Kết quả bước đầu quan trắc động đất nhỏ bằng mạng máy địa phương GURALP-6TD bố trí tại vùng Thanh Hoá

35(1), 36-46  
Tạp chí CÁC KHOA HỌC VỀ TRÁI ĐẤT  
3-2013  
KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU QUAN TRẮC ĐỘNG ĐẤT NHỎ  
BẰNG MẠNG MÁY ĐỊA PHƯƠNG  
GURALP-6TD BỐ TRÍ TẠI VÙNG THANH HOÁ  
ĐINH VĂN TOÀN1, CHAU-HUEI CHEN2, STRONG WEN2, LẠI HỢP PHÒNG1,  
TRẦN ANH VŨ1, NGUYỄN THỊ HỒNG QUANG1, DƯƠNG THỊ NINH1  
E - mail: [email protected]  
1Viện Địa chất, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam  
2Viện Địa chấn, Đại học quốc gia Chung Cheng, Đài Loan  
Ngày nhận bài: 20 - 11 - 2012  
1. Mở đầu  
phá hủy xảy ra trong thế kỷ vừa qua cũng được xác  
nhận thuộc đới Sông Mã năm 1935 và đứt gãy Sơn  
Đới đứt gãy Sông Mã và đứt gãy Sơn La - Bỉm La - Bỉm Sơn với magnitude 6,8 và 6,7 độ Richter  
Sơn là hai đứt gãy hoạt động có quy mô thuộc loại tương ứng. Trong đới đứt gãy Sơn La - Bỉm Sơn  
lớn nhất ở vùng Tây Bắc. Cả 2 đới đứt gãy đều thì tại phần đông nam của đới tại Vĩnh Lộc cũng đã  
gồm nhiều nhánh và có độ sâu xuyên vỏ Trái đất xác nhận trận động đất lịch sử năm 1635 được  
được phản ánh bằng dấu hiệu biến dạng trên bề đánh giá đạt đến 6,8 độ Richter. Khác với đới Sơn  
mặt Moho và tài liệu địa chấn [9]. Trong đó, đứt La - Bỉm Sơn, tại đoạn đông nam của đới Sông Mã  
gãy Sông Mã là ranh giới phân chia địa kiến trúc chỉ ghi nhận được động đất nhỏ hơn 6,0 độ Richter,  
Tây Bắc với địa kiến trúc Trường Sơn và được xếp đó là động đất năm 1948 xảy ra ở Quan Sơn,  
vào cấp I trong bảng phân cấp của các nghiên cứu Thanh Hóa với magnitude 5,7 độ Richter [8, 13].  
gần đây [7, 9]. Các đứt gãy này đều có phương tây Cũng giống như nhiều nguồn phát sinh động đất  
bắc - đông nam với chiều dài đạt trên dưới 400 km, khác, hoạt động động đất trong các đới đứt gãy  
bắt đầu từ đứt gãy á kinh tuyến Điện Biên - Lai Sông Mã và Sơn La - Bỉm Sơn không phân bố đều  
Châu và đều chạy qua vùng Thanh Hoá trước khi dọc theo chiều dài đới đứt gãy mà mức độ biểu  
đổ ra biển. Tại đây chúng được phân ra nhiều hiện ở từng đoạn cũng khác nhau (hình 1).  
nhánh theo kiểu tỏa tia và càng về phía bờ biển  
Đối với đứt gãy Sông Mã thì hoạt động động  
càng mở rộng. Đây cũng là 2 nguồn phát sinh  
đất tích cực nhất được xác nhận tại đoạn đầu mút  
động đất được đánh giá thuộc loại mạnh nhất trong  
tây bắc của đới, từ phần tây bắc tỉnh Sơn La đến  
cả nước với magnitude cực đại có thể đạt đến 7,1  
khu vực Điện Biên, dài khoảng hơn 70km. Tại đây  
độ Richter [8, 13-15].  
ngoài trận động đất 6,8 độ Richter năm 1935 đã ghi  
Các nghiên cứu nhiều năm qua đều cho thấy nhận được hàng chục trận động đất có cấp độ 4,0<  
hai đới đứt gãy này có biểu hiện hoạt động mạnh M<5,0 Richter; các trận động đất cấp độ nhỏ hơn  
trong tân kiến tạo và hiện đại. Các biểu hiện dịch còn ghi được nhiều hơn. Tại đoạn đông nam thuộc  
chuyển với biên độ lớn trong thời kỳ Đệ Tứ, các tai địa phận Thanh Hóa, hoạt động động đất cũng ghi  
biến nứt sụt đất, trượt lở đất quy mô lớn lặp đi lặp nhận mức độ tích cực tại đoạn chạy qua huyện  
lại nhiều lần được ghi nhận xảy ra ở nhiều đoạn Quan Sơn, Lang Chánh và Ngọc Lặc dọc theo  
dọc theo suốt chiều dài của hai đới đứt gãy [1, 2, 7- chiều dài cũng khoảng hơn 70km [8, 13]. Động đất  
10, 16]. Riêng về động đất thì đoạn ở phần tây bắc ghi nhận được gần đây nhất xảy ra ở huyện Quan  
thuộc các tỉnh Điện Biên, Sơn La mức độ hoạt Sơn ngày 19/9/2010 đạt hơn 4 độ Richter. Tại  
động địa chấn cao hơn nhiều so với đoạn ở phần vùng chấn tâm khu vực xã Sơn Hà, động đất đã  
đông nam. Hai trận động đất mạnh nhất mang tính gây nứt đất và nứt một số tường nhà cấp IV [11].  
36  
Trong phạm vi các phần còn lại thì đoạn từ trung khi cũng khó ghi được các trận động đất magnitude  
tâm tỉnh Sơn La chạy qua Lào và về biên giới nước khoảng <3,0 độ Richter dọc đoạn chạy qua đất  
ta tại khu vực huyện Mường Lát mức độ hoạt động Lào. Đoạn còn lại từ khu vực huyện Ngọc Lặc ra  
địa chấn ghi nhận được thấp hơn. Chỉ có một số ít, vùng bờ biển dài đến hơn 100 km với cấu trúc  
khoảng 10 trận động đất 3,0 < M < 4,0 ghi nhận nhiều nhánh tỏa tia chỉ ghi nhận được lẻ tẻ, một vài  
được từ khoảng những năm 1980 trở lại đây. Tuy trận động đất <4,0 độ Richter. Do tính hoạt động  
nhiên, ngày 30/12/2010 đã ghi nhận trận động đất động đất quan sát được thấp hơn nhiều so với các  
gần 5,0 độ Richter xảy ra ở vùng biên giới Việt - đoạn ở phần tây bắc nên đoạn này được đánh giá  
Lào và ngày 7/5/2011 ghi được động đất tại khu có chế độ địa chấn khá bình ổn (hình 1) và động  
vực huyện Sông Mã với magnitude 4,2 độ Richter. đất cực đại cũng được đánh giá thấp hơn đạt  
Trong thực tế thì mạng trạm của ta hiện tại nhiều khoảng Mmax = 5,5 độ Richter [13].  
Hình 1. Phân bố chấn tâm động đất trên sơ đồ đứt gãy theo mạng trạm khu vực (theo Nguyễn Đình Xuyên 2004, có bổ sung)  
Bức tranh hoạt động động đất trong đới đứt gãy 5,0 độ Richter đã ghi nhận được, mật độ cao nhất  
Sơn La - Bỉm Sơn tại phần tây bắc cũng tương tự là xung quanh khu vực Tuần Giáo. Đoạn thứ hai có  
như trong đới Sông Mã. Tại đoạn từ khu vực thành mức độ hoạt động động đất mức trung bình là đoạn  
phố Sơn La đến thị xã Lai Châu cũ dài khoảng từ huyện Thạch Thành, Cẩm Thủy ra đến bờ biển  
115km mức độ hoạt động địa chấn quan sát được ở tại khu vực Hậu Lộc - Thanh Hoá. Tại đây, ngoài  
mức cao. Ngoài động đất Tuần Giáo năm 1983 thì trận động đất lịch sử 6,8 độ Richter xảy ra năm  
tại đoạn này nhiều trận động đất từ 4,0 đến xấp xỉ 1635 tại Vĩnh Lộc, các nghiên cứu còn tìm được  
37  
hai trận động đất lịch sử cũng được đánh giá đến 2. Triển khai mạng máy thu thập số liệu  
5,5 độ Richter xảy ra tại khu vực gần thành phố Guralp-6TD tại Thanh Hóa  
Thanh Hóa năm 1584 và tại khu vực Thạch Thành  
Như đã trình bày ở trên, trong nhiều năm trước  
năm 1587 [13]. Đáng lưu ý là động đất 5,2 độ  
2009 cả vùng Thanh Hóa và Nghệ An rộng lớn chỉ  
Richter cũng đã ghi nhận xảy ra ở huyện Vĩnh Lộc  
được bố trí 3 máy ghi động đất. Mạng máy quá  
vào năm 1958. Gần đây còn ghi nhận được động  
thưa, không cho khả năng ghi được đầy đủ động  
đất Cẩm Thủy 4,0 độ Richter năm 2005 [8] và  
đất nhỏ mang tính địa phương. Từ tháng 11/2009  
động đất Vĩnh Lộc, Thọ Xuân ngày 7/11/2011 với  
trong khuôn khổ hợp tác giữa Viện Địa chất với  
Magnitude 3,6 độ Richter [17]. Như vậy, tại phần  
các nhà khoa học của Trường Đại học Chung  
động nam của cả hai đới đứt gãy Sông Mã và Sơn  
Cheng - Đài Loan, một mạng máy địa phương đã  
La - Bỉm Sơn, mức độ hoạt động địa chấn ghi nhận  
được lắp đặt tại vùng Thanh Hoá. Mạng máy gồm  
được đều thấp hơn nhiều so với đoạn ở phần tây  
12 chiếc Guralp-6TD có chu kỳ 30 giây do Vương  
bắc, đặc biệt là đới đứt gãy Sông Mã. Đặc điểm  
quốc Anh chế tạo. Máy có 3 thành phần ghi vận tốc  
này có thể do tính chất của các đứt gãy tại đoạn  
với độ phân giải cao đến 24 bit. Các thiết bị này  
đông nam có sự thay đổi, mặt khác cũng còn một  
chủ yếu được bố trí dọc hai bên sườn của đới đứt  
khả năng, do mạng máy ghi động đất ở đây quá  
gãy Sông Mã, trên một đoạn dài khoảng hơn 80km,  
từ bắc huyện Thường Xuân đến phía đông huyện  
Nông Cống. Nhằm ghi được cả các trận động đất  
nhỏ trong đới đứt gãy Sông Mã nên các thiết bị  
trên được bố trí cách nhau khoảng từ 14 đến 18km  
(hình 2). Tuy các thiết bị được bố trí bao quanh đới  
Sông Mã nhưng khả năng ghi được các động đất  
nhỏ trong các đới đứt gãy Sơn La - Bỉm Sơn và các  
đứt gãy khác vẫn là hiện thực, vì khoảng cách từ  
các trạm đến các đứt gãy vừa nêu cũng chỉ thường  
< 40km. Vị trí lắp đặt các thiết bị ghi trong bảng 1.  
thưa, không ghi được đầy đủ các trận động đất nhỏ,  
ngay cả động đất đạt xấp xỉ 3,0 độ Richter. Cả  
vùng Thanh Hoá và Nghệ An rộng lớn cho đến nay  
chỉ có 03 máy ghi được đặt tại khu vực Tp. Vinh,  
Tp. Thanh Hoá và gần đây thêm được trạm ở Con  
Cuông. Điều này cho thấy, việc triển khai tại khu  
vực này một mạng máy địa phương đủ dày, cho  
phép đánh giá chi tiết và đầy đủ hơn tính hoạt động  
địa chấn ở phần đông nam của hai đới đứt gãy,  
không những có ý nghĩa cho các nghiên cứu về  
động đất mà cả các tai biến địa chất nội sinh khác.  
20°  
19°30  
105°  
106°  
Hình 2. Mạng trạm máy Guralp-6TD dọc đới Sông Mã tại Thanh Hoá  
38  
Bảng 1. Mạng trạm máy địa chấn tại Thanh Hóa  
quan đến động đất được tách ra thành các tệp số  
liệu độc lập từ các băng ghi sóng nhờ phần mềm  
chuyên dụng Scream 4.4 do hãng Guralp cung cấp.  
Xem xét sơ bộ các tệp số liệu dựa vào độ dài tồn  
tại tín hiệu động đất trên băng ghi cũng như thời  
gian tới của sóng P và sóng S có thể thấy nhiều  
trận động đất địa phương có magnitude nhỏ mạng  
máy vẫn ghi được tín hiệu khá rõ đồng thời ở nhiều  
trạm. Nhìn chung, các băng ghi trường sóng động  
đất phần lớn có chất lượng đảm bảo. Có thể thấy  
điều này trên ví dụ băng sóng động đất Quỳ Hợp  
ngày 19/10/2010 có magnitude M = 1,25 với  
khoảng cách xa đến 90km tín hiệu vẫn ghi được rất  
rõ (hình 3). Trong 3 năm qua mạng máy đã ghi  
được gần 300 trận động đất lớn nhỏ, trong đó các  
trận động đất nhỏ mang tính địa phương chiếm  
một tỉ lệ lớn. Khai thác tài liệu này là cơ sở bước  
đầu để ta hiểu chi tiết hơn về tính hoạt động địa  
chấn của vùng nghiên cứu.  
Loại cảm  
biến  
TT Ký hiệu  
Tên trạm  
Vỹ độ  
Kinh độ  
1
2
3
4
5
6
NGKB  
LASB  
THXB  
XUCB  
LGSB  
LTHB  
Ngọc khê  
Lam Sơn  
20,081382 105,36979 CMG-6TD  
20,010782 105,42333 CMG-6TD  
Thọ Xương 19,914697 105,39011 CMG-6TD  
Xuân Cẩm 19,897063 105,30697 CMG-6TD  
Lương Sơn 19,968602 105,28221 CMG-6TD  
Luận Thành 19,806285 105,39723 CMG-6TD  
Thượng  
7
TGNB  
19,711243 105,44066 CMG-6TD  
Ninh  
8
9
HALB  
VAHB  
Hải Long  
Vạn Hoà  
19,645188 105,57326 CMG-6TD  
19,618213 105,63321 CMG-6TD  
Trung  
Thành  
10 TRUB  
19,705701 105,67802 CMG-6TD  
19,783412 105,62675 CMG-6TD  
Nông  
Trường  
11 NTGB  
12 THCB  
Thọ Cường 19,866121 105,51549 CMG-6TD  
Kể từ khi các thiết bị được lắp đặt, mạng máy  
luôn hoạt động tốt. Số liệu được thu thập đầy đủ,  
định kỳ khoảng 2 tháng 1 lần. Phần tín hiệu liên  
Hình 3. Băng sóng ghi tại trạm Hải Long động đất Quỳ Hợp ngày 19/10/2010  
3. Phân tích xử lý tài liệu định vị chấn tiêu trong nghiên cứu động đất. Bài toán định vị chấn tiêu  
động đất  
động đất nhìn chung là bài toán phản ánh mối quan hệ  
giữa thời gian truyền sóng từ nguồn đến các máy thu  
Xác định các thông số của bài toán định vị chấn với các tham số: tọa độ, độ sâu của nguồn và đặc điểm  
tiêu động đất gồm tọa độ, độ sâu chấn tiêu và thời mô hình vận tốc truyền sóng từ nguồn đến máy thu.  
điểm phát sinh động đất là một công việc quan trọng Có nhiều thuật toán được sử dụng để định vị chấn tiêu  
39  
f
i = di - Fi( x0, y0, z0, t0 ) =  
động đất nhưng về cơ bản chúng đều được chuyển về  
giải các hệ phương trình đại số tuyến tính, phản ánh  
mối quan hệ giữa thời gian tới của các loại sóng từ  
nguồn đến các trạm ghi tín hiệu với các thông số  
nguồn và mô hình tốc độ truyền sóng trong vỏ Trái  
Đất. Nghiệm của hệ phương trình như trên được tìm  
bằng nhiều phương pháp giải, trong đó có giải bài toán  
thuận theo mô hình ước lượng cho trước, kết quả tính  
toán lý thuyết thời gian sóng tới các trạm được so sánh  
với thời gian quan sát, nếu độ lệch chưa đủ nhỏ các  
thông số mô hình được thay đổi và quy trình tính lặp  
được thực hiện cho đến khi độ lệch đủ nhỏ. Kết quả  
định vị chấn tiêu các trận động đất trình bày trong bài  
báo này được thực hiện bằng sử dụng thuật toán do  
W.H.K Lee và C.M Valdes phát triển vào năm 1971  
và được hoàn thiện nâng cấp vào những năm 1985 -  
1995, với bộ chương trình tính HYPO71PC được viết  
bằng ngôn ngữ FORTRAN [4, 5]. Theo đó, thời gian  
sóng tới các trạm từ nguồn phát sinh động đất phụ  
thuộc vào khoảng cách và đặc điểm môi trường truyền  
sóng từ nguồn đến các trạm máy ghi, độ sâu chấn tiêu  
và thời điểm phát sinh động đất được mô tả bằng  
phương trình:  
(2 )  
∂F  
∂x0  
∂F  
∂y0  
∂F  
∂z0  
∂F  
∂t0  
=
δx0 +  
δy0 +  
δz0 +  
δt0  
Ta ký hiệu ma trận chứa các phần tử là đạo hàm  
riêng của hàm F theo thông số nguồn là Gij, khi đó:  
∂F  
Gij =  
(3)  
∂mj  
m là tập hợp các thông số nguồn, m = 4; j = 1,…,  
4. Các phần tử sai phân: δx0, δy0, δz0, δt0 được ký  
hiệu dưới dạng ma trận ∆m, khi đó ta sẽ có hệ  
phương trình sau:  
f = G∆m  
(4)  
Việc xác định các thông số nguồn được thực  
hiện bằng quá trình tính lặp, trong đó phương pháp  
bình phương tối thiểu cũng đã sử dụng [3, 5, 12 ].  
Cùng với định vị chấn tiêu, các tác giả cũng đã  
tiến hành xác định Magnitude của động đất theo  
công thức của Nguyễn Đình Xuyên [13]:  
Ms = 2,67 log(F-P ) - 2,49  
(5)  
Trong đó ( F-P) là độ dài của khoảng thời gian  
xuất hiện tín hiệu động đất trên băng sóng.  
d = F( x, y, z, t )  
(1)  
Trong công thức trên d - là thời gian sóng tới  
các máy ghi, trong trường hợp có n máy d = (d1,  
d2,...,dn ); (x, y) là tọa độ nguồn phát sinh động  
đất; z là độ sâu chấn tiêu; t là thời điểm phát sinh  
động đất. Bài toán định vị chấn tiêu động đất  
thường được bắt đầu bằng giải bài toán thuận tính  
thời gian sóng tới các trạm ghi theo một mô hình  
cho trước gọi là mô hình ban đầu. Khả năng hội tụ  
của các thông số nguồn về giá trị thực của nó cũng  
phụ thuộc vào thông số cho trước trong mô hình  
ban đầu. Trong những trường hợp mô hình này có  
các thông số quá xa so với thực tế thì khả năng tiến  
về thông số thực sẽ rất khó thực hiện, bởi vậy để  
xây dựng mô hình ban đầu, cần tận dụng tối đa các  
hiểu biết về môi trường truyền sóng, dựa vào các  
băng ghi sóng để ước lượng được tốt nhất các  
thông số nguồn. Việc thay đổi các thông số nguồn  
cho lần tính tiếp theo nhằm giảm giá trị độ lệch  
giữa kết quả tính toán lý thuyết với giá trị quan sát  
sẽ được thực hiện trên cơ sở phân tích hàm số lý  
thuyết với biến số nguồn (x, y, z, t) vào chuỗi  
Taylor trong lân cận điểm chứa các thông số nguồn  
ban đầu (x0, y0, z0, t0) và chỉ giới hạn đến đạo hàm  
bậc nhất [4, 5]. Cách làm này làm cho bài toán trở  
nên có quan hệ tuyến tính:  
Các thông số đầu vào của bài toán định vị chấn  
tiêu động đất được sử dụng gồm: Thời gian tới các  
trạm ghi của sóng P và sóng S; mô hình vận tốc  
truyền sóng trong vỏ Trái Đất hoặc thạch quyển;  
khoảng thời gian từ lúc xuất hiện tín hiệu động đất  
trên băng sóng đến khi kết thúc và tỷ số tốc độ  
Vp/Vs trong vỏ Trái Đất.  
Trong các thông số trên thì thời gian sóng tới  
của sóng P, sóng S và khoảng thời gian tồn tại tín  
hiệu động đất trên băng ghi sóng được lấy trực tiếp  
từ số liệu quan sát. Như đã nói ở phần trên, phần  
lớn các băng sóng động đất phản ánh khá rõ thời  
điểm tới của sóng P trên băng, tuy nhiên tính phân  
cực của nó đôi khi cũng khó phân biệt. Ngoài ra,  
có một số ít trận động đất chỉ ghi được ở một trạm.  
Việc xử lý phân tích định vị chấn tiêu lần này chỉ  
tiến hành cho các trận động đất ghi được tín hiệu từ  
2 trạm trở lên.  
Mô hình vận tốc truyền sóng trong vỏ Trái Đất  
cũng là một thông số rất quan trọng, ảnh hưởng  
trực tiếp đến khả năng hội tụ của bài toán. Ở nước  
ta, thông số này đã được một số nhà địa chấn quan  
tâm nghiên cứu trong nhiều năm qua trên cơ sở sử  
dụng các số liệu ghi động đất và các kết quả nghiên  
40  
cứu về cấu trúc vỏ Trái Đất lãnh thổ Việt Nam, có  
tham khảo mô hình tốc độ truyền sóng của lãnh thổ  
một số nước khác trong khu vực gần với ta, trong  
đó có mô hình cấu trúc vận tốc cho lãnh thổ Vân  
Nam Trung Quốc. Trong số đó, mô hình vận tốc  
cho vỏ Trái Đất lãnh thổ Bắc Việt Nam của tác giả  
Nguyễn Đinh Xuyên và Lê Tử Sơn đã được sử  
dụng khá phổ biến ở Việt Nam. Do số liệu quan  
trắc lần này bao gồm cả trận động đất Quan Sơn,  
Thanh Hóa ngày 19/9/2010 với magnitude được  
đánh giá > 4,0 độ Ricter. Đây là trận động đất đã  
xác định khá chính xác vị trí chấn tâm tại xã Sơn  
Hà, huyện Quan Sơn bằng điều tra thực địa chi tiết  
và được tất cả các máy trong mạng trạm ghi nhận  
tín hiệu. Tập thể tác giả bài báo đã sử dụng kết quả  
điều tra để thử nghiệm tính phù hợp của các mô  
hình vận tốc nêu trên trong tính toán định vị đối  
với trận động đất này. Đáng tiếc là kết quả cho giá  
trị sai lệch đáng kể về vị trí chấn tâm xác định theo  
tính toán và điều tra thực tế. Điều này có thể xảy  
ra, do các mô hình vận tốc như vừa nêu, được xây  
dựng mang tính khái quát cho toàn lãnh thổ phía  
Bắc, trong khi động đất và mạng trạm quan sát hầu  
hết nằm trên đất Thanh Hóa và lân cận nên  
mô hình cấu trúc vận tốc mang nhiều yếu tố  
địa phương.  
Bảng 2. Mô hình cấu trúc vận tốc Thạch quyển  
vùng nghiên cứu  
Thứ tự lớp  
Độ sâu mặt trên và mặt  
dưới ( km)  
Vận tốc sóng P  
(km/s )  
1
2
3
4
5
6
0 - 1  
1 - 4  
4 - 20  
20 - 38  
38 - 97  
> 97  
4,6  
5,4  
6,4  
6,9  
8,02  
8,30  
Thông số cuối cùng cần cho trước trong tính  
toán định vị chấn tiêu động đất là tỷ số tốc độ  
Vp/Vs. Tham khảo các kết quả của các nhà nghiên  
cứu động đất thuộc Viện Vật lý Địa cầu, tập thể  
tác giả đã lựa chọn tỷ số Vp/Vs = 1,76 để sử dụng  
tính toán trong nghiên cứu này.  
4. Kết quả định vị chấn tiêu các trận động đất  
do mạng máy Thanh Hóa ghi được  
Trong khoảng thời gian từ tháng 11/2009 đến  
tháng 10/2012 mạng máy đã ghi được gần 300  
động đất, phần lớn là động đất nhỏ [11]. Trong  
nghiên cứu này tập thể tác giả đã thực hiện định vị  
được gần 190 trận động đất với số liệu quan trắc  
cho đến tháng 9/2011. Trong số đó hơn 70 trận  
động đất có magnitude >1,0 Richter, số còn lại là  
<1,0 độ Richter (hình 4). Số trận động đất có từ 3  
trạm trở lên ghi được là 101 trận (phụ lục 1 ).  
Nhằm tìm kiếm một mô hình vận tốc phù hợp  
hơn với vùng nghiên cứu, các tài liệu liên quan bao  
gồm tài liệu về tốc độ truyền sóng trong vỏ Trái  
Đất theo kết quả của tuyến địa chấn dò sâu được  
Cũng cần nhắc lại rằng, việc đánh giá  
magnitude động đất thực hiện trong nghiên cứu  
này theo công thức Nguyễn Đình Xuyên bao giờ  
thực hiện trong đề tài nhà nước: KC.08.06/06-10. cũng có độ lệch so với các thang magnitude khác.  
Tuyến địa chấn này cắt qua nhiều vùng trong phạm  
vi nghiên cứu [9]. Để tận dụng nguồn số liệu tại  
chỗ, tập thể tác giả cũng đã tiến hành tính toán  
bước đầu cấu trúc vận tốc theo bài toán 1D, sử  
dụng số liệu của mạng trạm ghi được trong vùng  
nghiên cứu [17]. Hai kết quả nêu trên về cơ bản  
khá tương đồng nên có thể coi là có cơ sở tin cậy.  
Phần sâu hơn nữa đề tài đã tham khảo các tài liệu  
liên quan đến cấu trúc thạch quyển lãnh thổ Việt  
Nam như tốc độ truyền sóng ngang trong thạch  
quyến, mô hình cấu trúc vỏ Trái Đất và thạch  
quyển ở các vùng khác [18]. Bằng cách làm trên,  
một mô hình cấu trúc vận tốc cho vùng nghiên cứu  
đã được xây dựng, sau một số lần điều chỉnh thông  
qua tính toán thử nghiệm đã cho kết quả xác định  
chấn tâm khá phù hợp với điều tra thực tế trận  
động đất Quan Sơn ngày 19/9/2010 (bảng 2). Mô  
hình cấu trúc vận tốc này cũng đã được sử dụng  
tính toán định vị chấn tiêu các trận động đất còn lại  
do mạng máy Thanh Hoá ghi được.  
Các động đất ghi được do mạng máy Thanh Hóa  
trong khoảng thời gian 3 năm qua lại hầu hết là các  
động đất nhỏ nên độ lệch so với giá trị các thang  
khác có thể càng lớn. Việc đồng nhất hóa thang  
magnitude động đất trong các nghiên cứu ở Việt  
Nam có lẽ là một việc làm cần thiết trong thời gian  
sắp tới. Gần đây cũng đã có một vài nghiên cứu [6]  
thiết lập thang magnitude địa phương ML và mối  
quan hệ của nó với magnitude MD xác định theo độ  
dài thời gian của tín hiệu động đất trên băng ghi  
(coda duration) cho lãnh thổ Bắc Việt Nam. Có thể  
coi đây là kết quả bước đầu nhưng hiệu quả của nó  
còn phụ thuộc cả vào độ chính xác của việc đánh  
giá magnitude MD. Thông số này cho đến nay được  
dùng khá phổ biến ở Việt Nam nhưng nhiều khi  
xác định chính xác độ dài thời gian tồn tại tín hiệu  
sóng động đất trên băng ghi sóng cũng không thật  
dễ dàng. Ngoài giá trị magnitude cần phải được  
điều chỉnh tiếp tục, trong danh mục các trận động  
41  
động đất ghi được nhiều nhất xảy ra trong đới Sông  
Mã so với các đới đứt gãy khác vùng lân cận (hình  
4). Trong thực tế mạng máy được bố trí chủ yếu  
dọc hai bên sườn đứt gãy chính của đới Sông Mã,  
khoảng cách từ đứt gãy này đến các trạm gần hơn  
nên số lượng các trận động đất nhỏ ghi được nhiều  
hơn cũng là điều dễ hiểu. Trong khi đó khoảng  
cách từ các trạm gần nhất đến đứt gãy Sơn La -  
Bỉm Sơn và đứt gãy Sông Hiếu tương tự như nhau  
nhưng số động đất ghi được xảy ra trong đới Sơn  
La - Bỉm Sơn nhiều hơn hẳn. Có thể nói mức độ  
hoạt động địa chấn trong đới Sơn La - Bỉm Sơn  
đất đã xác định vẫn có một số trận động đất chỉ ghi  
được ở 2 trạm nên có thể bắt gặp những trường hợp  
sai số đáng kể trong tính toán xác định các thông  
số chấn tiêu động đất. Có thể coi, kết quả nêu trong  
nghiên cứu này là kết quả bước đầu, cần được tiếp  
tục nâng cao độ tin cậy vào những năm tiếp theo.  
Dù phần lớn động đất ghi được bởi mạng máy  
Thanh Hóa có magnitude khá nhỏ, nhưng gần 190  
trận xảy ra trong vùng nghiên cứu trong khoảng  
thời gian khoảng chưa đến 2 năm cho thấy, vùng  
này cũng không yên tính về hoạt động địa chấn.  
Liên kết với tài liệu về đứt gãy có thể thấy, cao hơn đới Sông Hiếu.  
Hình 4. Phân bố chấn tâm động đất ghi bởi mạng máy địa phuơng tại Thanh Hoá  
Ngoài các đứt gãy nêu trên, mạng trạm cũng đới Thường Xuân - Bá Thước [10, 11]. Đáng tiếc  
là hai đới đứt gãy này còn ít được quan tâm nghiên  
cứu bằng các phương pháp địa chất - kiến tạo.  
Trong đó đới đứt gãy Thường Xuân - Bá Thước  
cũng mới được đề cập đến trong một số công trình  
nghiên cứu hiếm hoi trong vài năm qua [7, 9 ], còn  
đới Thạch Thành - Nông Cống đến nay vẫn rất ít  
được biết đến.  
ghi được một số trận động đất xảy ra trong các đới  
đứt gãy xa hơn. Trong số đó động đất ghi được  
nhiều hơn dọc đới đứt gãy Sông Đà, số ít hơn cũng  
ghi nhận được đã xảy ra trong các đới đứt gãy:  
Sông Chảy, Sông Hồng, Sông Lô, Sông Cả và các  
đứt gãy trẻ phương kinh tuyến nằm kẹp giữa hai  
đới đứt gãy Sơn La - Bỉm Sơn và đứt gãy Sông  
Mã [11].  
Theo thống kê từ các kết quả quan trắc của  
mạng trạm động đất mang tính khu vực cho lãnh  
thổ Bắc Việt Nam do Viện Vật lý Địa cầu vận hành  
trong nhiều năm qua và các kết quả nghiên cứu  
khác thì động đất trong đới đứt gãy Sông Mã tại  
phần nằm trên đất Thanh Hóa tập trung chủ yếu  
Đáng lưu ý là mạng trạm cũng đã ghi được  
không ít số trận động đất nhỏ xảy ra trong hai đới  
đứt gãy trẻ phương kinh tuyến là đứt gãy Thường  
Xuân - Bá Thước và đứt gãy Thạch Thành - Nông  
Cống. Trong đó số, động đất ghi được xảy ra trong  
đới Thạch Thành - Nông Cống còn dày hơn so với dọc theo đoạn từ tây bắc huyện Ngọc Lặc đến biên  
42  
gãy Thường Xuân - Bá Thước và đứt gãy Nông  
Cống - Thạch Thành .  
giới Việt - Lào, nhiều nhất là khu vực huyện Quan  
Sơn. Tuy nhiên, các trận động đất nhỏ do mạng  
máy địa phương ghi được trong thời gian vừa qua  
đã cho thấy hoạt động địa chấn của đới đứt gãy  
này tương đối tích cực và không chỉ giới hạn trong  
đoạn vừa nêu. Tại đoạn từ khu vực huyện Thường  
Xuân ra phía gần bờ biển, đoạn trước đây được coi  
bình ổn thì các trận động đất nhỏ phân bố tương  
đối đều và khá dày dọc theo đới đứt gãy (hình 4).  
Có thể thấy, trong nhánh chính của đới đứt gãy và  
các nhánh phụ đều quan sát thấy động đất nhỏ,  
Đặc điểm hoạt động địa chấn do mạng máy tại  
Thanh Hóa ghi nhận như trên cũng chỉ mới là kết  
quả bước đầu, mối quan hệ với các yếu tố địa chất  
- kiến tạo mang tính chất địa phương hiện chưa có  
nhiều cơ sở để minh giải. Điều này cho thấy việc  
đẩy mạnh nghiên cứu chi tiết hơn hoạt động của  
các đới đứt gãy bằng phương pháp địa chất - kiến  
tạo và phương pháp khác làm cơ sở cho liên kết  
giải thích đặc điểm hoạt động địa chấn là rất  
nhưng trong các nhánh ở sườn tây nam xảy ra cần thiết.  
nhiều động đất hơn. Đối với đứt gãy Sơn La - Bỉm  
Song song với nghiên cứu về đứt gãy cần bố trí  
Sơn do khoảng cách đến mạng trạm xa hơn nên số  
lượng các trận động đất nhỏ ghi được cũng ít hơn.  
Chúng phân bố tập trung chủ yếu tại đoạn từ huyện  
Vĩnh Lộc ra phía biển. Một số trận ghi được có  
chấn tâm ở ngoài biển cũng có thể nằm trong phần  
kéo dài của đới đứt gãy này [11]. Đặc điểm trên  
tương đối phù hợp với hoạt động động đất trong  
các kết quả nghiên cứu khu vực từ trước.  
lại mạng máy địa chấn bằng cách mở rộng vùng  
quan trắc để có thể ghi được đầy đủ hơn các trận  
động đất nhỏ xảy ra không chỉ trong đới Sông Mã  
mà cả các đới đứt gãy lân cận như Sơn La - Bỉm  
Sơn, Sông Đà,…  
TÀI LIỆU DẪN  
[1] Trần Trọng Huệ, 2002: Nghiên cứu đánh  
giá tổng hợp các loại hình tai biến địa chất lãnh thổ  
Việt Nam và các giải pháp phòng tránh (Giai đoạn  
I - Phần Bắc Trung Bộ). Báo cáo Đề tài độc lập cấp  
nhà nước - 2001. Lưu trữ Viện Địa chất.  
Độ sâu chấn tiêu của các trận động đất hầu hết  
đều nằm trong độ sâu giới hạn của vỏ Trái Đất.  
Phần lớn động đất xảy ra trong khoảng độ sâu từ  
10 đến 25km, có một số trận trận xảy ra trong các  
tầng nông 5-7km. Như vậy, các giá trị độ sâu chấn  
tiêu nhận được trong nghiên cứu này cũng khẳng  
định thêm kết quả nghiên cứu đánh giá về độ sâu  
của chấn tiêu động đất ở hầu hết các vùng ở lãnh  
thổ Việt Nam giới hạn trong vỏ Trái Đất [13, 14].  
[2] Nguyễn Văn Hùng, 2002: Một số đặc điểm  
đứt gãy Tân kiến tạo khu vực Tây Bắc. Luận án  
Tiến sĩ địa chất. Lưu trữ Viện Địa chất.  
[3] Lay Thorne, Terry C. Wallace, 1995:  
Modern global Seismology. Academic Press. Inc.,  
San Diego, California, 521pp.  
5. Kết luận  
Kết quả bước đầu quan trắc động đất tại vùng  
Thanh Hóa bằng mạng máy địa phương cho thấy,  
đoạn đông nam đới đứt gãy Sông Mã và Sơn La -  
Bỉm Sơn không yên tĩnh về hoạt động địa chấn.  
Nhiều động đất nhỏ đã được ghi nhận xảy ra tại  
đoạn từ Thường Xuân ra phía biển trong đới Sông  
Mã, đoạn mà trước đây theo mạng quan trắc khu  
vực được đánh giá gần như yên tĩnh. Tuy vậy, các  
kết quả này không mâu thuẫn với các kết quả  
nghiên cứu từ trước, bởi mạng máy khu vực thưa,  
ít khả năng ghi được các trận động đất nhỏ mang  
tính địa phương.  
[4] Lee, W. H. K. and J.C Larh, 1972:  
HYPO71: a computer program for determining  
hypocenter, magnitude, and the first motion pattern  
of local earthquakes, USGS, Open-File report,  
29pp.  
[5] Lee, W.H.K. and C.M. Valdes, 1985:  
HYPO71PC: a perconal computer version of the  
HYPO71 earthquake location program, USGS,  
Open-File report 85-749, 43pp.  
[6] Le Minh Nguyen, Tin-Li Li, Yih-Min W,  
Bor-Shouh Huan, Chien-Hsin Chan,Win-Gee  
Huan, Tu Son Le, and Dinh Van Toan, 2011: The  
first ML scale in North of Vietnam. J. of Asian  
Earth Sciences 40, 279-286.  
Kết quả quan trắc cũng đã ghi được một số  
động đất xảy ra trong các đới đứt gãy khác xa hơn  
như: đứt gãy Sông Đà, Sông Hồng, Sông Chảy,  
Sông Lô, Sông Hiếu, Sông Cả. Đáng lưu ý là có  
không ít động đất nhỏ xảy ra trong một số đới đứt  
gãy kinh tuyến còn rất ít được nghiên cứu là đứt  
[7] Trần Văn Thắng (chủ biên), 2011: Nghiên  
cứu mối liên quan của các loại hình tai biến địa  
chất với sự hoạt động hiện đại của các đới phá hủy  
43  
kiến tạo á kinh tuyến khu vực Tây Bắc Việt Nam.  
Báo cáo đề tài cấp VKH&CNVN. Lưu trữ Viện  
Địa chất.  
[13] Nguyễn Đình Xuyên, 2004: Dự báo động  
đất và dao động nền ở Việt Nam. Báo cáo tổng kết  
đề tài độc lập cấp nhà nước, Viện Vật lý Địa cầu,  
VKH&CNVN, Hà Nội.  
[8] Nguyễn Ngọc Thuỷ (chủ biên), 2005:  
Nghiên cứu chi tiết động đất Tây Bắc. Báo cáo Đề  
tài độc lập cấp nhà nước, mã số: KC.08.10. Lưu trữ  
Viện VLĐC.  
[14] Nguyễn Đình Xuyên, Lê Tử Sơn, 2005:  
Đánh giá độ nguy hiểm động đất lãnh thổ Việt  
Nam. Tuyển tập báo cáo HNKHKT Địa vật lý lần  
thứ 4, 281-303.  
[9] Đinh Văn Toàn (chủ biên), 2010: Nghiên  
cứu cấu trúc sâu vỏ Quả đất miền Bắc Việt Nam  
bằng địa chấn dò sâu và từ tellua nhằm nâng cao  
độ tin cậy các dự báo thiên tai địa chất. Báo cáo đề  
tài nhà nước: KC.08.06/06-10. Lưu trữ Trung tâm  
Thông tin KHCN Quốc gia.  
[15] Nguyễn Đình Xuyên, 2009: Động đất trên  
lãnh thổ Việt Nam. Trong: “Địa động lực Kainozoi  
miền Bắc Việt Nam. Tuyển tập kỷ niệm 10 năm  
hợp tác nghiên cứu khoa học địa chất Việt Nam -  
Ba Lan (1999-2009), 165-177.  
[10] Đinh Văn Toàn, Chau - Huei Chen, Strong  
Wen, Lại Hợp Phòng, Trần Anh Vũ, Trịnh Việt  
Bắc, Nguyễn Thị Hồng Quang, Dương Thị Ninh,  
2011: Kết quả bước đầu định vị chấn tiêu các trận  
động đất ghi bởi mạng trạm máy địa phương hệ  
Guralp-6TD, bố trí dọc đoạn phía nam đới đứt gãy  
Sông Mã - địa phận Thanh hóa. Báo cáo HNQT:  
“Nguy hiểm động đất - sóng thần và các hệ thống  
cảnh báo sớm khu vực Châu Á - Thái Bình  
Dương”, Hà Nội, 5-6 tháng 9 năm 2011, 98-103.  
[16] Nguyễn Trọng Yêm (chủ biên), 1998:  
Nghiên cứu thiên tai nứt đất lãnh thổ Việt Nam.  
Báo cáo Đề tài Độc lập cấp Nhà nước 1994-1998.  
Lưu trữ Viện Địa chất.  
[17] Wen Strong, Lai Hop Phong, Tran anh  
Vu, Dinh Van Toan, Wen Yen Chang, Chau-Huei  
Chen, 2011. The seismicity and focal mechanism  
analysis of the Ma River fault area, Vietnam.  
Section 3: Geohazards & applied geophysics,  
International Workshop on Advances research in  
Geosciences in Asia, Hanoi November 19-22,  
2011, p. 102-103.  
[11] Đinh Văn Toàn (chủ biên), 2012: Nghiên  
cứu đánh giá chi tiết hoạt động địa chấn đới đứt  
gãy Sông Mã (Đoạn Thanh Hoá - Nghệ An) và đặc  
điểm một số thông số động học nền đất các khu  
vực quan trọng về kinh tế - xã hội trong vùng  
nghiên cứu. Báo cáo tổng kết đề tài cấp  
VKHCNVN, 2012. Thư viện VKH&CNVN.  
[18] Wu H.H., Tsai Y.B., Lee T.Y., Lo C.H.,  
Hsieh C.H., Toan D.V., 2005: 3-D shear wave  
velocity structure of the crust and upper mantle in  
South China Sea and its surrounding regions by  
suface wave dispersion analysis. J. Marine  
Geophysics Researches, Springer, V.25, 5-27.  
[12] Agustin Udias, 1999: Principles of  
Seismology.Cambridge University Press, 475pp.  
Phụ lục 1. Danh mục động đất ghi được từ 3 trạm trở lên của mạng máy Thanh Hóa  
Thời gian  
Năm/ tháng/ ngày  
Tọa độ  
Độ sâu (km)  
Magnitude  
TT  
Giờ phút giây  
11:32:47.58  
Kinh độ  
105.037  
Vỹ độ  
19.022  
1
2
2010/4/16  
2010/4/27  
2010/5/05  
2010/5/09  
2010/5/17  
2010/5/20  
2010/5/26  
2010/6/03  
2010/6/11  
2010/6/12  
2010/6/26  
2010/7/05  
2010/7/06  
2010/9/07  
2010/7/13  
2010/7/23  
2010/8/02  
7,0  
7,0  
1,9  
2,7  
0,4  
1,2  
1,2  
1,1  
1,3  
0,8  
0,7  
1,3  
0,4  
1,4  
1,2  
3,1  
1,7  
0,9  
1,6  
20:28:23.37  
16:34:08.77  
06:03:34.56  
04:19:17.37  
18:59:09.78  
03:56:22.34  
05:39:19.84  
17:05:03.04  
19:30:53.24  
18:9:24.63  
105.085  
105.575  
105.575  
105.594  
105.005  
105.575  
105.222  
105.724  
105.233  
105.421  
105.575  
105.392  
105.372  
105.283  
105.526  
105.361  
20.313  
19.646  
19.004  
20.135  
19.011  
19.646  
20.045  
20.015  
19.545  
19.524  
19.646  
19.480  
19.483  
19.698  
20.074  
20.024  
3
11,2  
7,0  
4
5
10.9  
7,0  
6
7
11,6  
7,0  
8
9
35,3  
16,3  
30,5  
7,0  
10  
11  
12  
13  
14  
15  
16  
17  
19:40:33.67  
19:13:41.23  
15:48:14.45  
22:25:34.46  
04:21:19.31  
06:43:23.31  
7,0  
7,0  
7,0  
11.9  
7,0  
44  
18  
19  
20  
21  
22  
23  
24  
25  
26  
27  
28  
29  
30  
31  
32  
33  
34  
35  
36  
37  
38  
39  
40  
41  
42  
43  
44  
45  
46  
47  
48  
49  
50  
51  
52  
53  
54  
55  
56  
57  
58  
59  
60  
61  
62  
63  
64  
65  
66  
67  
68  
69  
70  
71  
72  
73  
74  
75  
76  
77  
2010/8/17  
2010/9/03  
2010/9/04  
2010/9/05  
2010/9/06  
2010/9/07  
2010/9/10  
2010/9/10  
2010/9/13  
2010/9/17  
2010/9/18  
2010/9/19  
2010/9/19  
2010/10/10  
2010/10/19  
2010/10/20  
2010/11/19  
2010/11/21  
2011/1/09  
2011/2/10  
2011/2/10  
2011/2/10  
2011/2/15  
2011/2/16  
2011/2/20  
2011/2/20  
2011/2/21  
2011/2/23  
2011/2/24  
2011/3/07  
2011/3/09  
2011/3/09  
2011/3/10  
2011/3/11  
2011/3/11  
2011/3/11  
2011/3/11  
2011/3/11  
2011/3/12  
2011/3/12  
2011/3/12  
2011/3/13  
2011/3/15  
2011/3/15  
2011/3/17  
2011/3/17  
2011/3/19  
2011/3/19  
2011/3/20  
2011/3/22  
2011/3/24  
2011/3/27  
2011/3/29  
2011/4/01  
2011/4/03  
2011/4/06  
2011/4/07  
2011/4/09  
2011/4/11  
2011/4/11  
04:22:47.25  
11:26:52.24  
04:54:43.92  
17:40:17.12  
17:20:35.57  
15:48:13.13  
04:07:03.52  
13:26:39.12  
04:23:13.26  
19:27:23.67  
10:09:25.13  
08:58:27.02  
15:58:45.67  
20:47:23.51  
20:21:53.79  
03:20:34.21  
22:06:45.89  
12:35:56.12  
15:29:45.21  
05:04:26.55  
14:43:44.37  
14:49:41.02  
07:21:18.66  
18:51:30.68  
14:36:11.02  
21:51:51.50  
11:09:07.19  
15:54:05.83  
20:04:56.63  
00:19:31.43  
02:51:42.84  
21:28:20.39  
17:13:42.93  
11:43:21.43  
15:20:08.38  
15:26:07.84  
18:17:55.50  
22:58:13.20  
13:21:50.33  
14:49:57.08  
23:31:43.91  
01:32:48.99  
13:34:56.78  
15:31:07.77  
04:20:50.45  
13:01:40.32  
02:38:13.99  
10:03:26.66  
08:29:26.72  
07:25:44.66  
13:56:15.60  
22:30:29.52  
11:01:14.22  
17:10:47.75  
20:12:23.26  
14:01:14.46  
14:39:32.09  
13:03:11.91  
08:22:36.86  
23:14:47.07  
105.312  
105.076  
105.222  
105.385  
105.372  
105.222  
105.312  
105.222  
105.160  
105.072  
105.195  
105.222  
104.947  
105.309  
105.159  
105.441  
105.555  
105.883  
105.042  
105.770  
105.862  
106.059  
106.886  
105.139  
104.808  
105.309  
105.962  
105.201  
105.350  
106.220  
102.798  
105.374  
105.654  
106.626  
105.502  
106.062  
106.383  
106.345  
105.003  
105.991  
105.631  
105.706  
105.559  
105.691  
105.942  
105.565  
105.433  
105.938  
106.104  
106.257  
104.672  
105.946  
104.720  
105.731  
105.696  
106.486  
105.622  
105.734  
106.281  
106.104  
19.362  
19.495  
20.045  
19.371  
19.771  
19.290  
20.003  
20.045  
20.003  
19.797  
20.142  
20.045  
20.220  
19.753  
19.305  
18.927  
19.806  
20.130  
20.045  
19.181  
19.647  
19.291  
20.096  
19.432  
17.553  
21.921  
19.731  
19.806  
19.938  
19.551  
19.847  
20.742  
19.498  
21.077  
19.823  
20.284  
20.633  
20.480  
20.160  
20.144  
19.972  
19.871  
19.921  
19.969  
20.329  
19.912  
19.652  
20.143  
19.847  
20.504  
19.971  
20.081  
19.827  
20.357  
18.838  
20.759  
20.119  
19.997  
20.719  
20.187  
7,0  
27,3  
7,0  
1,1  
0,9  
2,6  
3,0  
0,9  
3,1  
2,1  
2,9  
2,1  
0,9  
2,6  
2,3  
4,2  
2,3  
1,3  
3,8  
0,8  
0,9  
1,0  
0,7  
1,0  
1,4  
1,9  
2,2  
0,9  
2,8  
0,9  
1,0  
1,6  
2,1  
0,8  
2,4  
1,7  
2,7  
0,9  
2,1  
1,9  
1,7  
0,8  
1,4  
1,3  
2,4  
0,9  
1,6  
1,7  
1,0  
0,9  
1,4  
2,4  
2,4  
2,6  
1,7  
1,9  
0,7  
2,6  
2,5  
1,9  
0,8  
2,5  
0,9  
7,0  
35,5  
7,0  
34,3  
7,0  
2,1  
7,0  
4,0  
7,0  
10,3  
7,0  
9,7  
17,3  
35,2  
11,8  
8,7  
7,3  
16,3  
23,3  
15,4  
14,4  
19,8  
23,9  
27,2  
20,7  
6,8  
19,5  
12,8  
30,5  
21,8  
18,9  
18,7  
19,5  
21,8  
13,7  
39,1  
14,5  
10,2  
15,8  
16,1  
7,08  
24,7  
15,9  
15,1  
14,8  
11,0  
15,1  
26,8  
27,3  
18,4  
10,5  
15,1  
21,9  
33,8  
12,9  
17,5  
18,4  
45  
78  
79  
80  
81  
82  
83  
84  
85  
86  
87  
88  
89  
90  
91  
92  
93  
94  
95  
96  
97  
98  
99  
100  
101  
2011/4/12  
2011/4/13  
2011/4/13  
2011/4/14  
2011/4/20  
2011/4/21  
2011/4/21  
2011/4/23  
2011/4/23  
2011/4/29  
2011/4/29  
2011/4/30  
2011/5/05  
2011/5/05  
2011/5/06  
2011/5/10  
2011/5/13  
2011/5/14  
2011/5/21  
2011/5/21  
2011/6/03  
2011/6/05  
2011/6/07  
2011/11/07  
05:14:25.26  
20:04:13.90  
20:39:08.17  
21:09:29.35  
12:45:32.78  
02:01:42.77  
13:43:20.14  
04:26:56.16  
21:20:14.19  
03:16:37.52  
20:29:02.09  
08:39:17.35  
15:05:26.61  
17:08:55.10  
06:51:07.68  
15:31:16.21  
23:42:37.89  
21:13:31.10  
13:11:11.43  
20:32:14.39  
07:29:58.36  
12:03:15.91  
18:11:36.55  
06:25:48.64  
105.686  
106.605  
106.396  
105.065  
105.497  
105.727  
106.284  
106.173  
105.966  
105.259  
104.087  
105.587  
105.752  
105.912  
108.327  
106.353  
105.322  
104.807  
106.723  
105.304  
103.050  
105.190  
104.687  
105.486  
20.090  
20.714  
20.660  
20.031  
20.077  
20.506  
20.246  
19.766  
19.600  
19.874  
17.452  
19.869  
20.109  
20.378  
18.727  
20.791  
19.586  
20.303  
20.458  
20.109  
17.210  
19.203  
19.736  
19.960  
9,2  
14,2  
18,5  
17,9  
6,1  
1,2  
0,8  
0,6  
1,3  
0,7  
1,5  
0,8  
2,3  
1,4  
1,7  
2,5  
0,9  
1,5  
1,8  
2,9  
2,3  
1,6  
1,7  
2,7  
1,8  
3,1  
1,5  
0,9  
3.5  
19,4  
17,5  
27,2  
18,1  
5,1  
26,7  
4,9  
33,5  
18,7  
16,5  
16,4  
24,4  
30,8  
25,8  
20,6  
24,2  
16,3  
17,8  
8,5  
SUMMARY  
The preliminary results of earthquake observation by deployment of the local seismic network Guralp-6TD  
in the region of Thanh Hoa province  
Ma River and Son La - Bim Son active faults predicted as the strongest seismogenic zones in Vietnam with the  
maximum earthquake can be reached 7.1 degree on Richter scale. The seismicity of these fault zones at several  
segments in Northwest regions is much more active than that at the southeast segments of the Thanh Hoa province. The  
low seismicity in these segments may be related to the sparse network of the instruments in these areas. A large region  
of Thanh Hoa and Nghe An provinces is distributed only three instruments, thus it is very difficult for us to sufficiently  
record small earthquakes. Since November 2009, in the framework of the cooperation between the Institute of  
Geological Sciences - VAST and the Chung Cheng National University - Taiwan, we connected a local seismic network  
Guralp-6TD with 12 instruments along the south-eastern of Ma River fault in Thanh Hoa Province to study more detail  
the seismic activity of the Ma River and Son La - Bim Son Faults. Our equipment recorded about 300 earthquakes during  
the past three years, and located near 190 earthquakes among them, the greatest part of them is small earthquakes.  
According to the study the segments of Ma River and Son La - Bim Son faults in Thanh Hoa province are not quite  
by seismic activity. The correlation to the tectonic fault distribution is revealed the small earthquakes happened in all the  
branches of the Ma River fault and the density of the earthquakes in the southwest branches is higher than in the  
northeast ones. The high density of the small earthquakes is detected in the section from Thuong Xuan district to the sea  
bank, where accepted as a stable section in the previous studies. A not small portion of the earthquakes is occured in  
the Son La - Bim Son, Hieu River faults, etc... Much more interesting result is the detection of a large number of small  
earthquakes inside the young submeridian tectonic faults Thuong Xuan - Ba Thuoc and Thach Thanh - Nong Cong.  
These faults are sill not well studied up to now by both tectonics and earthquake observation.  
46  
pdf 11 trang Mãnh Khiết 12/01/2024 19820 Free
Bạn đang xem tài liệu "Kết quả bước đầu quan trắc động đất nhỏ bằng mạng máy địa phương GURALP-6TD bố trí tại vùng Thanh Hoá", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfket_qua_buoc_dau_quan_trac_dong_dat_nho_bang_mang_may_dia_ph.pdf