Nghiên cứu ứng dụng công nghệ sinh học phân tử để tách dòng gen mã hóa Enzyme Luciferase

Hóa học & Kỹ thuật môi trường  
NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ SINH HỌC PHÂN TỬ ĐỂ  
TÁCH DÒNG GEN MÃ HÓA ENZYME LUCIFERASE  
Trần Thị Thanh Quỳnh1, Tô Văn Thiệp1, Nguyễn Văn Hoàng1,  
Trần Thị Thu Hường1, Lê Duy Khánh1, Nguyễn Đình Hưng1, Phạm Kiên Cường1*  
Tóm tắt: Đoạn gen mã hóa cho enzyme luciferase từ đom đóm ở Việt Nam đã  
được nhân dòng thành công vào vector pGEMT bằng phương pháp RT-PCR  
(Reverse transcription-Polymerase chain reaction) và ứng dụng các kỹ thuật sinh  
học phân tử khác. Sau đó, plasmid mang đoạn gen này (pGEM-luciferase) đã được  
biến nạp vào tế bào E.coli và giải trình tự. Kết quả cho thấy: đoạn gen có kích  
thước khoảng 1,6 kb, có trình tự tương đồng 100% so với trình tự đã công bố trên  
ngân hàng gen thế giới (X66919.1). Trên trình tự gen này không có vị trí cắt của  
các enzyme giới hạn là HindIII, BamHI, NdeI, XhoI...., do đó chúng tôi đã thiết kế  
thêm trình tự nhận biết của hai enzyme NdeI vào đầu 5' và HindIII vào đầu 3' của  
gen mã hóa luciferase để phục vụ cho mục đích biểu hiện và sản xuất enzyme này  
bằng phương pháp tái tổ hợp.  
Từ khóa: Enzyme luciferase, Đom đóm, Nhân dòng luciferase.  
1. MỞ ĐẦU  
Luciferase là nhóm enzyme có khả năng xúc tác cho phản ứng phát quang sinh học,  
thuộc họ protein dạng aldelynate, có một nhóm oxy-4-oxidoreductase để thực hiện hoạt  
động khử carboxyl hóa và thủy phân ATP. Hiện nay đã có trên 20 loại luciferase khác  
nhau đã được xác định dựa vào nguồn gốc và cơ chế tác dụng của chúng. Trong đó,  
luciferase của đom đóm được tập trung nghiên cứu nhiều nhất [1,2,3].  
Một trong những ứng dụng quan trọng của luciferase là để phát hiện tổng số vi sinh vật  
và kiểm tra mức độ an toàn của lương thực, thực phẩm và phát hiện sớm mức độ nhiễm  
khuẩn của bề mặt vật thể trong chế biến cũng như bảo quản lương thực, thực phẩm và y  
dược, với hệ thống enzym-cơ chất cực nhạy của đom đóm. So với phương pháp truyền  
thống đòi hỏi tốn nhiều thời gian để xử lý mẫu và nuôi cấy đếm khuẩn lạc, thì phương  
pháp phát quang sinh học vượt trội hơn hẳn về mặt thời gian và độ chính xác. Nhiều hãng  
sản xuất kít trên thế giới đã phát triển thành công kít phát hiện tổng số vi sinh vật bằng  
phương pháp quang sinh học (Clean-Trace, Kikoman, Bio Thema...)[3,7]. Trên thế giới, đã  
có nhiều công trình nghiên cứu nhân dòng và biểu hiện thành công đoạn gen mã hóa cho  
enzyme luciferase của đom đóm [4,8,9] và hệ thống enzym luciferase đã trở thành một  
công cụ đa năng với các ứng dụng khác nhau [5,6,7] bao gồm: thử nghiệm gen chỉ thị  
trong cả vi khuẩn và các dòng tế bào có nhân điển hình; phát hiện sự có mặt của các vi  
sinh vật và các hợp chất độc hại, tương tác của vi khuẩn/virut với tế bào chủ thông qua  
hình ảnh bên trong cơ thể, phân tích biểu hiện gen ở các cơ thể động vật sống và hình ảnh  
khối u...Ở Việt Nam, đã có một số công trình nghiên cứu về enzyme luciferase [1,2,3], tuy  
nhiên các công bố về ứng dụng của phương pháp phát quang sinh học nói chung và  
luciferase nói riêng còn hạn chế và chưa có nhiều nghiên cứu chuyên sâu về enzyme này.  
Đặc biệt là việc ứng dụng enzyme luciferase trong các lĩnh vực phục vụ cho quân đội như  
trong trinh sát phát hiện chất độc hóa học, quan trắc, kiểm soát các chất độc trong lương  
thực, thực phẩm và môi trường đối với lực lượng tác chiến trong điều kiện đặc biệt... còn  
chưa được quan tâm nghiên cứu.  
Mặt khác enzyme luciferase thông thường được thu nhận từ các sinh vật có khả năng  
phát sáng trong tự nhiên như đom đóm, sứa... Tuy nhiên, việc tách chiết và thu nhận  
enzyme từ các nguồn có sẵn trong tự nhiên là rất khó khăn do không chủ động nguồn  
140  
T.T.T. Quỳnh, T.V. Thiệp, …, “Nghiên cứu ứng dụng công nghệ… enzyme luciferase.”  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
nguyên liệu và đạt hiệu quả thu hồi thấp. Vì vậy, tổng hợp được gen mã hóa cho enzyme  
luciferase, từ đó hướng tới việc ứng dụng và phát triển sản xuất enzyme luciferase bằng  
công nghệ tái tổ hợp là rất cần thiết, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn. Chính vì thế, trong  
nghiên cứu này chúng tôi đã tiến hành nhân dòng và giải trình tự đoạn gen mã hóa cho  
enzyme luciferase để tạo tiền đề, phục vụ cho việc nghiên cứu sản xuất enyme luciferase  
theo con đường tái tổ hợp  
2. NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
2.1. Nguyên liệu và hóa chất  
- Đom đóm thu được ở Việt Nam (Nghệ An, 19/2/2015)  
- Hóa chất: Các hóa chất thường dùng trong nghiên cứu sinh học phân tử của hãng  
Sigma, Mecrk, Thermo Scientific...  
2.2. Thiết bị  
Máy PCR và thiết bị điện di ngang của hãng Bio-rad (Mỹ), hệ thống chụp ảnh điện di  
Mega bio print của hãng Fisher biotech (Úc), máy ly tâm lạnh của hãng Orto alresa (Tây  
Ban Nha).  
2.3. Phương pháp nghiên cứu  
2.3.1. Phương pháp tách chiết RNA tổng số  
RNA tổng số được tách chiết từ đom đóm theo bộ kit của hãng ANABIO. Nghiền 30  
mg phần đuôi của đom đóm trong nitơ lỏng. Sau đó, bổ sung 400 µl Lysis buffer và 4 µl β-  
mecaptoethanol bằng máy vortex trong 10 giây và ủ ở nhiệt độ phòng 2 phút. Tiếp đến, bổ  
sung 200 µl isopropanol và đảo ngược 5-6 lần. Dịch nổi có chứa RNA tổng số sẽ được thu  
nhận bằng cách ly tâm ở tốc độ 12.000 vòng/phút trong 10 phút, ở nhiệt độ phòng và được  
chuyển sang cột lọc SCO1 (Anapure filter spin column). Qua 2 bước rửa cột bằng đệm  
Washing buffer, ARN tổng số được rửa chiết bằng 50 µl Elution buffer.  
2.3.2. Phương pháp tổng hợp cDNA  
RNA tổng số tiếp tục được sử dụng để tổng hợp cDNA bằng enzyme phiên mã ngược  
M-MLV Reverse Transcriptase của hãng Enzynomic và mồi hexamer.  
2.3.3. Phương pháp PCR nhân bản gen luciferase  
Sau khi đã tách chiết thành công RNA tổng số từ đom đóm và tổng hợp được cDNA,  
đoạn gen luciferase được chúng tôi nhân bản dựa trên cDNA tổng hợp được bằng phương  
pháp PCR với cặp mồi đặc hiệu được thiết kế dựa trên trình tự gen luciferase của đom đóm  
đã được công bố trên ngân hàng gen thế giới (X66919.1). Cặp mồi có trình tự như sau:  
Mồi Luciferase Fw: 5’ AACATATGGAAAACATGGAGAACGA 3’  
Mồi Luciferase Rv: 5’ CCAAGCTTTACATCTTAGCAACTG 3’  
Chúng tôi đã thiết kế thêm trình tự nhận biết của hai enzyme NdeI vào đầu 5' và  
HindIII vào đầu 3' của gen mã hóa luciferase để phục vụ cho mục đích biểu hiện và sản  
xuất enzyme này bằng phương pháp tái tổ hợp.  
Chế độ nhiệt của phản ứng PCR sử dụng mồi luciferase như sau:  
94oC : 30 giây  
54oC : 45 giây  
x 35 chu kỳ  
72oC : 2 phút 30 giây  
2.3.4. Phương pháp nhân dòng gen: Sản phẩm PCR được nhân dòng trực tiếp vào vector  
pGEM-T dạng mạch thẳng có đầu dính T (theo kit pGEM T easy của Promega). Sản phẩm  
141  
Tạp chí Nghiên cứu KH&CN quân sự, Số 41, 02 - 2016  
Hóa học & Kỹ thuật môi trường  
nhân dòng được biến nạp vào tế bào khả biến E. coli DH5, được chọn lọc xanh trắng  
trên môi trường nuôi cấy chứa X-gal, IPTG và ampicillin. Plasmid tái tổ hợp được tách ra  
từ các khuẩn lạc trắng và kiểm tra sự có mặt của gen luciferase bằng PCR với các cặp mồi  
của vector và mồi đặc hiệu của gen mã hóa.  
2.3.5. Phương pháp tách chiết plasmid: Plasmid tái tổ hợp pGEM-luciferase được tách  
chiết từ các tế bào E. coli bằng bộ kit của hãng Qiagen.  
2.3.6. Phương pháp giải trình tự và phân tích kết quả: Các sản phẩm PCR mong muốn  
được đọc trình tự trực tiếp theo phương pháp Sanger trên máy giải trình tự tự động CEQ  
8000 (Beckman Counter). Gen luciferase sau khi đọc trình tự sẽ được so sánh với trình tự  
gen tương ứng trên ngân hàng Gen quốc tế bằng phần mềm BLAST của NCBI.  
2.3.7. Phương pháp phân tích vị trí cắt của enzyme giới hạn: Trình tự gen luciferase được  
phân tích bằng phần mềm ApE để xác định các vị trí cắt của enzyme giới hạn.  
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN  
3.1. Tách chiết RNA tổng số từ đom đóm và tổng hợp cDNA  
RNA tổng số được tách chiết từ đom đóm bằng bộ kit của hãng ANABIO. Nồng độ  
RNA thu được được tính toán dựa trên kết quả đo quang phổ ở bước sóng 230 nm là 11,7  
ng/µl. Tiếp đến, RNA tổng số được sử dụng để tổng hợp cDNA bằng enzyme phiên mã  
ngược M-MLV Reverse Transcriptase của hãng Enzynomic và mồi hexamer.  
3.2. Nhân bản gen mã hóa luciferase từ đom đóm  
Đoạn gen luciferase được chúng tôi nhân bản dựa trên cDNA tổng hợp được bằng  
phương pháp PCR với cặp mồi đặc hiệu được thiết kế dựa trên trình tự gen luciferase của  
đom đóm đã được công bố trên ngân hàng gen thế giới (X66919.1).  
Sau khi PCR và kiểm tra bằng điện di trên gel agarose 1% , thu được 1 băng DNA có  
kích thước khoảng 1,6 kb. Trong khi đó, mẫu đối chứng âm (không có khuôn DNA) thì  
không xuất hiện băng nào (Hình 1). Kích thước đoạn gen thu được tương đương với kích  
thước của đoạn gen luciferase (X66919.1) đã được công bố trên ngân hàng gen thế giới.  
Kết quả này cho phép bước đầu khẳng định đã nhân bản thành công đoạn gen mã hóa  
cho luciferase từ đom đóm.  
3.3. Nhân dòng gen mã hóa luciferase từ đom đóm vào vector pGEM T  
Sản phẩm PCR đoạn gen luciferase (1,6 kp) từ đom đóm được gắn trực tiếp vào vector  
nhân dòng pGEM-T, biến nạp vào tế bào E. coli chủng DH5α và các tế bào biến nạp được  
nuôi cấy trên môi trường LB chứa ampicilin 50 g/ml với sự cảm ứng của IPTG (1 mM)  
và cơ chất X-gal. Tiếp theo, chọn ngẫu nhiên 3 khuẩn lạc trắng để kiểm tra sự có mặt của  
đoạn gen nhân dòng bằng phương pháp PCR sử dụng cặp mồi pGEM.Fw và pGEM.Rv  
được thiết kế đặc hiệu cho vector pGEMT. Theo tính toán lý thuyết, nếu nếu vector có  
mang đoạn gen luciferase thì sản phẩm PCR thu được sẽ có kích thước khoảng 1,9 kb, bao  
gồm kích thước của đoạn gen luciferase khoảng 1,6 kb cộng với kích thước đoạn DNA  
nằm giữa 2 mồi trên vector pGEMT là 0,3 kb.  
Kết quả điện di trên gel agarose 1% sản phẩm PCR sử dụng DNA từ 3 khuẩn lạc trắng  
làm khuôn cho thấy các sản phẩm PCR từ khuẩn lạc trắng đều cho băng DNA có kích  
thước khoảng 1,9 kb (các đường chạy 1-3).  
Khi sử dụng PCR với cặp mồi đặc hiệu Luciferase Fw/Rv (Hình 2) cho thấy, sản phẩm  
PCR từ khuẩn lạc trắng cho băng ADN kích thước khoảng 1,6 kb tương đương với kích  
thước luciferase (đường chạy 7-9). Như vậy, đã thu được các khuẩn lạc mang plasmid tái  
tổ hợp vector pGEM có chứa đoạn gen nhân bản có kích thước khoảng 1,6 kb đặc hiệu cho  
142  
T.T.T. Quỳnh, T.V. Thiệp, …, “Nghiên cứu ứng dụng công nghệ… enzyme luciferase.”  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
luciferase. Vì vậy, có thể kết luận đã nhân dòng thành công đoạn gen mã hóa luciferase  
vào vector pGEMT.  
Hình 1. Kết quả điện di sản phẩm PCR  
Hình 2. Kết quả điện di sản phẩm PCR  
nhân bản đoạn gen luciferase từ đom đóm. khuẩn lạc kiểm tra vector pGEM-luciferase.  
1: Thang chuẩn DNA 1 kb  
2: Mẫu đối chứng (-), không có DNA  
1-3: Khuẩn lạc PCR với mồi pGEM Fw/Rv  
4: Đối chứng âm với mồi pGEM Fw/Rv  
3: Sản phẩm PCR của mẫu cDNA tổng hợp 5: Thang chuẩn DNA 1kb  
từ RNA tổng số tách từ đom đóm  
6: Đối chứng âm với mồi Luciferase Fw/Rv  
7-9: Khuẩn lạc PCR với mồi Luciferase  
Fw/Rv  
3.4. Tách chiết plasmid pGEM- luciferase  
(a)  
(b)  
Hình 3. Kết quả điện di sản phẩm tách plasmid (a)  
và PCR kiểm tra plasmid pGEM- AChE (b)  
1’: Thang chuẩn DNA 1kb  
2’: Plasmid pGEM- luciferase  
1: Plasmid pGEM- luciferase với mồi pGEM Fw/Rv  
2: Đối chứng âm với mồi pGEM Fw/Rv  
3: Thang chuẩn DNA 1kb  
4: Đối chứng âm với mồi Luciferase Fw/Rv  
5: Plasmid pGEM- luciferase với mồi Luciferase  
Fw/Rv  
Một khuẩn lạc trắng mang plasmid pGEM-luiciferase được nuôi lắc trong 5-10 ml LB  
lỏng, bổ sung kháng sinh ampicillin với nồng độ 50 µg/ml, ở 37oC từ 8-12 tiếng. Sau đó,  
143  
Tạp chí Nghiên cứu KH&CN quân sự, Số 41, 02 - 2016  
Hóa học & Kỹ thuật môi trường  
sinh khối tế bào sẽ được thu nhận và được dùng để tách plasmid bằng bộ kit của hãng  
Qiagen (Đức). Plasmid pGEM-luciferase tinh sạch (Hình 3.a) sẽ được sử dụng làm khuôn  
để tiến hành PCR bằng cặp 2 mồi đặc hiệu của vector pGEM T và của đoạn gen luciferase.  
Kết quả được thể hiện ở hình 3b.  
Như vậy, có thể khẳng định đã tách chiết thành công plasmid pGEM-luciferase.  
Plasmid ở dạng tinh sạch sạch này sẽ được sử dụng cho các nghiên cứu tiếp theo.  
3.5. Giải trình tự gen mã hóa luciferase từ đom đóm  
Plasmid tách từ khuẩn lạc trắng được tiến hành xác định trình tự đoạn gen mã hóa  
luciferase. Kết quả phân tích trình tự nucleotide của gen luciferase trong nghiên cứu được  
so sánh với trình tự gen này đã được công bố trên ngân hàng gen thế giới (X66919.1) được  
thể hiện trên Hình 4.  
Từ hình 4 cho thấy, trình tự luciferase thu được trong nghiên cứu có khung đọc mở  
(ORF) là 1647 bp, có sự tương đồng 100% so với trình tự luciferase của loài đom đóm  
Luciola lateralis đã được công bố trên thế giới. Dựa vào kết quả phân tích bằng phần mềm  
ApE, cho thấy trên trình tự gen luciferase của đom đóm ở Việt Nam không có vị trí cắt của  
các enzyme giới hạn là HindIII, BamHI, NdeI, XhoI...  
144  
T.T.T. Quỳnh, T.V. Thiệp, …, “Nghiên cứu ứng dụng công nghệ… enzyme luciferase.”  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
Hình 4. So sánh trình tự gen luciferase trong nghiên cứu và trình tự gen luciferase của  
đom đóm đã được công bố trên thế giới (X66919.1).  
Luciola lateralis là một loài đom đóm phổ biến ở Nhật Bản, kết quả so sánh chỉ ra rằng  
trình tự acid amin suy diễn của enzyme luciferase của loài L. lateralis tương đồng 94% so  
với trình tự của loài Luciola cruciata (một loài đom đóm phổ biến khác ở Nhật Bản) và chỉ  
tương đồng 67% so với loài Photinus pyralis (loài đom đóm phổ biến ở Bắc Mỹ). Đoạn  
gen mã hóa enzyme luciferase của loài L. lateralis đã được nhân dòng và biểu hiện thành  
công ở E. coli, với trình tự của protein suy diễn gồm 548 acid amin và có khối lượng phân  
tử khoảng 60,312 kDa (Tatsumi, 1992). Chính vì vậy, trình tự gen thu được trong nghiên  
cứu này hoàn toàn phù hợp cho việc nghiên cứu sản xuất enzyme luciferase bẳng phương  
pháp tái tổ hợp.  
4. KẾT LUẬN  
Đã nhân bản thành công đoạn gen mã hóa cho enzyme luciferase, đoạn gen có kích  
thước khoảng 1,6 kb từ đom đóm ở Việt Nam bằng phương pháp RT-PCR. Đồng thời  
nhân dòng thành công đoạn gen này vào vector pGEM T.  
Trình tự đoạn gen mã hóa cho luciferase từ đom đóm ở Việt Nam tương đồng 100%  
so với trình tự gen luciferase đã được công bố trên ngân hàng gen thế giới (X66919.1),  
trình tự này không có vị trí cắt của các enzyme giới hạn là HindIII, BamHI, NdeI,  
XhoI.... và đã được thiết kế thêm trình tự nhận biết của hai enzyme giới hạn NdeI vào  
đầu 5’ và XhoI vào đầu 3’.  
Nhân bản thành công đoạn gen mã hóa enzyme luciferase là cơ sở phục vụ cho mục  
đích biểu hiện và sản xuất enzyme này bằng phương pháp tái tổ hợp.  
145  
Tạp chí Nghiên cứu KH&CN quân sự, Số 41, 02 - 2016  
Hóa học & Kỹ thuật môi trường  
Lời cảm ơn: Công trình này được hoàn thành với sự hỗ trợ kinh phí từ đề tài: "Nghiên cứu  
ứng dụng công nghệ sinh học phân tử để tách dòng gen mã hóa enzyme luciferase".  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1]. Trần Linh Phước và cộng sự, “Tạo dòng sản xuất luciferase tái tổ hợp dùng cho phản  
ứng phát sáng sinh học invitro”, Tạp chí Phát triển khoa học và công nghệ, Đại học  
Quốc Gia Tp Hồ Chí Minh (2002), tập 5, số 7.  
[2]. Phạm Hồ Trương và cộng sự, “Nghiên cứu sản xuất bộ Kit vi sinh xác định Arsen bằng  
máy đo huỳnh quang ABOATOX 1253”, đề tài cấp Trung tâm KHKT&CNQS (2006).  
[3]. Ngô Ngọc Trung, “Nghiên cứu khả năng chế tạo thuốc thử phát hiện nhanh sự đột biến  
số lượng vi sinh vật độc hại trong mẫu thực phẩm”, để tài Viện Hóa học-Vật liệu (2012).  
[4]. Emamzadeh  
AR, Hosseinkhani  
S, Sadeghizadeh  
M, Nikkhah  
M, Chaichi  
MJ, Mortazavi M., “cDNA cloning, expression and homology modeling of a luciferase  
from the firefly Lampyroidea maculata”,  
J
Biochem Mol Biol. (2006 Sep)  
30;39(5):578-85.  
[5]. Frundzhyan V. & Ugarova N., “Bioluminescent assay of total bacterial contamination  
of drinking water”, Luminescence (2007), 22(3); 241-244.  
[6]. Lyons S.K., Meuwissen R., Krimpenfort P., Berns A., “The generation of a conditional  
reporter that enables bioluminescence imaging of Cre/loxP-dependent tumorigenesis in  
mice”, Cancer Res. (2003 Nov) 63 (21): 7042–6.  
[7]. Miller J. N., Nawawi, M. B. & Burgess C. , “Detection of bacterial ATP by reversed  
flow-injection analysis with luminescence detection”, Anal.Che. Acta (1992), 266, 339.  
[8]. Tasumi H., Kajiyama M., Nakano E., “Molecular cloning and expression in  
Escherichia coli of a cDNA clone encoding luciferase of a firefly, Luiciola lateralis”,  
Biochim Biophys Acta. (1992 Jun) 15;1131(2):161-5.  
[9]. Tatsumi H1, Masuda T, Kajiyama N, Nakano E, “Luciferase cDNA from Japanese  
firefly Luciola cruciata: cloning, structure and expession in E.coli”, J Biolumin  
Chemilumin. (1989 Apr-Jun);3(2):75-8.  
ABSTRACT  
Research application of molecular biotechnology to  
clone the luciferase coding gene  
In this research, by RT-PCR method and molecular biology techniques, the  
luciferase complete coding sequence from firefly in Viet Nam was cloned and  
characterized. The cDNA was transformed into the E. coli and sequenced. The  
result showed: the gene fragment size about 1.6 kb and has a sequence shares 100%  
identity with the sequence that was published on GenBank (X66919.1). There is no  
recognition site of restriction enzymes as HinIII, Bam HI, NdeI, XhoI,... on this  
gene. So we designed additional recognition sites for NdeI at the 5' end and for  
HindIII at the 3' end of the luciferase coding sequence, that is important basic to  
express and produce recombinant luciferase protein.  
Keywords: Luciferase, Firefly, Cloned luciferase.  
Nhận bài ngày 22 tháng 10 năm 2015  
Hoàn thiện ngày 17 tháng 12 năm 2015  
Chấp nhận đăng ngày 22 tháng 02 năm 2016  
Địa chỉ: Viện Công nghệ mới/Viện KH-CNQS;  
*Email: [email protected].  
146  
T.T.T. Quỳnh, T.V. Thiệp, …, “Nghiên cứu ứng dụng công nghệ… enzyme luciferase.”  
pdf 7 trang Mãnh Khiết 15/01/2024 12780 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu ứng dụng công nghệ sinh học phân tử để tách dòng gen mã hóa Enzyme Luciferase", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_ung_dung_cong_nghe_sinh_hoc_phan_tu_de_tach_dong.pdf