Nghiên cứu các phương pháp điều khiển khẩn cấp sa thải phụ tải trong hệ thống điện

NGHIÊN CỨU CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU KHIỂN KHẨN CẤP  
SA THẢI PHỤ TẢI TRONG HỆ THỐNG ĐIỆN  
RESEARCH METHODS OF EMERGENCY LOAD SHEDDING IN  
POWER SYSTEMS  
Quyền Huy Ánh(1a), Nguyễn Thành An(2b)  
(1) Trường ĐHSPKT Tp.HCM  
(2)  
Học viên cao học Trường ĐHSPKTTp.HCM  
TÓM TẮT  
Bài báo đề xuất phương pháp sa thải phụ tải sử dụng mạng nơ-ron để nhận dạng sự cố mất máy  
phát, xác định lượng công suất phụ tải cần sa thải và phân bố lượng công suất cắt tại các thanh  
góp tải có xét đến yếu tố điều khiển sơ cấp nhằm đưa tần số của hệ thống điện phục hồi về phạm  
vi cho phép. Điểm mới của bài báo là đề xuất công thức xác định lượng tải sa thải tối thiểu cần  
sa thải khi có sự cố mất các máy phát và huy động lượng công suất phát dự phòng của các máy  
phát còn lại nhằm khôi phục tần số hệ thống. Hiệu quả của phương pháp sa thải phụ tải đề xuất  
được kiểm nghiệm thông qua mô phỏng cho hệ thống điện chuẩn 37 bus 9 máy phát với mức tải  
thay đổi từ 80-100%. Kết quả cho thấy mặc dù có thời gian phục hồi lâu hơn (13,5 so với 6,4s)  
nhưng phương pháp sa thải phụ tải đề xuất có lượng tải cần sa thải thấp hơn (46,3MW so với  
72,3MW) so với phương pháp sa thải phụ tải dựa trên relay sa thải dưới tần.  
Từ khóa: Mạng no-ron, Điều khiển sơ cấp, Hệ thống điện.  
ABSTRACT  
The thesis proposes a method of load shedding using neural networks to identify the generator  
outage, calculate the amount of load shedding and distribute the amount load shedding at the  
load buses considering the primary control to restore the frequency of the power system back to  
allowed value.The new of thesis proposed the formula for determining the minimum amount of  
load shedding in case of the generators outage and mobilization of the reserve power of the  
remaining generators to restore the power system frequency.The effectiveness of the proposed  
load shedding method was tested through simulations for 37 bus 9 generators standard power  
system with the load level from 80 to 100%. Results showed that although the recovery time of  
the proposed method was longer (13.5 seconds vs 6.4 seconds) than the traditional method, it had  
an amount of load shedding lower (46.3 MW versus 72.3 MW) than the traditional load shedding  
method using the under frequency load shedding relay.  
Keywords: Network neural, Primary Control, Power System.  
dụng.  
1. GIỚI THIỆU  
Hiện nay đất nước ta đang trong thời kỳ đổi  
mới, thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa cùng  
với sự phát triển của nhiều lĩnh vực khác nhau nên  
nhu cầu sử dụng điện ngày càng tăng. Vì vậy,  
công tác vận hành hệ thống điện phải đảm bảo liên  
tục cấp điện và chất lượng điện năng là yêu cầu  
hàng đầu của ngành điện. Khi tất cả các điều khiển  
sẵn có không thể duy trì hệ thống hoạt động bình  
thường dưới tác động các yếu tố bất thường như:  
mất máy phát, ngắn mạch, đứt dây, tăng tải đột  
ngột gây sụt tần số và điện áp ngoài phạm vi cho  
phép thì phương pháp sa thải phụ tải phải được sử  
2. LÝ THUYẾT ĐIỀU KHIỂN TẦN SỐ  
SƠ CẤP.  
Lúc đầu khi phụ tải tăng đột ngột, tần số  
chưa kịp biến đổi nên thiết bị tự động điều  
chỉnh tốc độ và tần số chưa tác động. Công  
suất tăng sẽ do mỗi tổ máy phát gánh một  
phần, nhiều ít tùy theo sức điện động và góc  
pha của chúng và các điện kháng trong mạng.  
Lúc đó công suất của turbine vẫn chưa tăng do  
các máy phát bị hãm và tần số trong hệ thống  
giảm xuống.  
Trang 1/8  
Khi độ lệch của tần số vượt quá vùng không dạng trạng thái hệ thống điện và đề xuất chiến  
nhạy của thiết bị tự động điều chỉnh tốc độ của lược sa thải phụ tải thích hợp.  
turbine (khoảng 0,05% fđm đối với turbine hơi  
Dữ liệu ngõ vào Input gồm 5 thông số đặc  
và 0,02% fđm đối với turbine nước) thì các bộ  
trưng của một máy phát điện gồm: PG, PLoad,  
điều chỉnh tốc độ bắt đầu làm việc. Nhưng vì  
Pbranch, Vbus, Fbus, tương ứng với 165 biến.  
nó có quán tính nên tác động chậm trễ khoảng  
Dữ liệu ngõ ra là máy phát nào bị sự cố và  
lượng công suất cần sa thải tại các nút phụ tải.  
(1÷2 sec), sau khi tác động lượng hơi nước vào  
turbine tăng và tần số bắt đầu tăngKhi độ lệch  
của tần số vượt quá vùng không nhạy của thiết  
bị tự động điều chỉnh tần số (khoảng 0,02%)  
thì nó bắt đầu tác động và làm dịch chuyển  
đường đặc tính điều chỉnh tốc độ của turbine.  
Tốc độ dịch chuyển tương đối chậm, quá trình  
điều chỉnh chiếm khoảng (30÷40 sec) mới  
phục hồi được tần số định mức.  
Mạng nơ-ron sử dụng thuật toán lan truyền  
ngược để huấn luyện mạng nhằm đạt được tốc  
độ tính toán và hiệu suất nhận dạng theo yêu  
cầu.  
Vì ANN cần được huấn luyện trên cơ sở dữ  
liệu ban đầu, do đó cần tiến hành xây dựng tập  
học bao gồm các tình huống sự cố máy phát và  
các mức tải khác nhau. Các biến đại diện cho  
từng sự cố là: độ thay đổi công suất phát, độ  
thay đổi công suất tải, độ sụt áp tại các bus, độ  
thay đổi công suất phân bố trên đường dây, độ  
thay đổi tần số tại các bus. Trong quá trình mô  
phỏng cũng đã xét tới nhiều mức tải khác nhau  
để bao quát các chế độ vận hành. Đối với mỗi  
mức tải, trước khi mô phỏng sự cố và phân  
tích dữ liệu, đã thực hiện kích hoạt các hệ  
thống điều chỉnh điện áp, điều chỉnh kích từ,  
điều chỉnh tần số, giới hạn công suất phát,…  
và thực hiện chạy phân bố công suất tối ưu.  
Các máy phát điện thường được cài đặt tần  
số bằng với tần số định mức. Khi mang tải,  
công suất của tải sẽ tạo ra moment chống lại  
moment quay của động cơ sơ cấp. Do đó, máy  
phát sẽ có khuynh hướng bị ghì lại, hay bị hãm  
lại, làm tốc độ có khuynh hướng giảm xuống.  
Vì thế, tần số cũng sẽ có khuynh hướng giảm  
theo. Để chống lại độ suy giảm tần số khi có  
mang tải, tất cả các động cơ sơ cấp kéo máy  
phát đều được trang bị một bộ phận gọi là bộ  
điều tốc (Governor).  
Các bộ điều tốc này sẽ thu nhận tín hiệu tần  
số (hoặc tốc độ máy) và trị số cài đặt ban đầu.  
Nếu tần số thấp hơn trị số cài đặt, nó sẽ tăng  
nguồn năng lượng đưa đến động cơ sơ cấp, để  
tăng tốc độ máy lên đến định mức. Ngược lại,  
nếu tần số tăng cao hơn tần số đặt, nó sẽ giảm  
bớt năng lượng.  
Trong quá trình xây dựng mạng nơ-ron, giai  
đoạn tạo cơ sở dữ liệu sự cố được xem là quan  
trọng nhất và mất nhiều thời gian nhất trong  
toàn bộ quá trình. Cơ sở dữ liệu đáng tin cậy  
không chỉ xác định độ chính xác nhận dạng,  
mà còn có tác động đáng kể đến sự làm việc  
tin cậy của mô hình.  
3. MẠNG NƠ-RON SA THẢI.  
Có hai yếu tố cần quan tâm trong quá trình  
xây dựng cơ sở dữ liệu:  
Cấu trúc mạng nơ-ron sa thải đề xuất trình  
bày ở Hình 1.  
Cơ sở dữ liệu phải bao trùm các trạng  
thái vận hành và phải biểu thị được một cách  
đầy đủ những kịch bản sự cố khác nhau.  
Cơ sở dữ liệu được tạo ra phải đảm bảo  
tính khách quan đối với các thông số của hệ  
thống điện cần kiểm tra.  
4. QUI TRÌNH THỰC HIỆN  
Bước 1: Thực hiện mô phỏng offline các  
trường hợp sự cố máy phát và thu thập dữ liệu  
tương ứng với các sự cố này. Tập dữ liệu gồm  
có 2 tập: Tập sự cố mà tần số các bus vẫn nằm  
trong phạm vi cho phép và tập sự cố mà tần số  
các bus nằm ngoài phạm vi cho phép.  
Hình 1: Cấu trúc mạng nơ-ron sa thải phụ  
tải.  
Bước 2: Đối với các trường hợp sự cố mà  
tần số của các bus nằm ngoài phạm vi cho  
Mạng nơ-ron ANN được sử dụng để nhận  
Trang 2/8  
phép thì thực hiện tính toán lượng công suất sa  
thải tối thiểu 퐏퐋퐒퐦퐢퐧  
.
Bước 3: Sau khi tính toán lượng công suất  
sa thải tối thiểu, thực hiện tính toán lượng  
công suất cần sa thải tại các nút (bus) tải hay  
phân bố lượng công suất sa thải 푷푳푺풊  
.
Bước 4: Huấn luyện mạng nơ-ron và kiểm  
tra độ chính xác nhận dạng.  
4.1 Mô phỏng offline thu thập dữ liệu  
Cho Open lần lượt các máy phát rồi thu  
thập dữ liệu cho 2 trường hợp: trường hợp tần  
số hệ thống vẫn nằm trong khoảng cho phép  
nên không sa thải phụ tải và trường hợp tần số  
hệ thống nằm ngoài khoảng cho phép cần sa  
thải phụ tải.  
Hình 3: Mô phỏng giả lập sự cố máy phát 28  
(ELM345#2) ở mức tải 81%.  
Tiến hành chạy quá độ từ mục Add Ons →  
Transient Stability. Lúc này sẽ tạo bảng giả lập  
trong quá trình quá độ, trình bày ở Hình 2.  
Kết quả giả lập sự cố máy phát 28  
(ELM345#2) tần số hệ thống là 59,515 nhỏ  
hơn phạm vi tần số cho phép là 59,7 (Hình 4)  
Hình 2: Giao diện mô phỏng Transient  
Stability trong phần mềm PowerWorld.  
Giả lập sự cố máy phát bằng cách Insert →  
Generator → chọn máy phát 28 (ELM345#2)  
chỉnh mục Description Type chọn Open. Ở  
đây giả lập sự cố máy phát 28, ở mức tải là  
81%, như Hình 3.  
Hình 4: Quan hệ tần số theo t khi sự cố  
máy phát 28 (ELM345#2), mức tải 81%.  
4.2 Tính toán lượng công suất sa thải phụ  
tải tối thiểu  
Tính toán lượng công suất sa thải phụ tải tối  
thiểu cho tất cả các trường hợp sự cố máy phát  
có sa thải phụ tải. Điển hình khi đột ngột mất  
máy phát 28 (ELM345#2) có công suất  
150MW ở mức tải 81%. Ngay sau khi mất  
máy phát 28 (ELM345#2) thì các bộ điều tốc  
của các máy phát còn lại sẽ tăng công suất cơ  
lên dựa trên nguyên lý điều chỉnh tần số sơ cấp  
của máy phát điện. Các bộ điều tốc này sẽ thu  
nhận tín hiệu tần số so sánh với trị số cài đặt  
ban đầu: Nếu tần số thấp hơn trị số cài đặt, nó  
sẽ tăng công suất cơ cho động cơ sơ cấp, để  
tăng tốc độ máy lên đến định mức và ngược  
Trang 3/8  
WILLOW69  
lại.  
Máy phát 28 ELM345#2 bị sự cố nên:  
Bus  
SPRUCE69  
-0.0012 0.008333  
-0.0012 0.008333  
-0.0016 0.008333  
-0.0015 0.008333  
-0.0012 0.008333  
-0.0014 0.008333  
-0.0014 0.008333  
-0.0011 0.008333  
-0.0013 0.008333  
-0.14401 1.629325513  
-0.14401 1.629325513  
-0.19201 2.172434018  
-0.18001 2.036656891  
-0.14401 1.629325513  
-0.16801 1.900879765  
-0.16801 1.900879765  
-0.13201 1.493548387  
-0.15601 1.765102639  
훽 = 훽1 + 훽2 + 훽4 + 훽5 + 훽6 + 훽7 + 훽8 + 훽9  
훽 = 8 + 36 + 50 + 32 + 11.4 + 17 + 30 +  
23 = 207.4  
Bus  
MAPLE69  
Bus  
TULIP138  
Bus  
LEMON69  
Bus  
CHERRY69  
Bus  
MAPLE69  
Bus  
PEACH69  
Bus  
CEDAR69  
Bus  
BIRCH69  
Độ suy giảm tần số Δf áp dụng biểu thức:  
∆f = − (훽1) ∆푝푚  
(1)  
1
= − (207.4) × 1.5 = −0.007233 pu  
∆f = −0.007233 × 60 =  
−0.434Hz → f = 60 − 0.434 = 59.566Hz  
f < 59.7Hz.  
Kết luận: giá trị tần số nằm ngoài khoảng  
giá trị cho phép, vì vậy cần sa thải phụ tải.  
Áp dụng công thức (2) tính lượng công suất  
sa thải cần thiết để tần số hệ thống điện phục  
hồi về giá trị cho phép:  
Bus  
PEAR138  
-0.0011 0.008333  
-0.0011 0.008333  
-0.13201 1.493548387  
-0.13201 1.493548387  
Bus PEAR69  
Bus  
LOCUST69  
Bus  
PLUM138  
-0.0012 0.008333  
-0.0018 0.008333  
-0.14401 1.629325513  
푃퐿푆푚푖푛 = [∆푝푚 − (∆푓 × 훽)] × 100 (2)  
푐푝  
-0.21601  
2.44398827  
0.3  
Tổng  
-4.09216  
46.3  
= [1.5 − (  
× 207.4)] × 100 = 46.3MW  
60  
Quan hệ tần số theo thời gian khi giả lập  
mất máy phát 28 (ELM345#2) ở mức tải 81%  
trình bày ở Hình 5.  
4.3 Phân bố công suất cần sa thải tại các  
nút (bus)  
Trong trường hợp sự cố mất máy phát và  
phải sa thải phụ tải, cần phân bố công suất cần  
sa thải cho từng nút (bus). Áp dụng công thức  
đề xuất (3), xác định được lượng tải cần sa thải  
tại các nút (bus):  
푑푓푖  
푃
퐿푆푚푖푛  
푑푓푖  
푑푡  
푃퐿푆푖  
=
(3)  
∑
푑푡  
Lượng công suất cần sa thải tại các bus tải  
trong trường hợp sự cố máy phát 28  
(ELM345#2) trình bày ở Bảng 1.  
Bảng 1: Lượng sa thải phụ tải tại các bus tải  
khi sự cố máy phát 28.  
Bus tải  
df  
dt  
df/dt  
푷푳푺풊  
Hình 5: Quan hệ tần số theo t khi sự cố mất  
Bus ASH138  
Bus  
-0.0015 0.008333  
-0.18001 2.036656891  
máy phát 28 (ELM345#2).  
POPLAR69  
-0.0014 0.008333  
-0.0014 0.008333  
-0.0014 0.008333  
-0.0013 0.008333  
-0.16801 1.900879765  
-0.16801 1.900879765  
-0.16801 1.900879765  
-0.15601 1.765102639  
Từ Hình 5, nhận thấy tần số phục hồi có giá  
trị là 59,515 nằm ngoài khoảng cho phép (60,3  
Hz < f < 59,7 Hz). Vì vậy, cần tiến hành sa  
thải phụ tải nhằm đưa tần số về phạm vi cho  
phép.  
Bus PINE69  
Bus OAK69  
Bus PALM69  
Bus  
REDBUD69  
Bus  
PECAN69  
Bus  
ORANGE69  
Bus  
BUCKEYE69 -0.0014 0.008333  
Bus  
WALNUT69  
-0.0012 0.008333  
-0.0011 0.008333  
-0.0012 0.008333  
-0.14401 1.629325513  
-0.13201 1.493548387  
-0.14401 1.629325513  
-0.16801 1.900879765  
-0.16801 1.900879765  
-0.16801 1.900879765  
Hình 6 trình bày quan hệ của tần số theo  
thời gian khi giả lập mất máy phát 28  
(ELM345#2) ở mức tải 81% sau khi thực hiện  
sa thải phụ tải theo phương pháp đề xuất.  
-0.0014 0.008333  
Bus  
APPLE69  
Bus  
-0.0014 0.008333  
OLIVE69  
-0.0012 0.008333  
-0.0011 0.008333  
-0.14401 1.629325513  
-0.13201 1.493548387  
Bus  
Trang 4/8  
Bảng 3: So sánh hiệu quả phục hồi tần số theo  
các phương pháp sa thải tải khác nhau.  
Tần số  
phục  
hồi  
Công  
suất sa  
thải  
Thời gian  
phục hồi  
(s)  
Phương pháp  
sa thải phụ tải  
(Hz)  
(MW)  
Phương pháp  
sa thải phụ tải 59,71  
đề xuất  
Phương pháp  
46,3  
13,5  
6,4  
sa thải phụ tải  
dưới tần số  
59,7  
72,288  
Nhận xét:  
Phương pháp sa thải phụ tải đề xuất có  
lượng công suất sa thải ít hơn 1,56 lần (64,1%)  
so với phương pháp sa thải phụ tải dựa trên  
relay dưới tần số;  
Tốc độ hồi phục tần số của phương  
pháp đề xuất lâu hơn 2,1 lần so với phương  
pháp sa thải phụ tải dựa trên relay dưới tần do  
tính đến quá trình huy động công suất dự  
phòng của các máy phát trong hệ thống.  
Hình 6: Quan hệ tần số theo t sau khi sa thải  
phụ tải theo phương pháp đề xuất.  
Từ Hình 6, nhận thấy tần số có giá trị phục  
hồi là 59,71 Hz nằm trong phạm vi cho phép  
(60,3 Hz ≥ f ≥ 59,7 Hz khi thực hiện sa thải  
46.3 MW tương ứng 5,76% tải.  
Khi sử dụng phương pháp sa thải dựa trên  
relay dưới tần số 59,7 Hz, các bước sa thải phụ  
tải thực hiện theo đề xuất bởi FRCC (TLTK  
[18]. Với trường hợp sự cố mất máy phát 28  
(ELM345#2) ở mức tải 81%, thực hiện sa thải  
lượng phụ tải 9% tương ứng với 72,288 MW.  
4.4 Quá trình huấn luyện nơ-ron  
Quá trình xác định số nơ-ron lớp ẩn phù  
hợp được tiến hành bằng phép thử, tức là tiến  
hành huấn luyện mạng nơ-ron với số nơ-ron  
lớp ẩn khác nhau. Số nơ ron lớp ẩn hợp lý  
tương ứng với sai số toàn phương trung bình  
(MSE) nhỏ nhất (sử dụng hàm ‘immse’ trong  
Matlab. Kết quả sai số toàn phương trung bình  
cho thấy với số nơ-ron lớp ẩn là 10 là phù hợp  
Hình 7.  
Lượng công suất sa thải phụ tải thực hiện  
dựa trên Bảng 2. Thời gian cắt tải lúc tần số  
giảm xuống 59,7 Hz tương ứng là 1,44 s.  
Bảng 2: Các bước sa thải của FRCC.  
Các Tần số Thời  
Lượng Tổng số  
bước sa thải  
gian  
trể  
(s)  
tải sa  
thải  
(phần  
lượng  
tải sa  
thải  
UFLS  
tải  
(Hz)  
trăm  
(%)  
tổng tải)  
(%)  
9
7
7
6
5
7
5
5
A
B
C
D
E
F
L
M
N
59,7  
59,4  
59,1  
58,8  
58,5  
58,2  
59,4  
59,7  
60,1  
0,28  
0,28  
0,28  
0,28  
0,28  
0,28  
10  
9
16  
23  
29  
34  
41  
46  
51  
56  
12  
8
5
Hình 7: Sai số toàn phương trung bình ứng  
với số nơ-ron lớp ẩn.  
Kết quả so sánh hiệu quả của việc phục hồi  
tần số theo phương pháp sa thải phụ tải đề xuất  
và phương pháp relay dưới tần số trình bày ở  
Bảng 3.  
Quá trình huấn luyện mạng nơ-ron bằng  
thuật toán Levenberg-Marquardt được trình  
bày ở Hình 8.  
Trang 5/8  
dụng làm tài liệu tham khảo cho các NCS, các  
học viên cao học Ngành Kỹ thuật điện, các  
điều độ viên hệ thống điện tham khảo khi quan  
tâm đến bài toán sa thải phụ tải nhằm phục hồi  
tần số khi xuất hiện sự cố mất máy phát.  
Hình 8: Giao diện huấn luyện mạng nơ-ron  
theo thuật toán Levenberg-Marquardt .  
Đánh giá độ chính xác nhận dạng của mạng  
nơ-ron đề xuất ứng với mẫu huấn luyện và  
mẫu kiểm tra bằng chương trình  
‘tim_phan_tram_chinh_xac’.  
Bảng 4: Độ chính xác nhận dạng ứng với mẫu  
huấn luyện và mẫu kiểm tra.  
Số biến Độ chính xác  
huấn luyện xác kiểm tra  
99,8% 99,4%  
Độ chính  
165  
5. KẾT LUẬN  
Bài báo đề xuất phương pháp sa thải phụ  
tải sử dụng mạng nơ-ron để nhận dạng sự cố  
và xác định lượng công suất cần sa thải tại các  
thanh góp tải có xét đến yếu tố điều khiển sơ  
cấp nhằm phục hồi tần số hệ thống điện về  
phạm vi cho phép khi có sự cố mất máy phát  
làm mất cân bằng giữa công suất phát và công  
suất tiêu thụ.  
Điểm mới của bài báo là đề xuất công thức  
xác định lượng tải tối thiểu cần sa thải và huy  
động lượng công suất phát dự phòng của các  
máy phát còn lại khi có sự cố mất máy phát.  
Hiệu quả của phương pháp sa thải phụ tải đề  
xuất so với phương pháp sa thải phụ tải bằng  
relay dưới tần được thực hiện thông qua mô  
phỏng trên hệ thống điện 37 bus 9 máy phát  
ứng với các mức tải thay đổi từ 80% đến  
100%. Cụ thể, khi áp dụng phương pháp sa  
thải đề xuất trong trường hợp kiểm tra mất  
máy phát 28 ELM345#2 thì lượng tải sa thải  
giảm 25,928 MW so với phương pháp sa thải  
phụ tải dựa trên relay sa thải dưới tần.  
Kết quả nghiên cứu của bài báo có thể sử  
Trang 6/8  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Qui trình điều tra sự cố trong các nhà máy điện, lưới điện và hệ thống điện, khảo sát an toàn  
lao động công ty điện lực 1, http://www.fineprint.com.  
[2] Quy hoạch điện VII, 1208/QĐ_TTg, ngày 21 tháng 7 năm 2011.  
[3] Mai Ngọc Nhẫn. Nghiên cứu sa thải phụ tải áp dụng mạng nơ-ron và thuật toán AHP, Luận  
văn ThS, ĐH SPKT Tp HCM, 2017.  
[4] Bùi Nguyễn Xuân Vũ. Xây dựng mô hình sa thải phụ tải nhằm duy trì ổn định HTĐ trên cơ  
sở phối hợp khoảng cách điện theo góc pha, mạng nơ-ron nhân tạo dụng cho mô hình hệ thống  
điện chuẩn IEEE 39 bus 10 máy phát, Luận văn ThS, ĐH SPKT Tp HCM, 2018.  
[5] Đỗ Hữu Kiệt. Nghiên cứu các phương pháp sa thải phụ tải và đề xuất phương pháp sa thải  
phụ tải dưới tần số dựa trên thuâṭ toan AHP và thuật toán mờ hóa Fuzzy, Luận văn ThS, ĐH  
́
SPKT Tp HCM, 2016.  
̉
[6] Nguyễn Trọng Tín. Tối ưu hoa sa thai dưạ trên phương trinh chuyên đôṇ g quay cua rotor,  
Luận văn ThS, ĐH SPKT Tp HCM, 2018.  
̉
̉
́
̀
[7] Junjie Tang, Graduate Student Member, Junqi Liu, Graduate Student Member, Ferdinanda  
Ponci, SeniorMember, IEEE, and Antonello Monti, SeniorMember. Adaptive load shedding  
based on combined frequency and voltage stability assessment using synchrophasor  
measurements, IEEE Transactions on Power Systems (Volume: 28, Issue: 2, May 2013).  
[8] A.P. Ghaleh, M.Sanye – Pasand, A. Saffaria. Power system stability enhancement using a  
new combinational load-shedding algorithm, IET Generation; Transmission & Distribution  
(Volume: 5, Issue: 5, May 2011)  
[9] R. Hooshmand, M. Moazzami. Optimal design of adaptive under frequency load shedding  
using artificial neural networks in isolated power system, International Journal of Electrical  
Power & Energy Systems Volume 42, Issue 1, November 2012, Pages 220-228.  
[10] Alireza Saffarian and Majid Sanaye-Pasand, Senior Member. Enhancement of Power  
System Stability Using Adaptive Combinational Load Shedding Methods, IEEE Transactions  
on Power Systems (Volume: 26, Issue: 3, Aug. 2011).  
[11] Zhichao Zhang, Zengping Wang and Panyu Fang. Study on Emergency Load Shedding  
Based on Frequency and Voltage Stability, International Journal of Control and Automation  
Vol.7, No.2 (2014).  
[12] Zhou Liu, Zhe Chen, Senior Member, Haishun Sun, Chengxi Liu. Emergency Load  
Shedding Strategy Based on Sensitivity Analysis of Relay Operation Margin against Cascading  
Events, IEEE International Conference on Power Systems POWERCON 2012.  
[13] Thông tư, Số: 28/2014/TT-BCT. Quy định quy trình xử lý sự cố trong hệ thống điện quốc  
gia, Hà Nội, ngày 15 tháng 9 năm 2014.  
[14] Cục Điều tiết Điện lực ban hành.Quy trình xác định và vận hành dịch vụ phụ trợ.  
Trang 7/8  
[15] Công ty nhiệt điện Na Dương. Điều khiển tần số và công suất, khóa đào tạo nhân viên vận  
hành 2009.  
[16] J. Duncan Glover, Thomas J. Overbye, and Mulukutla S. Sarma. Power System Analysis &  
Design, Sixth Edition.  
[17] Powerworld GSO 19.  
[18] FRCC Standards Handbook, FRCC Automatic Underfrequency Load Shedding Program,  
Revision Date: July 2003.  
Thông tin liên hệ tác giả chính (người chịu trách nhiệm bài viết):  
Họ tên:  
Đơn vị:  
Điện thoại:  
Email:  
Nguyễn Thành An  
Học viên Cao học Trường Đại Học Sư Phạm Kỹ Thuật Tp. Hồ Chí Minh  
0986084147  
XÁC NHẬN CỦA CÁN BỘ HƯỚNG DẪN  
Trang 7/8  
pdf 8 trang Mãnh Khiết 09/01/2024 21240 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu các phương pháp điều khiển khẩn cấp sa thải phụ tải trong hệ thống điện", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_cac_phuong_phap_dieu_khien_khan_cap_sa_thai_phu_t.pdf