Nghiên cứu xác định khả năng bảo quản gỗ cáng lò (Betula Alnoides Buch - Ham), vối thuốc (Schima Wallichii (DC) Korth), xà cừ lá nhỏ (Swietenia Microphylla), bằng chế phẩm XM5 tẩm theo phương pháp ngâm thường

Tạp chí KHLN 1/2015 (3758 - 3764)  
©: Viện KHLNVN - VAFS  
ISSN: 1859 - 0373  
Đăng tải tại: www.vafs.gov.vn  
NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH KHẢ NĂNG BẢO QUẢN GỖ CÁNG LÒ (Betula  
alnoides Buch - Ham), VỐI THUỐC (Schima wallichii (DC) Korth),  
XÀ CỪ LÁ NHỎ (Swietenia microphylla), BẰNG CHẾ PHẨM XM5 TẨM  
THEO PHƯƠNG PHÁP NGÂM THƯỜNG  
Đỗ Thị Hoài Thanh, Bùi Duy Ngọc, Nguyễn Thị Hằng  
Viện Nghiên cứu Công nghiệp rừng  
TÓM TẮT  
Ở Việt Nam, Cáng lò, Vối thuốc và Xà cừ lá nhỏ là loài cây có tốc độ sinh  
trưởng nhanh có thân thẳng, tròn đều, đường kính gỗ lớn, màu sắc đẹp. Tuy  
nhiên, gỗ của chúng chỉ được sử dụng trong các công trình xây dựng và ít  
được sử dụng trong sản xuất đồ mộc dân dụng. Để nâng cao hiệu quả sử  
dụng của gỗ, 3 loại gỗ Cáng lò, Vối thuốc và Xà cừ lá nhỏ được xử lý ngâm  
tẩm bảo quản bằng chế phẩm XM5 ở nồng độ 7% với thời gian xử lý là 3  
ngày, 5 ngày và 7 ngày theo phương pháp ngâm thường. Kết quả nghiên  
cứu cho thấy, với các thông số công nghệ ngâm tẩm, gỗ sau xử lý cho kết  
quả hiệu lực bảo quản tốt đối với nấm mốc và mối gây hại.  
Từ khóa: Bảo quản, Cáng  
lò, Vối thuốc, Xà cừ lá  
nhỏ, chế phẩm XM5  
Determination of treatment conditions in the application of XM5  
preparation in preserving Betula alnoides Buch-Ham; Schima wallichii  
(DC) and Swietenia microphylla  
Keyword: Preservation  
Betula alnoides Buch -  
Ham, Schima wallichii  
(DC.) Korth and Swietenia  
microphylla. Preparation  
XM5  
In Vietnam, the Betula alnoides Buch - Ham, Schima wallichii (DC.) Korth  
and Swietenia microphylla are fast-growing species having straight body,  
large, rounded stem and attractive strain pattern. However, the use of the  
species is limited in civil engineering, abandoning their potential in  
furniture industry. To increase usage effectiveness of those species, we  
investigated the durability of the wood species after treatment with XM5  
preparations. The immersion durations were 3 days, 5 days and 7 days, in  
solution of 7% XM5. Data analysis proved that at specified treatment  
conditions, treated wood has improved resistance to molding fungi and  
termites.  
3758  
Đỗ Thị Hoài Thanh et al., 2015(1)  
Tạp chí KHLN 2015  
Để tăng hiệu quả sử dụng 3 loài gỗ này trong  
sản xuất đồ mộc ngoài trời và trong công trình  
xây dựng, nghiên cứu xác định khả năng bảo  
quản nhằm nâng cao độ bền tự nhiên của gỗ  
Cáng lò, Vối thuốc, Xà cừ lá nhỏ bằng chế  
phẩm XM5 là rất cần thiết.  
I. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Ở Việt Nam, Cáng lò (Betula alnoides Buch.  
Ham. Ex D. Don) đã được trồng thử nghiệm  
thành công ở một số nơi như Sơn La, Lào Cai,  
Lai Châu, Điện Biên. Cáng lò sinh trưởng  
nhanh, tăng trưởng đường kính bình quân năm  
đạt 2-2,5cm và tăng trưởng về chiều cao bình  
quân năm đạt 1,5-2m, có thể khai thác sau 20-  
30 năm (Nguyễn Hoàng Nghĩa, Phạm Quang  
Thu, 2008). Vối thuốc (Schima wallichii (DC.)  
Korth) được triển khai gây trồng tại 4 vùng  
trọng điểm của cả nước đó là: vùng Tây Bắc,  
vùng Đông Bắc, vùng Bắc Trung bộ và vùng  
Tây Nguyên. Tỉnh có diện tích rừng trồng tập  
trung nhiều đó là Lào Cai, Sơn La, Bắc Giang,  
v.v. Sau 8 năm tuổi, rừng Vối thuốc được  
trồng ở Bắc Giang có chiều cao trung bình đạt  
8,59m, đường kính D1,3 đạt 11,9cm. Vối thuốc  
sau 15 năm trồng có thể dùng để xẻ ván hoặc  
làm cột nhà (Võ Đại Hải et al., 2010). Với cây  
Xà cừ lá nhỏ (Swietenia microphylla) được  
trồng nhiều ở các tỉnh Bình Phước (1.852ha),  
Bình Dương (846ha), Tây Ninh (184ha), Đồng  
Nai (103ha). Rừng Xà cừ 5 tuổi ở La Ngà -  
tỉnh Đồng Nai có đường kính trung bình là  
17,02cm và chiều cao bình quân 7,93m, rừng  
Xà cừ 3 tuổi ở Lâm trường Phú Bình - tỉnh  
Bình Dương có đường kính bình quân  
10,04cm và chiều cao là 7,08m và cây có sức  
sống tốt (Trần Văn Sâm, 2008). Như vậy,  
Cáng lò (Betula alnoides Buch - Ham), Vối  
thuốc (Schima wallichii (DC.) Korth) và Xà cừ  
lá nhỏ (Swietenia microphylla) là các loài đã  
được khẳng định về tiềm năng cung cấp gỗ lớn  
cho công nghiệp chế biến gỗ.  
II. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
2.1. Vật liệu nghiên cứu  
Gỗ Cáng lò và gỗ Vối thuốc có độ tuổi từ 12 -  
15 tuổi được khai thác tại xã Hưng Thịnh,  
huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng.  
Gỗ Xà cừ lá nhỏ có độ tuổi từ 12 - 15 tuổi  
được khai thác tại xã Minh Đức, huyện Hơn  
Quán, tỉnh Bình Phước.  
Tất cả các khúc gỗ tròn đều có đường kính đầu  
nhỏ đạt từ 20cm trở lên.  
Thuốc: Chế phẩm XM5 sử dụng dạng dung  
dịch nồng độ 7%, thời gian xử lý: 3 ngày, 5  
ngày, 7 ngày.  
2.2. Thiết bị nghiên cứu  
Thí nghiệm được tiến hành trong phòng thí  
nghiệm của Bộ môn Bảo quản Lâm sản - Viện  
Nghiên cứu Công nghiệp rừng bao gồm các  
thiết bị chính sau:  
Máy sấy memmert (Đức) nhiệt độ tối đa 300oC.  
Cân kỹ thuật (Mỹ) thuật 300g, độ chính xác  
0,001g.  
Thước kẹp điện tử có độ chính xác 0,02mm.  
2.3. Phương pháp nghiên cứu  
2.3.1. Phương pháp xác định khả năng thấm  
thuốc bảo quản của các loại gỗ  
Xác định lượng thuốc thấm  
Chế phẩm bảo quản gỗ XM5 đã được Viện  
Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam nghiên cứu  
và đăng ký sử dụng. Chế phẩm XM5 có ưu  
điểm nổi bật là sau khi thấm vào gỗ có khả  
năng tạo thành phức chất có hiệu lực tốt với  
côn trùng và nấm gây hại.  
- Gỗ được gia công thành mẫu có kích thước  
50 50 100mm. Số lượng 5 mẫu/1 công thức  
- Các mẫu được đánh số theo thứ tự từ bé  
đến lớn và được quét keo Epoxy bịt hai đầu  
mẫu gỗ.  
3759  
Tạp chí KHLN 2015  
Đỗ Thị Hoài Thanh et al., 2015(1)  
- Trước và sau khi ngâm tẩm, các mẫu cân xác Xác định chiều sâu thấm thuốc  
định khối lượng  
Chiều sâu thấm thuốc bảo quản vào mẫu gỗ  
được xác định bằng thuốc chỉ thị màu. Mẫu  
sau khi xác định lượng thuốc thấm, cắt ngang  
mẫu làm 3 phần bằng nhau, dùng dung dịch  
thuốc thử bôi lên bề mặt vật cắt, phần có thuốc  
sẽ đổi màu, phần không có thuốc vẫn giữ  
nguyên màu gỗ.  
Lượng thuốc thấm được xác định theo công  
thức:  
P2 P2 C  
Po   
(kg / m3 )  
(1)  
V
t
Trong đó: Po - Lượng thuốc thấm (kg/m3);  
P2 - Khối lượng mẫu sau tẩm (kg);  
Dùng thước kẹp đo từ 4 điểm giữa của 4 cạnh  
mặt cắt để xác định chiều sâu của thuốc thấm  
(hình 1). Như vậy, mỗi mẫu ít nhất là có 8 lần  
đo, giá trị trung bình của 8 lần đo này là độ sâu  
thấm thuốc trong gỗ của 1 mẫu.  
P1 - Khối lượng mẫu trước khi tẩm (kg);  
C- Nồng độ dung dịch tẩm (%);  
Vt- Thể tích mẫu gỗ tẩm (m3).  
Hình 1. Xác định chiều sâu thấm thuốc trên tiết diện ngang mẫu gỗ  
Dung dịch thử: Là hỗn gồm: 5g diphenyl cacbazit Kết quả được quy định: X%, Y%, Z% từ  
+ 70ml etanol 96% + 25ml axit axetic 99%  
0 - 30% đạt 3 điểm; >30 - 60% đạt 2 điểm;  
>60 - 100% đạt 1 điểm. Tổng hợp số điểm của  
3 chỉ tiêu trên, nếu công thức nào đạt 3 - 4  
điểm là có hiệu lực tốt với mối, đạt 5 - 7 điểm  
là có hiệu lực trung bình và nếu đạt trên 8  
điểm là có hiệu lực kém với mối.  
2.3.2. Phương pháp đánh giá hiệu lực phòng  
chống mối  
Các mẫu gỗ được gia công có kích thước (150  
30 10 mm 1mm), mẫu gỗ được ngâm  
tẩm dung dịch thuốc XM5 có nồng độ 7% theo  
phương pháp ngâm thường với các cấp thời  
gian 3 ngày, 5 ngày, 7 ngày. Đặt mẫu khảo  
nghiệm vào môi trường đang có mối hoạt động  
mạnh. Sau thời gian một tháng, gỡ mẫu và  
đánh giá kết quả khảo nghiệm với điều kiện  
70% số mẫu đối chứng bị mối ăn.  
2.3.3. Phương pháp khảo nghiệm hiệu lực  
của thuốc bảo quản đối với nấm mốc hại gỗ  
Mẫu có kích thước 1,5 2,5 5cm, mỗi công  
thức thử nghiệm có 2 mẫu gỗ tẩm thuốc và 1  
mẫu đối chứng, số lần lặp lại là 3 lần. Mẫu thử  
nghiệm được tẩm thuốc XM5 nồng độ 7% theo  
các mức thời gian 3, 5, 7 ngày. Mẫu của 3 loại  
gỗ được lấy ở phần gỗ dác và gỗ lõi không tẩm  
thuốc XM5 cũng được bố trí đồng thời cùng  
điều kiện để xác định độ bền tự nhiên của gỗ  
với nấm mốc.  
Đánh giá hiệu lực phòng mối của các công  
thức khảo nghiệm, căn cứ vào các chỉ số sau:  
Tỷ lệ % số mẫu có vết mối ăn (X%); Tỷ lệ %  
số mẫu có vết mối ăn rộng ≥1cm2 (Y%); Tỷ lệ  
% số mẫu có vết mối ăn sâu ≥1mm (Z%)  
3760  
Đỗ Thị Hoài Thanh et al., 2015(1)  
Tạp chí KHLN 2015  
Trước khi thử nghiệm, từng nhóm mẫu gỗ  
được khử trùng và hấp ở nhiệt độ 115oC  
trong thời gian 20 phút. Thời gian khảo  
nghiệm là 8 tuần.  
Bảng 2. Kết quả thử nghiệm độ bền tự nhiên  
của 3 loài gỗ với nấm mốc  
Tổng  
số  
Tỷ lệ diện  
tích bị mốc  
(%)  
Loại gỗ  
(dác/lõi)  
TT  
Loài gỗ  
mẫu  
Đặt các mẫu tẩm thuốc và mẫu đối chứng vào  
bình collecsan đã có khuẩn ty nấm lan kín bề  
mặt thạch trong thời gian 4 tháng với điều  
kiện nhiệt độ từ 25oC - 30oC, ẩm độ không  
khí 75- 85%, mỗi bình có 2 mẫu tẩm và 1  
mẫu đối chứng. Sau thời gian trên, gỡ mẫu và  
đánh giá kết quả khảo nghiệm. Điều kiện để  
cuộc khảo nghiệm thành công khi tỷ lệ số  
mẫu đối chứng bị nấm gây mốc biến màu đạt  
từ 70% trở lên.  
1
2
3
4
5
6
0
Cáng Lò  
Gỗ dác  
Gỗ lõi  
6
6
100  
100  
100  
100  
100  
100  
100  
Cáng Lò  
Vối thuốc  
Vối thuốc  
Gỗ dác  
Gỗ lõi  
6
6
Xà cừ lá nhỏ Gỗ dác  
Xà cừ lá nhỏ Gỗ lõi  
6
6
Bồ đề  
Đối chứng  
18  
Mẫu của 3 loài gỗ cả gỗ dác và gỗ lõi sau khảo  
nghiệm được quan sát thấy trên bề mặt tất cả  
các mẫu đều bị nấm A. niger bao phủ. Kết quả  
quan sát cho thấy không có sự khác biệt rõ  
ràng về mức độ gây hại của nấm mốc trên gỗ  
dác và gỗ lõi Cáng lò và Vối thuốc. Đối với gỗ  
Xà cừ lá nhỏ, biểu hiện nấm mốc trên bề mặt  
gỗ lõi không mạnh bằng gỗ dác. Căn cứ theo  
tiêu chuẩn đánh giá, tỷ lệ diện tích bề mặt mẫu  
đều bị nấm mốc bao phủ gây biến màu do đó  
gỗ dác và gỗ lõi của cả 3 loài gỗ được đánh giá  
đều được xếp vào nhóm có độ bền tự nhiên  
kém với nấm A. niger.  
- Tính diện tích vùng bị biến màu của mẫu  
theo công thức:  
a100  
47,5  
(%)  
(2)  
S   
Trong đó: S: Tỷ lệ mẫu bị biến màu (%);  
a: Diện tích mẫu bị biến màu (cm2);  
47,5: Tổng diện tích mẫu (cm2)  
- Đánh giá hiệu lực phòng chống nấm mốc:  
Dựa vào % diện tích phần bị biến màu do nấm  
mốc trên các mặt của mẫu thử theo bảng 1.  
3.2. Độ bền tự nhiên của 3 loài gỗ đối với mối  
Độ bền tự nhiên của 3 loài gỗ với mối  
C.formosanus được trình bày tại bảng 3.  
Bảng 1. Bảng chỉ tiêu đánh giá hiệu lực đối  
với nấm mốc  
Diện tích bị biến màu của mẫu thử  
Hiệu lực  
Bảng 3. Độ bền tự nhiên của 3 loại gỗ với mối  
(%)  
Điểm đánh giá mức độ xâm hại  
0 < S ≤ 30  
30 < S ≤ 60  
S > 60  
Tốt  
Trung bình  
Kém  
Kết  
luận  
HL  
của mối  
Loại gỗ  
HHKL  
%
Tổng  
hợp điểm  
X% Y% Z%  
Trung  
bình  
Vối thuốc  
0
55  
83  
11  
6
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN  
Xà cừ  
0
0
0
0
55  
33  
14  
17  
8
8
Kém  
Kém  
3.1. Độ bền tự nhiên của gỗ với nấm mốc  
Cáng lò  
đen Aspergillus niger  
Nhận xét: Qua kết quả khảo nghiệm cho thấy  
cả 3 loại gỗ đều bị mối tấn công gây hại, cụ  
thể như sau:  
Tổng số mẫu được thử là 54 mẫu trong đó có  
36 mẫu thí nghiệm và 18 mẫu đối chứng. Số  
liệu thử nghiệm được tổng hợp ở bảng 2.  
3761  
Tạp chí KHLN 2015  
Đỗ Thị Hoài Thanh et al., 2015(1)  
- Gỗ Vối thuốc và gỗ Xà cừ có độ bền tự nhiên đối với Vối thuốc có sự trội hơn hẳn, điểm  
trung bình với mối. Tất cả các mẫu thí nghiệm đánh giá đạt 6 điểm, rất gần với ngưỡng tốt.  
đều có dấu hiệu bị mối tấn công gây hại, mối Đây là cơ sở khoa học để lựa chọn loại thuốc,  
không ăn rộng trên bề mặt mẫu song lại ăn sâu liều lượng sử dụng đảm bảo hiệu quả bảo quản  
vào trong mẫu. Mức độ hao hụt khối lượng của cao đồng thời giúp cho việc sử dụng gỗ rừng  
mẫu từ 11 - 14%.  
trồng có định hướng.  
- Gỗ Cáng lò bị mối gây hại khá nặng, và có  
độ bền tự nhiên kém với mối. Trên toàn bộ các  
mẫu thử hầu như các vết mối ăn đều rộng và  
ăn sâu vào trong gỗ, và lượng hao hụt khối  
lượng đạt 17%.  
3.3. Kết quả khả năng thấm thuốc của 3  
loài gỗ  
Từ kết quả thu được về độ bền tự nhiên của 3  
loài gỗ, để tăng hiệu quả sử dụng và độ bền  
của gỗ trong quá trình sử dụng, gỗ Cáng lò,  
Vối thuốc và Xà cừ lá nhỏ được tiến hành xử  
lý ngâm tẩm thuốc bảo quản, kết quả thu được  
tại bảng 4.  
Tóm lại: Với 3 loại gỗ đưa vào khảo nghiệm,  
độ bền tự nhiên của gỗ Cáng lò đối với mối  
kém hơn so với Xà cừ và Vối thuốc. Tuy nhiên  
Bảng 4. Kết quả xác định lượng thuốc thấm và chiều sâu thấm thuốc XM5 của 3 loài gỗ  
Lượng thuốc thấm (kg/m3)  
Chiều sâu thấm thuốc (mm)  
TT  
Loại gỗ  
3 ngày  
5 ngày  
8,84  
7 ngày  
3 ngày  
5 ngày  
13,24  
10,44  
10,21  
7 ngày  
1
2
3
Cáng lò  
7,24  
5,45  
5,85  
9,16  
6,31  
7,25  
10,66  
7,09  
8,22  
14,41  
13,34  
13,30  
Xà cừ lá nhỏ  
Vối thuốc  
6,06  
6,85  
Nhận xét:  
thấm vào gỗ theo từng khoảng thời gian xử  
lý). Nguyên nhân của hiện tượng này có thể  
giải thích là do ở giai đoạn ngâm đầu tiên,  
dung dịch thuốc bảo quản thấm vào gỗ theo  
nguyên lý mao dẫn, độ chênh lệch áp lực  
mao quản lớn, thuốc thấm vào nhanh. Càng  
về sau sự chênh lệch này càng ít đi và do đó  
sự dịch chuyển của thuốc vào trong gỗ cũng  
Kết quả bảng 4 cho thấy: gỗ Cáng lò là loại gỗ dễ  
thấm đạt 7 - 9 kg/m3, Vối thuốc và Xà cừ lá nhỏ  
thuộc loại thấm trung bình đạt từ 5 - 7 kg/m3.  
Lượng thuốc thấm của cả 3 loại gỗ đều tỷ lệ  
thuận với thời gian ngâm tẩm, tuy nhiên khi  
tăng thời gian xử lý từ 5 ngày lên 7 ngày thì  
lượng thuốc thấm vào ít hơn so với giai đoạn  
từ 3 ngày đến 5 ngày. Khả năng thấm thuốc chậm lại.  
của 3 loài gỗ tương đương với gỗ Bạch đàn  
trắng đạt - lượng thuốc thấm 8,1 kg/m3); thấm  
tốt hơn gỗ Sao đen - đạt lượng thuốc thấm  
5,5 kg/m3) khi tẩm bằng phương pháp chân  
không áp lực.  
3.4. Kết quả thử độ bền của ba loại gỗ tẩm  
thuốc XM5 với mối  
Kết quả về thử nghiệm hiệu lực bảo quản của  
mẫu gỗ tẩm thuốc XM5 với mối được tổng hợp  
tại bảng 5.  
Tốc độ thấm thuốc bảo quản vào gỗ giảm dần  
theo thời gian ngâm (thể hiện ở lượng thuốc  
3762  
Đỗ Thị Hoài Thanh et al., 2015(1)  
Tạp chí KHLN 2015  
Bảng 5. Độ bền của gỗ Cáng lò, Vối thuốc, Xà cừ lá nhỏ sau khi ngâm tẩm XM5 với mối  
Đánh giá mức độ xâm hại của mối với mẫu khảo nghiệm  
Thời gian  
Loài gỗ  
Kết luận  
ngâm  
X%  
100  
56  
Điểm  
Y%  
100  
67  
Điểm  
Z%  
100  
89  
Điểm  
Tổng điểm  
3 ngày  
5 ngày  
7 ngày  
3 ngày  
5 ngày  
7 ngày  
3 ngày  
5 ngày  
7 ngày  
Bồ đề  
1
2
1
2
1
1
1
1
1
3
1
1
1
1
1
1
1
1
1
3
1
1
1
1
1
1
1
1
1
3
3
4
3
4
3
3
3
3
3
9
Tốt  
Tốt  
Tốt  
Tốt  
Tốt  
Tốt  
Tốt  
Tốt  
Tốt  
Kém  
Cáng lò  
89  
100  
89  
100  
89  
56  
Xà cừ lá nhỏ  
100  
100  
67  
100  
100  
89  
100  
100  
100  
100  
100  
0
Vối thuốc  
100  
89  
100  
100  
0
Đối chứng  
0
Số liệu bảng 5 cho thấy toàn bộ mẫu đối chứng ở dạng vết. Ở thời gian xử lý 7 ngày, không có  
gỗ Bồ đề bị mối phá hoại, các vết mối ăn ở gỗ dấu hiệu mối tấn công gây hại.  
Bồ đề lớn hơn 1cm2 và sâu hơn 1mm, đáp ứng  
Như vậy, từ kết quả thu được qua bảng 5 có thể  
đủ điều kiện cần thiết để cuộc khảo nghiệm  
thấy, ở cấp nồng độ xử lý 7%, mặc dù có một số  
được cho là thành công.  
mẫu bị mối tấn công gây hại nhẹ song tổng hợp  
Tất cả các mẫu tẩm thuốc XM5 ở nồng độ 7% kết quả khảo nghiệm cho thấy các công thức vẫn  
được xử lý ngâm tẩm ở các cấp thời gian 3, 5, đạt hiệu lực phòng chống mối tốt.  
7 ngày đều có dấu hiệu bị mối đắp đất lên trên  
3.5. Kết quả thử độ bền của ba loại gỗ tẩm  
thuốc XM5 với nấm mốc  
mẫu, song vết mối ăn trên mẫu rất nhẹ. Ở thời  
gian ngâm tẩm 3 ngày trên mẫu có một số vết  
mối gặm song vết cắn đều nhỏ hơn 1cm2 và  
không sâu quá 1mm. Ở thời gian ngâm tẩm 5  
ngày các mẫu bị tấn công gây hại chỉ dừng lại  
Kết quả về độ bền của 3 loại gỗ đã xử lý  
ngâm tẩm XM5 được tổng hợp tại bảng 6.  
Bảng 6. Độ bền của gỗ Cáng lò, Vối thuốc, Xà cừ lá nhỏ sau khi ngâm tẩm XM5 với nấm mốc  
Hiệu lực phòng chống nấm mốc của mẫu gỗ khảo nghiệm  
TT  
Loại gỗ  
3 ngày  
Dtnm (%)  
5 ngày  
Dtnm (%)  
7 ngày  
Dtnm (%)  
Hiệu lực  
Tốt  
Hiệu lực  
Tốt  
Hiệu lực  
Tốt  
1
2
3
Cáng lò  
3,0  
14,3  
14,0  
100  
4,5  
3,0  
16,3  
4,5  
Vối thuốc  
Xà cừ lá nhỏ  
Bồ đề  
Tốt  
Tốt  
Tốt  
Tốt  
17,0  
100  
Tốt  
14,0  
100  
Tốt  
Kém  
Kém  
Kém  
Qua số liệu bảng 6 cho thấy, mặc dù tất cả các Ở các cấp thời gian xử lý khác nhau và với từng  
công thức qua thời gian khảo nghiệm đều có loại gỗ khác nhau thì tỷ lệ diện tích nhiễm mốc  
dấu hiệu của nấm mốc tấn công trên bề mặt cũng khác nhau song sự khác biệt là không lớn  
song tỷ lệ diện tích bị nấm gây hại là rất ít.  
và vẫn đảm bảo độ tin cậy của phép thử. Như  
3763  
Tạp chí KHLN 2015  
Đỗ Thị Hoài Thanh et al., 2015(1)  
vậy, cả 3 loại gỗ khi xử lý ngâm tẩm XM5 nồng - Gỗ Cáng lò, Vối thuốc và Xà cừ lá nhỏ có  
độ 7% ở cả 3 cấp thời gian đều cho kết quả bảo sức thấm thuốc trung bình, lượng thuốc thấm  
quản tốt với nấm mốc.  
XM5 xử lý ngâm thường ở nồng độ 7%, thời  
gian xử lý 5 ngày theo phương pháp ngâm  
thường cho kết quả gỗ Cáng lò đạt 8,84 kg/m3,  
gỗ Vối thuốc đạt 6,85 kg/m3, gỗ Xà cừ lá nhỏ  
đạt 6,06 kg/m3.  
IV. KẾT LUẬN  
Từ kết quả nghiên cứu có thể rút ra một số kết  
luận sau:  
- Gỗ Cáng lò, Vối thuốc và Xà cừ lá nhỏ tẩm  
thuốc XM5 nồng độ 7% bằng phương pháp  
ngâm thường đều cho hiệu lực phòng chống  
với nấm mốc và mối đạt kết quả tốt.  
- Cả 3 loại gỗ đều có độ bền tự nhiên kém với  
nấm mốc gây hại. Gỗ Vối thuốc và Xà cừ lá  
nhỏ có độ bền trung bình với mối, gỗ Cáng lò  
có độ bền tự nhiên kém với mối.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2013. Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép, hạn chế và cấm sử  
dụng ở Việt Nam.  
2. Broese Van Groeno H, Rischen H.W.L, Van Den Berge J, 1952. Wood preservation during the last 50 years,  
second edition, A.W. Shitheff’s Utigever maatshappi j, leiden (Holland)  
3. Nguyễn Thị Bích Ngọc, Lê Văn Nông, Nguyễn Chí Thanh, 2006. Giáo trình bảo quản lâm sản. Nxb Nông  
nghiệp, Hà Nội.  
4. Nguyễn Xuân Khu, 1976. Sơ bộ xác định khả năng thấm thuốc của một số loại gỗ Thanh Sơn-Vĩnh Phúc, Một  
số kết quả nghiên cứu ứng dụng khoa học kỹ thuật công nghiệp rừng, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.  
5. Nguyễn Xuân Khu, Đàm Bính, 1985. Lượng thuốc thấm thay đổi nồng độ dung dịch tẩm theo phương pháp  
ngâm thường và xác định phương trình liên quan, Một số kết quả nghiên cứu ứng dụng khoa học kỹ thuật công  
nghiệp rừng. Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.  
6. Nguyễn Vũ Lâm, 2002. Nghiên cứu khả năng thấm thuốc XM5 của gỗ keo lai bằng phương pháp ngâm thường  
và chân không áp lực. Luận văn Thạc sĩ kỹ thuật, Trường Đại học Lâm nghiệp.  
7. Nguyễn Hoàng Nghĩa, Phạm Quang Thu, 2008. Cây Cáng lò (Betula alnoides Buch. Ham. Ex D. Don) - một  
loài cây có triển vọng trồng rừng quy mô lớn ở Việt Nam. Tạp chí Khoa học Lâm nghiệp số 1, trg 501 - 505.  
8. Trần Văn Sâm, 2008. Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trồng Xà cừ lá nhỏ (Swietenia microphylla) cho  
năng suất cao nhằm cung cấp gỗ lớn trong vùng Đông Nam bộ. Trung tâm KHSXLN Đông Nam bộ - Viện KH  
Lâm nghiệp Việt Nam.  
9. Võ Đại Hải, 2010. Nghiên cứu phát triển cây Vối thuốc (Schima wallichii Choisy và Schima superba Gardn. Et  
Champ). Báo cáo tổng kết đề tài - Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, Hà Nội.  
10. Richardson B.A., 1993. Wood preservation, the second edition, The contrucsion press, Lancaster London  
NewYork.  
Người thẩm định: PGS.TS. Nguyễn Thị Bích Ngọc  
3764  
pdf 7 trang Mãnh Khiết 15/01/2024 11080 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu xác định khả năng bảo quản gỗ cáng lò (Betula Alnoides Buch - Ham), vối thuốc (Schima Wallichii (DC) Korth), xà cừ lá nhỏ (Swietenia Microphylla), bằng chế phẩm XM5 tẩm theo phương pháp ngâm thường", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_xac_dinh_kha_nang_bao_quan_go_cang_lo_betula_alno.pdf