có nguy cơ tuyệt chủng. Các nghiên  
cứu về đặc điểm sinh học trong nuôi cấy thuần khiết rất cần thiết và có thể  
ứng dụng để nuôi trồng thể quả. Nghiên cứu đặc điểm sinh học của nấm  
Từ khóa: Đặc điểm sinh  
học, nuôi cấy thuần khiết,  
Phellinus linteus, sinh  
trưởng của hệ sợi  
Thượng hoàng (P. Linteus) trong nuôi cấy thuần khiết được tiến hành với  
3 công thức môi trường (PDA, GYA và PGA), 6 công thức nhiệt độ  
(10oC, 15oC, 20oC, 25oC, 30oC và 35oC), 6 công thức ẩm độ (75%, 80%,  
85%, 90%, 95% và 100%), 4 công thức thời gian nuôi cấy. Kết quả cho  
thấy hệ sợi nấm P. linteus sinh trưởng tốt nhất khi cấy trên môi trường  
PDA (2,92mm/ngày) và PGA (2,71mm/ngày). Sợi nấm sinh trưởng tốt  
nhất trong khoảng nhiệt độ từ 20oC đến 30oC và sinh trưởng nhanh nhất ở  
nhiệt độ 25oC, đạt 2,34mm/ngày. Nấm Thượng hoàng sinh trưởng tốt khi  
được nuôi ở độ ẩm từ 90% trở lên, tốt nhất là 95%, tốc độ trung bình đạt  
3,68mm/ngày. Thời gian nuôi trồng, từ khi cấy nấm đến khi thu hoạch  
thích hợp là từ 26 ngày, khối lượng sinh khối tươi thu được đạt  
19,2g/100ml môi trường.  
Studies on the biological characteristics of Phellinus linteus in pure  
culture  
Phellinus linteus is a well - known Oriental medicinal fungus with a  
variety of biological activities, especially anti - tumor activities. This  
material is now widely collected in nature and as such has become extinct.  
Studies on the biological characteristics in pure culture are needed and the  
results can be used for fruiting body cultivation. Studies on the biological  
Keywords: Biological  
characteristics, mycelial  
growth, Phellinus linteus,  
pure culture  
characteristics of Phellinus linteus in pure culture were conducted with  
three kinds of nutrient media: PDA (potato dextrose agar), GYA (glucose  
and yeast extract) and PGA (potato glucose agar), six temperature  
treatments (10oC, 15oC, 20oC, 25oC, 30oC and 35oC), six relative humidity  
(RH) conditions (75%, 80%, 85%, 90%, 95% and 100%) and the time of  
havesting of mycelial mass production. The results showed that the fungal  
growth increment reached highest values when mycelia were cultivated in  
PDA (2.92 mm/day) and PGA (2.71 mm/day). Good growth of mycelia  
were recorded when cultures were cultivated in temperatures from 20 to  
30oC and the best growth increment was in 25oC, at a rate of 2.34mm/day.  
Mycelia grew well at a relative humidity over 90% and achieved an  
optimal rate of growth at 95% RH, growing 3.68 mm/day. The time  
required for cultivation from mass mycelial production was approximately  
26 days, achieving a mass of 19.2gm fresh mycelia per 100ml of media.  
4231  
Tạp chí KHLN 2016  
Phạm Quang Thu, 2016(1)  
I. ĐẶT VẤN ĐỀ  
(Miyazaki et al., 1974; Kojima et al., 2006).  
Những nghiên cứu về loài nấm này đã chỉ ra  
có đặc tính phòng chống tế bào ung thư phổi  
và ung thư tuyến tiền liệt và một số loại tế bào  
ung thư khác (Chen et al., 2006). Khi tiến  
hành thí nghiệm với các tế bào ung thư vú ở  
người, các nhà các nhà khoa học nhận thấy  
loài nấm này có khả năng hạn chế hiệu quả  
enzym AKT, loại enzym kích thích tế bào ung  
thư phát triển (Ikekawa et al., 1968).  
Từ hàng ngàn năm phát triển của loài người,  
chúng ta đã biết sử dụng các dược liệu có sẵn  
trong tự nhiên để chữa bệnh và nâng cao sức  
khỏe. Các loài cỏ, cây, hoa, lá xung quanh  
chúng ta có rất nhiều công dụng y học quý giá  
mà chúng ta đang hàng ngày sử dụng cũng như  
đang tìm tòi nghiên cứu để tìm ra thêm các  
công dụng của chúng. Trong số các dược liệu  
mà con người thường sử dụng và được đánh  
giá cao là các loài nấm. Chúng đã được dùng  
hàng nghìn năm qua trong y học cổ truyền của  
nhiều nước trên thế giới như: Linh Chi  
(Ganoderma lucidum), Nấm Lim chi đa niên  
Ở Việt Nam hiện nay, nguồn nguyên liệu này  
chỉ thu hái ngoài tự nhiên và ngày càng trở nên  
khan hiếm, thường phải nhập khẩu ở các nước  
như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc với giá  
cao cũng như khó có thể kiểm soát được chất  
lượng. Vì vậy, cần có các nghiên cứu cơ sở để  
nuôi trồng loài nấm này trên giá thể nhân tạo,  
nghiên cứu điều kiện sinh trưởng tối ưu nhất  
cho sự sinh trưởng của hệ sợi như môi trường  
dinh dưỡng, nhiệt độ không khí, ẩm độ không  
khí trong nuôi cấy thuần khiết và nghiên cứu  
nhân sinh khối hệ sợi và xác định thời gian thu  
hoạch. Những nghiên cứu này là rất cần thiết,  
có ý nghĩa không chỉ về mặt khoa học mà còn  
có ý nghĩa thực tiễn lớn trong nghiên cứu cơ  
sở nuôi trồng nấm Thượng hoàng ở Việt Nam.  
(Ganoderma  
applanatum,  
Ganoderma  
australe, Phellinus igninarius, Fomitopsis  
pinicola....), Nấm vân chi (Coriolus  
versicolor), Nấm đầu khỉ (Hericium  
erinaceus), nấm Đông trùng hạ thảo  
(Cordyceps sinensis, Cordyceps militaris và  
Isaria ternuipes)... (Han et al., 1995; Itoh et  
al., 2004). Trong các loài nấm dược liệu quý  
đó, nấm Thượng hoàng hay Hoàng sơn (tên  
Việt Nam), Sanghwang (theo cách gọi của  
người Hàn Quốc), Song gen (Trung Quốc) và  
Mesimakobu (Nhật Bản) có tên khoa học là  
Phellinus linteus đang được nghiên cứu trong  
điều trị và phòng ngừa ung thư rất hiệu quả và  
là dược liệu quý được sử dụng trong các thang  
thuốc đông y từ nhiều thế kỷ qua (Ikekawa et  
al., 1968; Han et al., 1995). Hợp chất hóa học  
quan trọng được tách chiết từ dung môi ethyl  
acetate từ thể quả nấm được xác định là axit  
protocatechuic, protocatechualdehyde, axit  
caffeic, axit ellagic, hispidin, davallialactone,  
hypholomine B, interfungins A và inoscavin  
(Kim et al., 2004). Một trong số đó  
interfungins A là một chất ức chế mạnh  
protein glycation (một protein gây suy yếu  
mạch máu gây đột quỵ) (Ikekawa et al., 1968;  
Han et al., 1995). Nhiều nhà nghiên cứu cũng  
đã báo cáo rằng polysaccharide chiết xuất từ  
hệ sợi P. linteus đã kích thích miễn dịch chống  
lại khối u, ức chế khối u phát triển và di căn  
II. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
2.1. Vật liệu nghiên cứu  
Chủng nấm PL108, thuộc loài Phellinus linteus  
được phân lập và làm thuần từ thể quả nấm thu  
ngoài tự nhiên và được lưu trữ tại phòng thí  
nghiệm Trung tâm Nghiên cứu Bảo vệ rừng,  
Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam.  
2.2. Phương pháp nghiên cứu  
Phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng của môi  
trường dinh dưỡng đến sinh trưởng của hệ sợi:  
Thí nghiệm được tiến hành trên 2 loại môi  
trường dinh dưỡng cơ bản đang được áp dụng  
cho nuôi cấy nhiều loại nấm nhằm tìm ra môi  
trường dinh dưỡng tối ưu cho sinh trưởng của  
4232  
Phạm Quang Thu, 2016(1)  
Tạp chí KHLN 2016  
nấm P. linteus, thành phần của các môi trường Đổ môi trường dinh dưỡng PDA đã khử trùng  
vào đĩa Petri một lớp dầy 2 - 3mm. Chủng nấm  
P. linteus 5 ngày tuổi được cấy tại 1 điểm  
chính giữa của hộp lồng, nuôi nấm trong các tủ  
định ôn có nhiệt độ 25oC, mỗi công thức 10  
hộp lồng sau 10 ngày đo đường kính khuẩn lạc  
theo 2 chiều vuông góc ở các công thức thí  
nghiệm. Thí nghiệm được lặp lại 3 lần. Đánh  
giá tốc độ phát triển của hệ sợi ở các công thức  
thí nghiệm trên cơ sở đường kính trung bình  
của khuẩn lạc chia cho tổng số ngày nuôi cấy  
(10 ngày) của các công thức thí nghiệm. Độ  
dày của hệ sợi nấm được xác định theo  
phương pháp của Schwantes và đồng tác giả  
(1971). Trong số các thang nhiệt độ nuôi cấy,  
lấy độ dày khuẩn lạc sinh trưởng ở 35oC làm  
chuẩn là 1,0.  
như sau:  
CT1: môi trường PDA (20g Dextrose + 17g  
Agar + 200 g khoai tây + 1000ml nước).  
CT2: môi trường GYA (40g Glucose + 20g  
yeast extract + 0,36g K2HPO4 + 1g KH2PO4 +  
0,5g MgSO4. 7H2O + 1ml Mineral salt + 17g  
Agar + 1000 ml nước).  
CT3: môi trường PGA (20g Glucose + 17g  
Agar + 200 g khoai tây + 1000ml nước).  
Chuẩn bị môi trường nuôi cấy: đối với môi  
trường có khoai tây, khoai tây được đun lấy  
nước, liều lượng 200 gam/lít. Tất cả các môi  
trường của 2 công thức sau khi pha chế được  
đổ 250ml vào bình tam giác dung tích 500ml,  
hấp khử trùng ở nhiệt độ 121oC (tương đương  
áp suất 1atm) trong thời gian 30 phút. Sau thời  
gian hấp tiến hành đưa môi trường vào tủ cấy  
để đợi cho nguội rồi đổ môi trường vào các  
hộp lồng. Chủng nấm P. linteus được cấy tại 1  
điểm chính giữa của hộp lồng, nuôi nấm trong  
các tủ định ôn có nhiệt độ 28oC, mỗi công thức  
10 hộp lồng sau 10 ngày đo đường kính khuẩn  
lạc theo 2 chiều vuông góc ở các công thức thí  
nghiệm. Thí nghiệm được lặp lại 3 lần. Đánh  
giá tốc độ phát triển của hệ sợi ở các công thức  
thí nghiệm trên cơ sở đường kính trung bình  
của khuẩn lạc chia cho tổng số ngày nuôi cấy  
(10 ngày) của các công thức thí nghiệm. Độ  
dày của hệ sợi nấm được xác định theo  
phương pháp của Schwantes và đồng tác giả  
(1971). Trong số các môi trường nuôi cấy, lấy  
hệ sợi nấm sinh trưởng ở môi trường GYA làm  
chuẩn với độ dày khuẩn lạc 1,0.  
Phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng của độ  
ẩm không khí đến sinh trưởng của hệ sợi:  
Độ ẩm không khí được tạo ra trong các bình  
hút ẩm theo phương pháp của Booth (1971).  
Tạo độ ẩm không khí khác nhau trong bình hút  
ẩm kín bằng dung dịch muối NaCl được pha  
với các nồng độ khác nhau. Tại nồng độ muối  
natri clorua bão hòa ở 25oC độ ẩm không khí  
trong bình kín có giá trị là 75%. Giảm nồng độ  
muối ta sẽ có các thang độ ẩm không khí khác  
nhau. Tương ứng với nồng độ muối và các  
thang độ ẩm tương đối như sau:  
Độ ẩm (%)  
100  
95  
90  
85  
80  
75  
NaCl (g/lí t)  
0
8
16  
24  
32  
40  
Dung dịch muối natri clorua pha xong đổ vào  
bình hút ẩm loại lớn (100cm3), đậy nắp bình,  
để ở phòng thí nghiệm, trong tối có nhiệt độ  
không khí khoảng 25oC. Sau 3 ngày trong các  
bình hút ẩm với nồng độ muối natri clorua  
khác nhau sẽ có độ ẩm không khí khác nhau,  
phụ thuộc vào nồng độ của NaCl. Môi trường  
PDA sau khi hấp khử trùng được đổ vào hộp  
lồng đã được khử trùng một lớp dày 2 - 3 mm.  
Chủng nấm P. linteus 5 ngày tuổi được cấy tại  
1 điểm chính giữa của hộp lồng, nuôi nấm  
trong các tủ định ôn có nhiệt độ 25oC, mỗi  
Phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt  
độ không khí đến sinh trưởng của hệ sợi  
Thí nghiệm được thực hiện trên môi trường  
dinh dưỡng PDA (môi trường tốt nhất từ thí  
nghiệm xác định môi trường dinh dưỡng). Thí  
nghiệm được tiến hành nuôi cấy nấm với tủ  
định ôn ở các thang nhiệt độ không khí khác  
nhau: 10oC, 15oC, 20oC, 25oC, 30oC và 35oC.  
4233  
Tạp chí KHLN 2016  
Phạm Quang Thu, 2016(1)  
công thức 10 hộp lồng sau 10 ngày đo đường Tổng số bình thí nghiệm là 40 bình, thu sinh  
kính khuẩn lạc theo 2 chiều vuông góc ở các khối hệ sợi nấm sau 14 ngày nuôi cấy tĩnh ở  
công thức thí nghiệm. Thí nghiệm được lặp lại 10 bình nuôi cấy và cứ sau 4 ngày tiếp theo  
3 lần. Đánh giá tốc độ phát triển của hệ sợi ở (ngày thứ 18, ngày thứ 22 và ngày thứ 26) thu  
các công thức thí nghiệm trên cơ sở đường sinh khối hệ sợi ở 10 bình nuôi cấy. Thí  
kính trung bình của khuẩn lạc chia cho tổng số nghiệm được lặp lại 3 lần. Đánh giá kết quả thí  
ngày nuôi cấy (10 ngày) của các công thức thí nghiệm là trọng lượng tươi, trọng lượng khô  
nghiệm. Độ dày của hệ sợi nấm được xác định theo các thời gian nuôi cấy khác nhau.  
theo phương pháp của Schwantes và đồng tác  
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN  
giả (1971). Trong số các thang độ ẩm nuôi cấy  
nấm, lấy độ dày khuẩn lạc nuôi cấy ở độ ẩm  
không khí 75% làm chuẩn với độ dày 1,0.  
3.1. Sinh trưởng của nấm trên các môi  
trường dinh dưỡng  
Phương pháp xác định thời gian nhân sinh  
khối hệ sợi:  
Thí nghiệm được tiến hành trên các loại môi  
trường dinh dưỡng cơ bản đang được áp dụng  
cho nuôi cấy nhiều loại nấm nhằm tìm ra môi  
trường dinh dưỡng tối ưu cho sinh trưởng của  
nấm P. linteus. Kết quả đánh giá sinh trưởng  
của hệ sợi nấm khi nuôi cấy trên các công thức  
môi trường dinh dưỡng khác nhau được thể  
hiện ở hình 1.  
Môi trường nhân sinh khối hệ sợi được xác  
định là môi trường nước khoai tây 200g/lit và  
20g dextrose. Môi trường dinh dưỡng được đổ  
vào bình tam giác 500ml, mỗi bình 100ml môi  
trường dinh dưỡng. Mỗi bình thí nghiệm được  
cấy 1 đĩa nấm 5 ngày tuổi có đường kính 1cm.  
Hình 1. Sinh trưởng của hệ sợi nấm trên các môi trường dinh dưỡng khác nhau  
Với kết quả như trình bày ở biểu đồ trên cho hệ sợi nấm P. linteus có màu trắng khi non rồi  
thấy tốc độ sinh trưởng của hệ sợi nấm P. chuyển sang màu trắng ngà và khi già có màu  
linteus trên 3 loại môi trường dinh dưỡng có vàng đậm; nhưng trên PDA, hệ sợi nấm có  
sự khác nhau rõ rệt, nhanh nhất trên môi màu trắng và bông hơn hẳn với độ dày hệ sợi  
trường PDA (2,92 mm/ngày) và chậm nhất gấp 2,5 lần độ dày hệ sợi trên GYA (hình 2).  
trên môi trường GYA (1,41mm/ngày). Ngoài Tốc độ sinh trưởng của hệ sợi nấm P. linteus  
ra có sự khác nhau rõ rệt về màu sắc của nấm trên môi trường PGA cũng đạt hiệu quả cao,  
và độ dày hệ sợi nấm khi được nuôi trên các gần bằng với khi cấy trên PDA, hơn nữa  
môi trường khác nhau. Trên môi trường GYA đường glucose rẻ hơn, dễ mua hơn đường  
4234  
Phạm Quang Thu, 2016(1)  
Tạp chí KHLN 2016  
dextrose. Do đó, khi triển khai sản xuất đại trà PGA để nuôi trồng nấm Thượng hoàng thay  
hoàn toàn có thể thay sử dụng môi trường thế cho môi trường PDA.  
Hình 2. Hệ sợi nấm sinh trưởng trên môi trường dinh dưỡng khác nhau  
trưởng của hệ sợi cũng như thời gian hình  
thành thể quả của nấm. Thí nghiệm với 6  
thang nhiệt độ khác nhau, tốc độ sinh trưởng  
trung bình của hệ sợi nấm sau 10 ngày nuôi  
cấy được trình bày ở hình 3.  
3.2. Nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ  
không khí đến sinh trưởng của hệ sợi nấm  
Yếu tố nhiệt độ rất quan trọng đối với quá  
trình nuôi cấy nấm trong điều kiện thuần khiết.  
Nhiệt độ không khí ảnh hưởng rất lớn đến sự  
nảy mầm của bào tử, quyết định tốc độ sinh  
Hình 3. Tốc độ sinh trưởng trung bình của hệ sợi nấm ở các thang nhiệt độ  
Tốc độ sinh trưởng của hệ sợi nấm khác nhau cũng có sự khác nhau khi nuôi cấy ở các thang  
khi nuôi cấy ở các thang nhiệt độ khác nhau. nhiệt độ khác nhau. Ở nhiệt độ thích hợp cho  
Hệ sợi nấm sinh trưởng tốt nhất trong khoảng nấm sinh trưởng, nấm có độ dày hệ sợi lớn  
nhiệt độ từ 20oC đến 30oC, và sinh trưởng nhất, đạt 2,0mm, gấp 2 lần so với ở 35oC, hệ  
nhanh nhất ở nhiệt độ 25oC, đạt mức sợi nấm có màu vàng tươi đúng với màu của  
2,34mm/ngày. Khi nhiệt độ không khí cao, ở thể quả thu hái ngoài tự nhiên. Còn ở các điều  
35oC, tốc độ sinh trưởng là thấp nhất với tốc kiện nhiệt độ khác sinh trưởng thì hệ sợi nấm  
độ 0,41mm/ngày. Bên cạnh sự khác nhau về mỏng hơn và có màu sắc vàng đậm hơn.  
tốc độ sinh trưởng, độ dày và màu sắc hệ sợi  
4235  
Tạp chí KHLN 2016  
Phạm Quang Thu, 2016(1)  
quả xác định trọng lượng tươi, trọng lượng  
khô của hệ sợi ở các khoảng thời gian nuôi cấy  
khác nhau được trình bày ở hình 5.  
3.3. Nghiên cứu ảnh hưởng của ẩm độ đến  
sinh trưởng của hệ sợi  
Cùng với nhiệt độ không khí, độ ẩm tương  
đối cũng là nhân tố quan trọng quyết định đến  
hiệu quả trong việc nuôi cấy nấm. Do đó  
nghiên cứu ảnh hưởng của độ ẩm không khí  
đến sinh trưởng của hệ sợi nấm có ý nghĩa rất  
quan trọng đến hiệu quả kinh tế trong việc  
nuôi trồng nấm. Kết quả nghiên cứu ảnh  
hưởng của ẩm độ đến sinh trưởng của hệ sợi  
được thể hiện ở hình 4.  
Hình 5. Sinh khối hệ sợi nấm sau những  
khoảng thời gian nuôi khác nhau  
Qua biểu đồ cho thấy với thời gian nuôi cấy 26  
ngày khối lượng hệ sợi trung bình thu được là  
lớn nhất với 19,2g sinh khối tươi/bình và 4,9g  
sinh khối khô/bình, vượt 53,6% về sinh khối  
tươi và 71,0% về sinh khối khô so với thời  
điểm 18 ngày. Tuy nhiên, không sai khác đáng  
kể so với sinh khối hệ sợi nấm thu được ở thời  
điểm 22 ngày (18,8g sinh khối tươi/bình và  
4,7g sinh khối khô/bình), điều này chứng tỏ  
khối lượng hệ sợi của nấm Thượng hoàng sẽ  
cao nhất nếu thu hoạch vào thời gian 22 - 26  
ngày đồng thời không làm giảm chất lượng hệ  
sợi. Nếu để lâu thì màu sắc của hệ sợi sẽ thay  
đổi từ màu vàng tươi sang màu nâu sậm.  
Hình 4. Ảnh hưởng của độ ẩm không khí đến  
sinh trưởng của hệ sợi nấm  
Qua kết quả nghiên cứu ở biểu đồ trên cho  
thấy nấm có thể sinh trưởng phát triển ở biên  
độ độ ẩm từ 75% đến 100% nhưng có sự khác  
biệt lớn về tốc độ phát triển trong các thang độ  
ẩm đã nghiên cứu, ở độ ẩm không khí 95%  
sinh trưởng của hệ sợi đạt mức cao nhất  
(3,68mm/ngày) còn ở độ ẩm không khí 75%  
sinh trưởng ở mức thấp nhất, chỉ đạt  
1,21mm/ngày. Với độ ẩm từ 90% trở lên, hệ  
sợi nấm sinh trưởng vượt trội với tốc độ sinh  
trưởng đều đạt trên 3mm/ngày.  
3.4. Xác định thời gian nhân sinh khối hệ sợi  
Biết được thời gian nuôi nấm ở dạng hệ sợi,  
thời điểm thu hoạch thích hợp sẽ có ý nghĩa rất  
lớn trong việc nuôi cấy nấm. Đồng thời sinh  
khối và hoạt chất hóa học của nấm chỉ đạt tối  
đa trong thời gian nuôi cấy nhất định. Nấm P.  
linteus được nuôi trong môi trường PD, thu  
hoạch nấm ở trong các khoảng thời gian nuôi  
cấy khác nhau: sau 14, 18, 22 và 26 ngày. Kết  
Hình 6. Sản phẩm hệ sợi nấm P. linteus  
nuôi cấy nhân tạo  
4236  
Phạm Quang Thu, 2016(1)  
Tạp chí KHLN 2016  
Nghiên cứu xác định thời gian thu hoạch hệ trưởng của hệ sợi nấm trên PDA đạt  
sợi nấm vào thời điểm nào là phù hợp tốt và 2,92 mm/ngày, vượt 106% so với khi cấy trên  
cho năng suất cao nhất là điều rất quan trọng. GYA. Tuy nhiên có thể sử dụng môi trường  
Sinh trưởng của nấm nói riêng và sinh vật nói PGA thay thế môi trường PDA khi triển khai  
chung bao giờ cũng có một thời gian tối ưu. sản xuất đại trà.  
Sợi nấm chỉ sinh trưởng đến một chừng mực  
nào đó rồi sẽ bị già, sinh trưởng chậm, khả  
năng đề kháng kém. Nếu để lâu sẽ lãng phí  
Hệ sợi nấm P. linteus sinh trưởng tốt nhất  
trong khoảng nhiệt độ từ 20oC đến 30oC, và  
sinh trưởng nhanh nhất ở nhiệt độ 25oC, đạt  
thời gian mà năng suất hệ sợi không tăng, dẫn  
đến hiệu quả kinh tế thấp. Ngoài ra, nếu thu  
hoạch quá non hay quá già sẽ không đạt yêu  
cầu để làm giống cho các vụ nuôi trồng tiếp  
theo vì nấm sẽ có xu hướng sinh trưởng chậm,  
sợi nấm bị vàng nâu và dễ bị thoái hoá giống.  
Thời điểm thu hoạch hệ sợi làm giống tốt nhất  
là lúc hệ sợi nấm còn vàng, bông và khoẻ.  
2,34 mm/ngày. Khi nhiệt độ không khí quá  
thấp (10oC) hoặc quá cao (35oC), tốc độ sinh  
trưởng của hệ sợi nấm chậm hơn đáng kể.  
Nấm P. linteus sinh trưởng tốt khi được nuôi ở  
độ ẩm từ 90% trở lên, tốt nhất là 95%, tốc độ  
trung bình đạt 3,68mm/ngày. Khi độ ẩm không  
khí giảm, tốc độ sinh trưởng của nấm chậm lại  
và kém nhất ở công thức độ ẩm 75%.  
Thời gian nuôi cấy nấm P. linteus phù hợp là  
từ 22 - 26 ngày, khối lượng hệ sợi thu được là  
lớn nhất tương ứng là 18,8g và 19,2g sinh khối  
tươi/bình.  
IV. KẾT LUẬN  
Hệ sợi nấm P. linteus sinh trưởng tốt nhất khi  
cấy trên môi trường PDA và PGA, tốc độ sinh  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Booth, C.P., 1971. Methods of mycrobioloogy, Tom 4, London New York.  
2. Chen, W., He, F.Y. and Li, Y.Q., 2006. The apoptosis effect of hispolon from Phellinus linteus (Berkeley &  
Curtis) Teng on human epidermoid KB cells. Ethnopharmacol (105), pp. 280 - 285.  
3. Han, M.W., Ko, K.S. and Chung, K.S., 1995. Korea Patent Open, pp. 95 - 7860.  
4. Ikekawa, T., Nakanishi, M., Uehara, N., Chihara, G. and Fukuoka, F., 1968. Antitumor action of some  
Basidiomycetes, especially Phellinus linteus. Gann (59), pp. 155 - 157.  
5. Itoh, S., Tanaka, R., Kato, S., Haruna, M., Kishimoto, K., Hirayama, H., Goda, Y., Mizukami, H. and Ogihara,  
Y., 2004. Identification of novel substituted fused aromatic compounds, meshimakobnol A and B, from natural  
Phellinus linteus fruit body. Tetrahedron Lett (45), pp. 5931 - 5933.  
6. Kim, G.Y., Oh, W.K., Shin, B.C., Shin, Y.I., Park, Y.C., Ahn, S.C., Lee, J.D., Bae, Y.S., Kwak, J.Y. and  
Park, Y.M., 2004. Proteoglycan isolated from Phellinus linteus inhibits tumor growth through mechanisms  
leading to an activation of CD11c+CD8+ DC and type I helper T cell - dominant immune state. FEBS Lett  
576: pp. 391 - 400.  
7. Kojima, H., Tanigawa, N., Kariya, S., Komemushi, A., Shomura, Y., Sawada, S., Arai, E. and Yokota, Y., 2006.  
A case of spontaneous regression of hepatocellular carcinoma with multiple lung metastases. Radiat Med (24),  
pp. 139 - 142.  
8. Miyazaki, T., Yadomae, T., Sugiura, M., Ito, H. and Fujii, K., 1974. Chemical structure of antitumor  
polysaccharide, coriolan, produced by Coriolus versicolor. Chem Pharm Bull (22), pp. 1739 - 1742.  
9. Schwantes, O. und Saltter, P.W., 1971. Methode zur Messung der Wachstumsgeschwidigkeit von Pilzmycelien,  
Oberhess, Naturwiss, Zeischr 38, pp. 5 - 18.  
Người thẩm định: GS.TS. Nguyễn Thế Nhã  
4237  
pdf 7 trang Mãnh Khiết 15/01/2024 12200 Free
Bạn đang xem tài liệu "Đặc điểm sinh học của nấm Thượng Hoàng (Phellinus Linteus) trong nuôi cấy thuần khiết", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdac_diem_sinh_hoc_cua_nam_thuong_hoang_phellinus_linteus_tro.pdf