Giáo trình Bảo tồn đa dạng sinh học

ĐẠI HỌC HUẾ  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC  
  
ThS NGUYỄN MỘNG  
BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC  
Huế - 2011  
ĐẠI HỌC HUẾ  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC  
Th.S. NGUYỄN MỘNG  
BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC  
(Giáo trình lưu hành nội bộ)  
Huế - 2011  
Mục lục  
1
2
3
4
5
Chương 1. ĐA DẠNG SINH HỌC VÀ SINH HỌC BẢO TỒN  
1.1. Khái niệm về đa dạng sinh học  
Theo định nghĩa của Quỹ Quốc tế về Bảo tồn Thiên nhiên (World Wildlife Fund)  
thì đa dạng sinh học là “sự phồn thịnh của cuộc sống trên Trái đất, là hàng triệu loài  
động vật, thực vật và vi sinh vật, là những nguồn gene của chúng và là các hệ sinh thái  
phức tạp cùng tồn tại trong môi trường sống”.  
Như thế, đa dạng sinh học cần phải được xem xét ở ba mức độ. Đa dạng sinh học ở  
mức độ loài bao gồm tất cả sinh vật trên Trái đất từ vi khuẩn đến các loài động vật, thực  
vật và nấm. Ở mức nhỏ hơn, đa dạng sinh học bao gồm sự khác biệt về gene giữa các  
loài, khác biệt về gene giữa các quần thể cách ly nhau về địa lý cũng như khác biệt giữa  
các cá thể cùng chung sống trong một quần thể. Đa dạng sinh học cũng bao gồm sự khác  
biệt trong các quần xã sinh học nơi các loài đang sinh sống, các hệ sinh thái trong đó các  
quần xã tồn tại và cả sự khác biệt của các mối tương tác giữa chúng với nhau. Sự khác  
biệt giữa đa dạng sinh học ở 3 mức độ khác nhau được thể hiện qua bảng 1.1.  
Bảng 1.1. Các mức độ đa dạng sinh học  
Đa dạng loài  
Đa dạng di truyền  
Đa dạng sinh thái  
Giới (Kingdoms) Quần thể (Populations)  
Sinh đới (Biomes)  
Ngành (Phyla)  
Lớp (Class)  
Cá thể (Individuals)  
Vùng sinh học (Bioregions)  
Nhiễm sắc thể (Chromosomes) Cảnh quan (Landscapes)  
Bộ (Order)  
Gene  
Hệ sinh thái (Ecosystems)  
Nơi ở (Habitats)  
Họ (Families)  
Giống (Gene ra)  
Loài (Species)  
Nucleotide  
Tổ sinh thái (Niches)  
(Kevin J Gaston and John I Spicer, 2004)  
1.1.1. Đa dạng loài  
Đa dạng loài bao gồm tất cả loài trên Trái đất. Theo Theo Mayden (1997), có 22  
khái niệm khác nhau về loài, dưới đây là một số khái niệm thông dụng:  
• Loài hình thái: loài là một nhóm sinh vật giống nhau nhưng khác biệt với các  
nhóm khác (Linnaeus);  
• Loài sinh học: là nhóm các quần thể tự nhiên có khả năng giao phối với nhau  
và cách ly sinh sản với các nhóm khác;  
• Loài phả hệ: Loài là một dòng nhỏ nhất từ một tổ tiên chung (de Queiroz &  
Donoghue 1990);  
• Loài sinh thái: là một nhóm sinh vật chiếm cứ một tổ sinh thái nhỏ nhất, khác  
biệt với tổ sinh thái của các nhóm khác trong vùng phân bố (Van Valen 1976).  
Đa dạng loài có thể được đo bằng một số cách khác nhau. Hầu hết những cách  
này có thể được phân loại thành ba nhóm đo đạt: độ giàu có loài (species richness), sự  
6
phong phú loài (species abundance) và sự đa dạng về mặt phân loại hoặc chủng loại  
phát sinh (taxonomic hay phylogene tic diversity).  
Đo đạt sự giàu có loài bằng cách tính tổng số loài trong một khu vực xác định.  
Đo đạt sự phong phú loài là lấy mẫu số lượng tương đối giữa các loài. Một mẫu điển  
hình có thể chứa một số loài rất phổ biến, một vài loài ít phổ biến hơn và nhiều loài  
quý hiếm.  
Đo đạt đa dạng loài đơn giản hóa thông tin về độ phong phú loài và sự phong phú  
tương đối thành một chỉ số duy nhất được sử dụng rộng rãi.  
Có nhiều chỉ số để đánh giá đa dạng sinh học, trong đó chỉ số Shannon thường  
được sử dụng.  
Chỉ số đa dạng tính theo Shannon:  
n
H   p .lnp  
i
i
i1  
Trong đó:  
H - chỉ số đa dạng  
n - số loài trong quần xã  
pi - t  số cá thể của loài i trên tổng số cá thể tất cả loài trong quần xã (pi = 0 ~ 1)  
Một cách khác là để đánh giá độ đa dạng về phân loại hoặc phát sinh chủng loại,  
trong đó xem xét các mối quan hệ di truyền giữa các nhóm loài khác nhau. Những tính  
toán này được dựa trên phân tích kết quả trong thứ bậc phân loại thường được đại diện  
bởi một 'cây', mô tả mô hình phân nhánh, được cho là tốt nhất, đại diện cho sự tiến hóa  
phát sinh chủng loại của các đơn vị phân loại liên quan. Các tính toán khác nhau của  
đa dạng về mặt phân loại, nhấn mạnh các đặc điểm phân loại khác nhau và các mối  
quan hệ.  
Hiện nay, có khoảng 1,7 triệu loài đã được mô tả. Ít nhất là hai lần số đó còn chưa  
mô tả, chủ yếu là côn trùng và các nhóm chân khớp khác trong vùng nhiệt đới (Bảng 1.2).  
Trên phạm vi toàn Thế giới còn cần rất nhiều nổ lực để có thể hoàn thiện được  
danh mục đầy đủ các loài. Mỗi năm các nhà phân loại trên Thế giới mô tả được  
khoảng 11.000 loài (chiếm từ 10 đến 30% các loài có trên Thế giới), và như vậy, để có  
thể mô tả hết các loài trên Thế giới (ước tính 10 đến 30 triệu loài) dự kiến phải tốn từ  
750 năm đến 2.570 năm, trong khi đó có nhiều loài đã bị tuyệt chủng trước khi chúng  
được mô tả và đặt tên (Richard B. Primack, 1995).  
Kiến thức của chúng ta về số lượng loài là chưa chính xác do nhiều loài khó thấy  
còn chưa được phân loại học chú ý.  
Một vùng rùng mưa miền núi hẻo lánh nằm giữa Việt Nam và Lào vừa mới được  
các nhà sinh học khảo sát trong thời gian gần đây. Một điều kỳ diệu đã xảy ra, tại đây  
họ đã phát hiện được 5 loài thú mới cho khoa học đó là Mang lớn (Megamuntiacus  
vuquangenesis), Sao La (Pseudoryx nghetinhensis), Bò sừng xoắn Tây Nguyên (Bos  
7
sauveli), Mang Trường Sơn (Muntiacus truongsonensis) và Mang lá (Muntiacus  
rooseveltorum).  
Bảng 1.2. Số lượng loài các nhóm sinh vật đã được mô tả  
Các nhóm  
Vertebrates  
Mammals  
Birds  
Tên Tiếng Việt các nhóm  
Số lượng loài  
Động vật có xương sống  
Động vật có vú  
Chim  
5.490  
10.027  
9.084  
Reptiles  
Bò sát  
Amphibians  
Fishes  
Lưỡng cư  
Cá  
6.638  
31.600  
62.839  
Tổng  
Invertebrates  
Insects  
Động vật không xương sống  
Côn trùng  
1.000.000  
85.000  
47.000  
2.175  
Molluscs  
Thân Mềm  
Giáp xác  
Crustaceans  
Corals  
San hô  
Arachnids  
Velvet worms  
Horseshoe Crabs  
Others  
Nhện  
102.000  
165  
Giun móc  
Sam  
4
Các nhóm khác  
68.658  
1.305.250  
Tổng  
Plants  
Thực vật  
Rêu  
Mosses  
16.236  
12.000  
1.052  
Fern and Allies  
Gymnosperms  
Flowering Plants  
Green algae  
Red algae  
Tổng  
Dương xỉ  
Hạt trần  
Thực vật có hoa  
Tảo lục  
268.000  
4.242  
Tảo đỏ  
6.144  
307.674  
Others  
Các nhóm khác  
Địa y  
Lichens  
17.000  
31.496  
Mushrooms  
Brown algae  
Tổng  
Nấm  
Tảo nâu  
3.127  
51.623  
Tổng các nhóm  
1.727.386  
(Craig Hilton-Taylor, Caroline M Pollock et al., 2008)  
8
1.1.2. Đa dạng di truyền  
Thể hiện sự sai khác về di truyền giữa các cá thể trong một quần thể và giữa các  
quần thể với nhau.  
Đa dạng di truyền trong nội bộ loài thường là kết quả của tập tính sinh sản của  
các cá thể trong quần thể. Một quần thể là một nhóm các cá thể giao phối với nhau và  
sản sinh ra con cái hữu thụ. Một loài có thể có một hay vài quần thể khác nhau. Một  
quần thể có thể chỉ gồm một số ít cá thể hay có thể có hàng triệu cá thể.  
Các cá thể trong một quần thể thường rất khác nhau về mặt di truyền. Sự đa dạng  
về bộ gene có được do các cá thể có các gene khác nhau, gene là một đơn vị di truyền  
cùng với những chromosome được đặc trưng bởi những protein đặc biệt. Các dạng  
khác nhau của gene được gọi là allen và những sự khác biệt nảy sinh qua đột biến, là  
những sự thay đổi xảy ra trong DNA, đơn vị cấu thành nhiễm sắc thể của cá thể. Sự  
khác biệt của các allen trong gene có thể ảnh hưởng đến sự phát triển và sinh lý của  
các cá thể một cách khác nhau.  
Tổng số các sắp xếp của gene và allen trong quần thể được coi là quỹ gene (gene  
pool), trong khi một tổ hợp nào đấy của gene và allen trong bất kỳ cá thể nào thì được  
gọi là kiểu di truyền (geneotype). Kiểu hình (phenotype) của một cá thể nói lên các  
đặc điểm về hình thái, sinh lý, sinh hoá là kết quả của biểu hiện kiểu gene trong một  
môi trường nhất định.  
Sai khác di truyền cho phép các cá thể thích ứng với những thay đổi của môi  
trường. Nhìn chung, các loài quí hiếm ít có sự đa dạng di truyền hơn các loài có phân  
bố rộng và kết quả là chúng dễ bị tuyệt chủng hơn khi điều kiện môi trường thay đổi.  
Hình 1.1. Đa dạng di truyền ở cây ớt và ở người.  
1.1.3. Đa dạng quần xã và hệ sinh thái  
Đa dạng về hệ sinh thái là thước đo sự phong phú về sinh cảnh, nơi ở, tổ sinh thái  
và các hệ sinh thái ở các cấp độ khác nhau. Sự đa dạng này được phản ảnh quan trọng  
nhất bởi sự đa dạng về sinh cảnh (biotops), các quần xã sinh vật và các quá trình sinh  
thái trong sinh quyển.  
9
Đa dạng hệ sinh thái bao gồm sự khác biệt rộng lớn giữa các loại hệ sinh thái, sự  
đa dạng của môi trường sống và các quá trình sinh thái xảy ra trong mỗi loại hệ sinh  
thái. Xác định tính đa dạng hệ sinh thái khó hơn so với đa dạng loài hoặc đa dạng di  
truyền vì 'ranh giới' của các quần xã và hệ sinh thái thường hay thay đổi. Do khái niệm  
hệ sinh thái thường biến động và sự thay đổi đó, có thể được áp dụng ở nhiều quy mô  
khác nhau, mặc dù đối với mục tiêu quản lý, nó thường được sử dụng rộng rãi đối với  
các nhóm quần hợp giống nhau của quần xã, chẳng hạn như khu rừng nhiệt đới, ôn đới  
hoặc rạn san hô. Một yếu tố quan trọng trong việc xem xét các hệ sinh thái đó là trạng  
thái tự nhiên, các quá trình sinh thái như dòng năng lượng và chu trình nước được bảo  
tồn.  
Việc phân loại sự đa dạng to lớn của các hệ sinh thái của Trái đất vào một hệ  
thống quản lý là một thách thức khoa học lớn, và quan trọng đối với quản lý và bảo tồn  
sinh quyển. Ở cấp độ toàn cầu, hầu hết các hệ thống phân loại đã cố gắng để hướng  
đến một tiến trình trung gian giữa sự phức tạp của sinh thái quần xã và sự đơn giản của  
hệ thống phân loại nơi ở.  
Nói chung các hệ thống này sử dụng một sự kết hợp của một định nghĩa các kiểu  
nơi ở với sự mô tả khí hậu, ví dụ, rừng nhiệt đới ẩm, hoặc đồng cỏ ôn đới. Một số hệ  
thống cũng tích hợp địa lý sinh vật toàn cầu để giải thích các sự khác biệt trong sinh  
vật giữa các vùng trên Thế giới, tương tự như đặc điểm của khí hậu và tự nhiên (hình  
1.3.).  
Đo lường đa dạng sinh thái vẫn còn trong giai đoạn trứng nước. Tuy nhiên, đa  
dạng hệ sinh thái là một yếu tố thiết yếu của toàn bộ đa dạng sinh học và nên được  
phản ánh trong bất kỳ đánh giá đa dạng sinh học nào.  
Hình 1.2. Bảy miền địa lý sinh học Thế giới  
10  
1.2. Định lượng đa dạng sinh học  
Ngoài định nghĩa đa dạng sinh học được chấp nhận bởi nhiều nhà sinh học bảo  
tồn, định nghĩa về lượng tính đa dạng sinh học cũng được sử dụng như là một phương  
thức để so sánh sự đa dạng tổng thể của các quần xã khác nhau.  
Theo như định nghĩa về đa dạng sinh học, rõ ràng là không có một thước đo duy  
nhất nào để định lượng đa dạng sinh học một cách đầy đủ. Chúng ta không thể nói lên  
tính đa dạng sinh học của một khu vực dù có diện tích lớn hay nhỏ chỉ bằng một con số  
duy nhất.  
Đa dạng di truyền thường được coi là đơn vị cơ sở của sự sống, tuy nhiên, trong  
thực tế, đa dạng loài thường được coi là nhân tố cơ bản của đa dạng sinh học.  
Các chỉ số toán học về đa dạng sinh học đã được thiết lập để mô tả sự đa dạng loài  
ở các phạm vị địa lý khác nhau. Số lượng loài trong một quần xã hay hệ sinh thái thường  
được mô tả là đa dạng .  
Khái niệm đa dạng đề cập đến mức độ dao động thành phần loài khi các điều  
kiện môi trường thay đổi như thế nào.  
Đa dạng áp dụng đối với một vùng địa lý rộng lớn gồm nhiều sinh cảnh và được  
định nghĩa là “một t  lệ mà ở đấy các loài thêm vào được bắt gặp là những sự thay thế  
địa lý trong một dạng nơi ở thuộc các điểm khác nhau”.  
Điểm 1:  
5 loài  
5 loài  
Điểm 2  
3 loài  
3 loài  
Điểm 3:  
Điểm 4  
Vùng X  
Vùng Y  
Điểm 1 có đa dạng alpha cao hơn điểm 2;  
Vùng Y đa dạng beta cao hơn vùng X do có sự chuyển giao các loài trong các điểm  
Vùng Y có đa dạng alpha thấp tại các điểm, nhưng các điểm rất khác nhau, do đó mà  
đa dạng cũng gamma cao hơn vùng X  
Hình 1.3. Đa dạng alpha, đa dạng beta và đa dạng gamma  
Đa dạng xuất phát từ một khái niệm phổ biến về sự phong phú của loài (species  
richness) và có thể sử dụng để so sánh số lượng loài trong các hệ sinh thái khác nhau.  
Có nhiều phương thức khác nhau để định lượng đa dạng sinh học, tuy vậy, độ phong  
phú về loài là chỉ số thông dụng nhất để diễn tả đa dạng sinh học vì các lý do sau:  
Áp dụng thực tế: độ phong phú về loài đã được minh chứng về khả  
năng định lượng trong thực tế, ít nhất là chỉ ra những sự khác biệt về số lượng  
11  
loài trong một trạng thái nào đó (ví dụ như sự có mặt, sinh sản, trú đông) đối với  
một bậc phân loại nào đó trong một diện tích nào đó trong một thời gian nào đó.  
Thông tin có sẵn: một số lượng lớn thông tin có sẵn về độ phong phú  
của loài. Ngoài ra, các thông tin khác còn có thể lấy ra từ các bộ sưu tập trong các  
bảo tàng với hàng triệu mẫu vật cùng với các tài liệu. Đặc biệt là các thông tin  
này được đưa vào máy tính để các vùng xa xôi có thể sử dụng.  
Tính đại diện: độ phong phú của loài có thể đại diện cho nhiều loại đa  
dạng sinh học khác nhau. Nhìn chung, độ phong phú loài càng lớn thì độ đa dạng  
di truyền càng cao (đa dạng lớn về gene qua các quần thể), đa dạng về sinh vật  
càng nhiều (số lượng cá thể lớn qua các bậc phân loại cao hơn), và đa dạng sinh  
thái lớn hơn (từ các đại diện của nhiều tổ sinh thái và nơi ở qua nhiều sinh cảnh)  
Ứng dụng rộng rãi: đơn vị loài thường được coi như là đơn vị trong  
quản lý, luật pháp, chính trị và truyền thống. Đối với nhiều người sự sai khác về  
đa dạng sinh học được coi như là sự sai khác về độ phong phú của loài.  
1.3. Sự phong phú đa dạng sinh học ở một số vùng trên Trái đất  
Môi trường giàu có nhất về số lượng loài có lẽ ở các rừng nhiệt đới, rạn san hô,  
các hồ lớn ở vùng nhiệt đới và ở các biển sâu. Trong các rạn san hô, và các biển sâu,  
sự đa dạng sinh học thuộc nhiều ngành và lớp khác nhau. Sự đa dạng trong các biển  
sâu nhờ vào diện tích lớn, tính ổn định của môi trường cũng như vào sự biệt hoá của  
các loại nền đáy khác nhau.  
Đa dạng loài lớn nhất là ở vùng rừng nhiệt đới. Mặc dù rừng nhiệt đới chỉ chiếm  
7% diện tích Trái đất, chúng chứa hơn 1/2 loài trên Thế giới. Khoảng 40% loài thực  
vật có hoa trên Thế giới (100.000 loài) ở vùng nhiệt đới, trong khi 30% loài chim trên  
Thế giới phụ thuộc vào những khu rừng nhiệt đới (Võ Quý, Phạm Bình Quyền et al.,  
1999).  
Rạn san hô tạo nên một nơi tập trung khác về loài. Các loài san hô bé nhỏ tạo ra  
các hệ sinh thái san hô vĩ đại, là vùng biển tương đương với rừng nhiệt đới về sự  
phong phú loài và độ phức tạp. Rạn san hô lớn nhất Thế giới là rạn San Hô Lớn (Great  
Barrier Reffs) ở bờ biển phía đông nước Úc, có diện tích là 349.000 km2. Rạn san hô  
này có hơn 300 loài san hô, 1500 loài cá, 4000 loài thân mềm, 5 loài rùa biển và là nơi  
sinh sản của khoảng 252 loài chim. Rạn san hô này chiếm 8% loài cá trên Thế giới  
mặc dù chúng chỉ chiếm 0,1% diện tích đại dương.  
Đối với hầu hết các nhóm sinh vật, sự đa dạng loài tăng về hướng nhiệt đới. Ví  
dụ như Kenia có 308 loài thú, trong khi đó Pháp chỉ có 113 loài mặc dù hai nước này  
có cùng diện tích. Sự tương phản này đặc biệt chặt chẻ đối với cây cỏ và thực vật có  
hoa: một hecta rừng Amazon ở Peru hay vùng đất thấp ở Malaisia có thể có đến hơn  
200 loài cây, trong khi đó ở rừng Châu Âu hay nước Mỹ thì chỉ có khoảng 30 loài  
trong cùng diện tích. Kiểu đa dạng của các loài trên đất liền cũng giống như ở biển,  
12  
nghĩa là cũng gia tăng sự đa dạng loài về phía nhiệt đới. Ví dụ rạn San hô lớn ở Úc,  
phía Bắc có 50 giống trong khi phía Nam chỉ có 10 giống san hô.  
Có thể nêu một số lý do để giải thích cho việc vùng nhiệt đới có số lượng loài  
tăng như sau:  
- Lượng bức xạ mặt trời cao,  
Một số lợi ích kinh tế của đa dạng sinh học  
Dược phẩm: khoảng ½ các loài thuốc tổng hợp  
có nguồn gốc từ thiên nhiên. Các dịch vụ  
tạo ra năng suất sinh học lớn, hổ  
trợ cho lưới thức ăn rộng;  
- Khí hậu khô ẩm của vùng  
thương mại về cây thuốc lên đến 60 tỷ USD  
nhiệt đới đẩy mạnh sự tồn tại và năm. 4/5 các loại thuốc mới được giới thiệu trên  
phạm vi toàn cầu bắt nguồn từ các sản phẩm tự  
nhiên. Tất cả các loại thuốc chống ung thư có  
sẵn hiện nay, 42% bắt nguồn từ tự nhiên và  
34% là bán tự nhiên.  
phát triển của sinh vật cho phép  
các loài tương tác với nhau nhiều  
hơn tạo ra những tập tính và thích  
ứng cho sự tiến hoá và sống còn;  
Giá trị toàn cầu về gỗ năm 2000 là 400 tỷ USD.  
- Khí hậu thuận lợi cho mầm Lĩnh vực lâm nghiệp toàn cầu cung cấp sinh kế  
và việc làm cho khoảng 60 triệu người, phần lớn  
ở nước ở các nước đang phát triển. Khoảng 2,6  
tỷ người sử dụng các loại củi đun nấu hằng  
ngày từ rừng.  
bệnh và vật ký sinh phát triển,  
ngăn chặn sự phát triển quá mức  
của loài  
- Vùng nhiệt đới cổ và ổn  
500 triệu người trên Thế giới sống dựa vào các  
định về mặt địa chất, cho phép rạn san hô. Khoảng từ 9 đến 12% nghề các trên  
toàn Thế giới trực tiếp vào rạn. Rạn là nơi sinh  
sản, nuôi dưỡng và kiếm ăn của nghề cá ngoài  
khơi. Du lịch là nguồn lợi chính của rạn san hô.  
Bình quân toàn cầu là 184 USD/ mỗi khách du  
lịch. Ở khu vực Đông Nam Á, mỗi hecta rạn san  
tiến hoá liên tục.  
- Đa dạng về thực vật cho  
phép gia tăng sự biệt hoá của  
động vật.  
Nhân tố lịch sử cũng rất hô thu được từ 231 – 2.700 USD.  
Giá trị của rừng ngập mặn khoảng 600 USD/ha  
quan trọng trong việc xác định  
kiểu phân bố đa dạng về loài.  
Những vùng đất cổ có nhiều loài  
hơn các vùng đất mới. Vì các  
vùng đất cổ có tuổi địa chất già  
hơn nên có nhiều thời gian hơn để  
nhận được các loài phát tán từ các  
nơi khác và các loài thích nghi  
đáp ứng với các điều kiện địa  
phương  
đối với nghề cá. Giá trị dược phẩm của rừng  
ngập mặn là 61 USD/ha/ năm. Giá trị bảo vệ  
lưu vực của rừng ngập mặn và các vùng đất  
ngập nước ước tính khoảng 845 USD/ha/năm ở  
Malaysia, ở Hawai khoảng 1.022 USD/ha/năm.  
Cá là nguồn protein chính cho khoảng 1 tỷ  
người; cá chiếm tối thiểu 20% nguồn protein  
cho khoảng 2,6 tỷ người khác. Câu cá giải trí là  
nguồn kinh tế quan trong ở nhiều nước. Ở Mỹ,  
câu cá giá trí chiếm 21 tỷ, Canada là 5,2 tỷ và  
Úc là 1,3 tỷ USD/năm.  
Rạn san hô và rừng ngập mặn có thể hấp thu  
70-90 năng lượng sóng gió, góp phần bảo vệ  
vùng bờ. Các khu bảo tồn có thể tạo ra lợi ích từ  
hàng hóa và các dịch vụ sinh thái từ 4.400 đến  
5.200 tỷ USD/năm.  
Sự phong phú về loài cũng  
bị ảnh hưởng bởi các biến đổi về  
địa hình, khí hậu và môi trường  
địa phương. Trong các quần xã  
trên cạn, sự giàu có về loài theo  
13  
xu hướng tăng ở các địa hình thấp, tăng theo lượng bức xạ của mặt trời và tăng theo  
lượng mưa. Sự thay đổi lớn về nhiệt độ theo mùa là một nhân tố khác ảnh hưởng nhiều  
đến số lượng loài ở vùng ôn đới.  
Sự phong phú loài cũng có thể lớn hơn ở những nơi có địa hình phức tạp, để tạo  
nên những sự cách ly di truyền, thích ứng địa phương, và sự biệt hoá có thể xảy ra.  
Ngoài ra, sự phong phú loài cũng thường gặp ở các vùng không có mùa hơn là các  
vùng có mùa rõ rệt (WCMC, 1994).  
1.4. Những giá trị của đa dạng sinh học  
1.4.1. Những giá trị trực tiếp  
1.4.1.1. Giá trị tiêu thụ  
Bao gồm các sản phẩm tiêu dùng cho cuộc sống hàng ngày như củi đốt và các loại  
sản phẩm khác cho các mục tiêu sử dụng như tiêu dùng cho gia đình và không xuất hiện  
ở thị trường trong nước và quốc tế.  
Những nghiên cứu về những xã hội truyền thống tại các nước đang phát triển cho  
thấy cộng đồng cư dân bản địa khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên xung quanh như  
củi đun, rau cỏ, hoa quả, thịt cá, dược phẩm và nguyên vật liệu xây dựng. Trên 5.000  
loài được dùng cho mục đích chửa bệnh ở Trung Quốc, Việt Nam và khoảng 2.000  
loài được dùng tại vùng hạ lưu sông Amazon.  
Một trong những nhu cầu không thể thiếu được của con người là protein, nguồn  
này có thể kiếm được bằng săn bắn các loài động vật hoang dã để lấy thịt. Trên toàn  
Thế giới, khoảng 100 triệu tấn cá, chủ yếu là các loài hoang dã bị đánh bắt mỗi năm.  
Phần lớn số cá này được sử dụng ngay tại địa phương.  
1.4.1.2. Giá trị sử dụng cho sản xuất  
Là giá bán cho các sản phẩm thu lượm được từ thiên nhiên trên thị trường trong  
nước và ngoài nước. Sản phẩm này được định giá theo các phương pháp kinh tế tiêu  
chuẩn và giá được định là giá mua tại gốc, thường dưới dạng sơ chế hay nguyên liệu.  
Tại thời điểm hiện nay, gỗ là một trong những sản phẩm bị khai thác nhiều nhất từ  
rừng tự nhiên với giá trị lớn hơn 100 t  đôla mỗi năm. Những sản phẩm lâm nghiệp  
ngoài gỗ còn có động vật hoang dã, hoa quả, nhựa, dầu, mây và các loại cây thuốc.  
Thế giới tự nhiên là nguồn vô tận cung cấp những nguồn loại dược phẩm mới.  
25% các đơn thuốc ở Mỹ có sử dụng các chế phẩm được điều chế từ cây, cỏ,....  
1.4.2. Những giá trị gián tiếp  
Những giá trị gián tiếp là những khía cạnh khác của đa dạng sinh học như các  
quá trình xảy ra trong môi trường và các chức năng của hệ sinh thái là những mối lợi  
không thể so đếm được và nhiều khi là vô giá.  
1.4.2.1. Giá trị sử dụng không cho tiêu thụ  
Khả năng sản xuất của hệ sinh thái: khoảng 40% sức sản xuất của hệ sinh thái  
trên cạn phục vụ cho cuộc sống của con người. Tương tự như vậy, ở những vùng cửa  
sông, dãi ven biển là nơi những thực vật thu  và tảo sinh phát triển mạnh, chúng là  
14  
mắc xích đầu tiên của hàng loạt chuỗi thức ăn tạo thành các hải sản như trai, sò, tôm  
cua,...  
Bảo vệ tài nguyên đất và nước: các quần xã sinh học có vai trò quan trọng trong  
việc bảo vệ rừng đầu nguồn, những hệ sinh thái vùng đệm, phòng chống lũ lụt và hạn  
hán cũng như việc duy trì chất lượng nước.  
Điều hoà khí hậu: quần xã thực vật có vai trò vô cùng quan trọng trong việc điều  
hoà khí hậu địa phương, khí hậu vùng và ngay cả khí hậu toàn cầu.  
Phân huỷ các chất thải: các quần xã sinh học có khả năng phân hu  các chất ô  
nhiễm như kim loại nặng, thuốc trừ sâu và các chất thải sinh hoạt khác đang ngày càng  
gia tăng do các hoạt động của con người.  
Những mối quan hệ giữa các loài: nhiều loài có giá trị được con người khai thác,  
nhưng để tồn tại, các loài này lại phụ thuộc rất nhiều vào các loài hoang dã khác. Nếu  
những loài hoang dã đó mất đi, sẽ dẫn đến việc mất mát cả những loài có giá trị kinh tế  
to lớn.  
Nghỉ ngơi và du lịch sinh thái: mục đích chính của các hoạt động nghỉ ngơi là việc  
hưởng thụ mà không làm ảnh hưởng đến thiên nhiên thông qua những hoạt động như đi  
thám hiểm, chụp ảnh, quan sát chim, thú, câu cá. Du lịch sinh thái là một ngành du lịch  
không khói đang dần dần lớn mạnh tại nhiều nước đang phát triển, nó mang lại khoảng  
12 t  đôla năm trên toàn Thế giới.  
Giá trị giáo dục và khoa học: nhiều sách giáo khoa đã biên soạn, nhiều chương  
trình vô tuyến và phim ảnh đã được xây dựng về chủ đề bảo tồn thiên nhiên với mục  
đích giáo dục và giải trí. Một số lượng lớn các nhà khoa học chuyên ngành và những  
người yêu thích sinh thái học đã tham gia các hoạt động quan sát, tìm hiểu thiên nhiên.  
Các hoạt động này mang lại lợi nhuận kinh tế cho khu vực nơi họ tiến hành nghiên cứu  
khảo sát; nhưng giá trị thực sự không chỉ có vậy mà còn là khả năng nâng cao kiến  
thức, tăng cường tính giáo dục và tăng cường vốn sống cho con người.  
Quan trắc môi trường: những loài đặc biệt nhạy cảm với những chất độc có thể  
trở thành hệ thống chỉ thị báo động rất sớm cho những quan trắc hiện trạng môi  
trường. Một số loài có thể được dùng như những công cụ thay thế máy móc quan trắc  
đắt tiền. Một trong những loài có tính chất chỉ thị cao là địa y sống trên đá hấp thụ  
những hoá chất trong nước mưa và những chất gây ô nhiễm trong không khí. Thành  
phần của quần xã địa y có thể dùng như chỉ thị sinh học về mức độ ô nhiễm không khí.  
Các loài động vật thân mềm như trai sò sống ở các hệ sinh thái thu  sinh có thể là  
những sinh vật chỉ thị hữu hiệu cho quan trắc môi trường. (Richard B. Primack, 1995)  
1.4.2.2. Giá trị lựa chọn  
Giá trị lựa chọn của một loài là tiềm năng của chúng để cung cấp lợi ích kinh tế  
cho xã hội loài người trong tương lai. Những chuyên gia về côn trùng tìm kiếm những  
loài côn trùng có thể sử dụng như các tác nhân phòng trừ sinh học; các nhà vi sinh vật  
học tìm kiếm những loài vi khuẩn có thể trợ giúp cho các quá trình nâng cao năng suất  
15  
sản xuất; các nhà động vật học lựa chọn các loài có thể sản xuất nhiều protein; các cơ  
quan y tế. chăm sóc sức khỏe và các công ty dược phẩm đang có những nổ lực rất lớn  
để tìm kiếm các loài có thể cung cấp những hợp chất phòng chống và chữa bệnh cho  
con người.  
1.4.2.3. Giá trị tồn tại  
Con người có nhu cầu được tham quan nơi sinh sống của một loài đặc biệt và  
được nhìn thấy nó trong thiên nhiên hoang dã bằng chính mắt mình. Các loài như gấu  
trúc, sư tử, voi và rất nhiều loài chim khác lại càng đòi hỏi sự quan tâm đặc biệt của  
con người. Giá trị tồn tại như thế luôn luôn gắn liền với các quần xã sinh học của  
những khu rừng mưa nhiệt đới, các rạn san hô và những khu vực có phong cảnh đẹp.  
1.4.2.4. Những khía cạnh mang tính đạo đức  
Mỗi một loài đều có quyền tồn tại: tất cả các loài đều có quyền tồn tại. Trên cơ  
sở đó, sự tồn tại của các loài phải được bảo đảm mà không cần tính đến sự phong phú  
hay đơn độc hoặc có tầm quan trong đối với con người hay không. Tất cả các loài là  
một phần của tạo hoá và đều có quyền được tồn tại như con người ở trên Trái đất này.  
Con người không những không có quyền làm hại các loài khác mà còn có trách nhiệm  
bảo vệ sự tồn tại của chúng.  
Tất cả các loài đều quan hệ với nhau: giữa các loài có một quan hệ chằng chịt và  
phức tạp, là một phần của các quần xã tự nhiên. Việc mất mát của một loài sẽ có ảnh  
hưởng đến các thành viên khác trong quần xã. Cho nên, chúng ta ý thức được sự cần  
thiết bảo tồn các loài, bảo tồn đa dạng sinh học cũng chính là bảo vệ mình.  
Con người phải sống trong một giới hạn sinh thái như các loài khác: tất cả các loài  
trên Thế giới bị giới hạn bởi khả năng sức tải của môi trường sống. Mỗi một loài sử dụng  
nguồn tài nguyên trong môi trường để tồn tại và số loài sẽ bị suy giảm khi những nguồn  
tài nguyên này bị hu  hoại và cạn kiệt đi. Con người phải hành động rất thận trọng để hạn  
chế những ảnh hưởng có hại gây ra cho môi trường tự nhiên. Những ảnh hưởng tiêu cực  
không chỉ gây hại đối với các loài mà còn gây hại đến chính bản thân con người.  
Con người phải chịu trách nhiệm như những người quản lý Trái đất: nếu như  
chúng ta làm tổn hại đến những nguồn tài nguyên thiên nhiên trên Trái đất và làm cho  
các loài bị đe dọa tuyệt chủng thì những thế hệ tiếp theo sẽ phải trả giá bằng một cuộc  
sống có chất lượng thấp. Do vậy, con người ngày nay phải biết sử dụng các nguồn tài  
nguyên một cách khôn ngoan, tránh gây tác hại cho các loài và các quần xã sinh học.  
Sự tôn trọng cuộc sống con người và sự đa dạng văn hoá phải được đặt ngang  
tầm với sự tôn trong đa dạng sinh học: việc đánh giá cao giá trị đa dạng văn hoá và  
Thế giới tự nhiên làm cho con người biết tôn trọng hơn đối với tất cả sự sống phong  
phú và phức tạp của nó.  
Thiên nhiên có những giá trị tinh thần và thẩm mỹ vượt xa giá trị kinh tế của nó:  
trong lịch sử, những nhà sáng lập ra tôn giáo, những nhà thơ, nhà văn, những nghệ sĩ  
và nhạc sĩ đã thể hiện những cảm hứng do họ nhận được từ thiên nhiên. Đối với nhiều  
16  
người, để có được những cảm hứng như thế họ cần phải sống với một môi trường thiên  
nhiên hoang sơ, chưa bị tác động bởi con người. Hầu như ai cũng hào hứng và thích  
thú khi được chiêm ngưỡng Thế giới nguyên khai hoang dã và những phong cảnh đẹp.  
Nhiều người coi Trái đất như là một sản phẩm kỳ diệu của tạo hoá với những điều linh  
thiêng cần được tôn trọng theo phong cách riêng.  
Đa dạng sinh học là cốt lõi đế xác định nguồn gốc sự sống: hai trong số những  
huyền thoại chính của Thế giới triết học và khoa học là sự sống được hình thành như  
thế nào và tại sao lại có sự đa dạng sinh học như ngày nay. Hàng ngàn chuyên gia sinh  
học tìm hiểu, nghiên cứu những vấn đề này và ngày càng đang tiến dần đến câu trả lời.  
Tuy vậy khi các loài bị tuyệt chủng có nghĩa là mất đi những mắc xích quan trọng và  
huyền thoại đó khó tìm được lời giải.  
1.5. Khái niệm về sinh học bảo tồn  
Trên Trái đất, các quần xã sinh vật trải qua hàng triệu năm phát triển đang bị đe  
dọa bởi các hoạt động của loài người.  
Sự tuyệt chủng hàng loạt ngày nay có thể so sánh với sự tuyệt chủng của các thời  
kỳ địa chất trong quá khứ, trong đó hàng chục ngàn, thậm chí hàng triệu loài bị tiêu  
diệt do các thảm hoạ tự nhiên, có thể là sự va chạm của các thiên thạch, động đất, hoả  
hoạn,...  
Nhiều loài đang bị suy giảm một cách nhanh chóng, thậm chí một số loài đang ở  
ngưỡng cửa của tuyệt chủng mà nguyên nhân chủ yếu là do săn bắt quá mức, do sinh  
cảnh bị phá hủy và do sự xâm nhập của các loài ngoại lai.  
Nguy cơ đối với đa dạng sinh học ngày càng tăng do áp lực dân số tăng lên một  
cách nhanh chóng cũng như các tiến bộ về khoa học kỹ thuật. Tình trạng này lại càng  
trở nên trầm trọng hơn do việc phân phối của cải trên Thế giới không đồng đều, về sự  
phân hóa giàu nghèo giữa các nước phát triển và kém phát triển, đặc biệt đối với các  
nước nhiệt đới, nơi vốn rất phong phú về loài. Hơn thế nữa, sự đe dọa đối với đa dạng  
sinh học do các yếu tố đơn độc chẳng hạn như mưa axit, khai thác gỗ, săn bắn quá  
mức,... cùng kết hợp với nhau làm cho tình trạng ngày càng tồi tệ hơn.  
Như vậy chúng ta có thể thấy rằng, khác với các cuộc tuyệt chủng hàng loạt đã  
xảy ra trong quá khứ, sự tuyệt chủng hàng loạt trong giai đoạn hiện nay có những đặc  
trưng như sau:  
Xảy ra với tốc độ rất nhanh.  
Tác nhân chủ yếu là do con người (không phải bởi các điều kiện tự  
nhiên).  
Liên quan đến việc mất mát, chia cắt và suy thoái nơi ở.  
Không kèm theo sự hình thành loài mới.  
Vào đầu những năm 1970, các nhà khoa học đã nhận thức được tình trạng khủng  
hoảng của đa dạng sinh học, nhưng không có một diễn đàn hay tổ chức trung tâm để  
đối phó với vấn đề đó. Số lượng người suy nghĩ và tiến hành nghiên cứu về vấn đề bảo  
17  
tồn tăng lên thì cần thiết phải có thông tin cho nhau các phương pháp tiếp cận và ý  
tưởng mới. Để có thể thảo luận các mối quan tâm của mình, nhà sinh thái học Micheal  
Soulé đã tổ chức Hội thảo Quốc tế đầu tiên về Bảo tồn Sinh học vào năm 1978. Tại  
cuộc họp này, với sự tham gia của các nhà bảo tồn động vật hoang dã, các nhà quản lý  
động vật, các Viện sĩ,... Soulé đã trình bày một phương pháp tiếp cận liên ngành mới  
để cứu giúp các loài thực vật, động vật khỏi cơn sóng tuyệt chủng hàng loạt do con  
người gây ra. Sau đó cùng với đồng nghiệp là Paul Ehrlich và Jared Diamond, Soulé  
đã phát triển Sinh học bảo tồn thành một ngành khoa học, trong đó kết hợp các kinh  
nghiệm về quản lý động vật hoang dã, lâm nghiệp và sinh học nghề cá với các lý  
thuyết về sinh học quần thể, di truyền, tiến hoá và địa lý sinh học để phát triển những  
phương pháp và tiếp cận mới trong việc bảo tồn loài và các hệ sinh thái.  
Sinh học bảo tồn là một nguyên lý khoa học được xây dựng để bảo vệ các loài,  
thiết lập các khu bảo tồn mới và cũng cố nâng cấp các vườn quốc gia cũng là để xác  
định những loài nào trên Trái đất được bảo tồn cho tương lai.  
Sinh học bảo tồn là một khoa học đa ngành (multi-disciplinary), tập hợp được rất  
nhiều người và nhiều tri thức thuộc các lĩnh vực khác nhau nhằm khắc phục tình trạng  
khủng hoảng đa dạng sinh học hiện nay.  
Sinh học bảo tồn bổ sung các nguyên tắc ứng dụng (applied disciplines) bằng  
cách cung cấp phương pháp tiếp cận có tính chất lý thuyết tổng thể cho việc bảo tồn đa  
dạng sinh học. Sinh học bảo tồn khác với các khoa học khác ở chỗ là bảo tồn một cách  
lâu dài toàn bộ quần xã sinh vật là chính, các yếu tố kinh tế thường là thứ yếu.  
Về nhiều mặt có thể nói sinh học bảo tồn là một khoa học thiết yếu (crisis  
discipline). Các quyết định về vấn đề bảo tồn được đưa ra hàng ngày và thường là với  
những thông tin rất hạn chế do thời gian cấp bách. Sinh học bảo tồn cố gắng đề xuất  
những giải pháp phù hợp để giải quyết các vấn đề nảy sinh trong điều kiện thực tế  
ngày nay.  
Từ các khái niệm trên, có thể thấy rằng sinh học bảo tồn có hai mục tiêu: một là  
tìm hiểu những tác động tiêu cực do hoạt động của con người gây ra đối với các loài,  
quần xã và các hệ sinh thái; hai là để xây dựng các phương pháp tiếp cận để hạn chế  
sự tuyệt diệt của các loài và nếu có thể được, cứu trợ các loài đang bị đe dọa bằng  
cách đưa chúng hội nhập trở lại các hệ sinh thái đang còn phù hợp với chúng.  
18  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 148 trang myanh 21700 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Bảo tồn đa dạng sinh học", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_bao_ton_da_dang_sinh_hoc.pdf