Xử lý Asen trong nước ngầm tại tiểu đoàn 3/lữ đoàn 962/QK9 bằng công nghệ keo tụ điện hóa sử dụng điện cực sắt

Nghiên cứu khoa học công nghệ  
XỬ LÝ ASEN TRONG NƯỚC NGẦM  
TẠI TIỂU ĐOÀN 3/LỮ ĐOÀN 962/QK9 BẰNG CÔNG NGHỆ  
KEO TỤ ĐIỆN HÓA SỬ DỤNG ĐIỆN CỰC SẮT  
Phạm Hồng Tuân*, Ngô Văn Thanh Huy, Nguyễn Thị Thủy, Nguyễn Thanh Tùng  
Tóm tắt: Tại Việt Nam, mức độ ô nhiễm Asen trong nước ngầm trên địa bàn  
Quân khu 9 là khá phổ biến. Nồng độ Asen trung bình trong nước đều vượt ngưỡng  
10 ppb theo tiêu chuẩn nước cấp ăn uống QCVN 01:2009/BYT và khuyến cáo của  
Tổ chức y tế thế giới WHO. Các nghiên cứu gần đây đã cho thấy phương pháp keo  
tụ điện hóa (electrocoagulation) có hiệu quả cao trong việc xử lý nước bị nhiễm  
Asen. Tiếp theo kết quả nghiên cứu trước đó, mô hình thử nghiệm xử lý Asen trong  
nước ngầm lấy tại tiểu đoàn 3/Lữ đoàn 962/QK9 đã được thiết lập tại phòng thí  
nghiệm với điện cực sắt, dung tích 6,8 lít, mật độ điện tích 2,5mA/cm². Thử nghiệm  
đã cho kết quả tốt, HRT=15 phút (tương ứng mật độ điện tích 168 C/L), hiệu quả  
loại bỏ As đạt trên 98%, hàm lượng Asen sau xử lý nhỏ hơn 10 ppb. Bên cạnh đó,  
kết quả thử nghiệm cũng đã ghi nhận mức độ tiêu hao điện năng ước tính xấp xỉ 6  
W.h, lượng điện cực hao mòn 1,3 gFe2+/giờ.  
Từ khóa: Xử lý Asen, Keo tụ điện hóa, Tiểu đoàn 3/Lữ đoàn 962/QK9.  
1. MỞ ĐẦU  
Tại Việt Nam, một số nghiên cứu về Asen (As) trong nước ngầm đã đưa ra kết  
quả đáng chú ý về mức độ nhiễm As trong nước ngầm ở 10 vùng thuộc khu vực  
châu thổ sông MeKong[1, 2]. Mức độ ô nhiễm As trong nước ngầm trên địa bàn QK  
9 là khá phổ biến, nhất là các tỉnh Tiền Giang, Vĩnh Long, Bến Tre, An Giang, Hậu  
Giang, Kiên Giang, Đồng Tháp, Cà Mau [1]. As là một chất độc và gây ung thư, việc  
sử dụng nước có chứa As trong ăn uống sẽ gây tổn hại nghiêm trọng đến hệ tiêu hóa,  
tim mạch và hệ thần kinh trung ương. Do đó, USEPA đã đưa ra ngưỡng giới hạn  
nồng độ As tối đa trong nước sinh hoạt từ 50 đến 10 g/L[3]. Nồng độ As trung bình  
tại các tỉnh này đều cao hơn 10 g/L (tiêu chuẩn nước ăn uống theo QCVN và  
WHO), đặc biệt một số nơi có mức độ nhiễm As lên tới gần 1.000 g/L.  
As tồn tại trong môi trường nước tự nhiên dưới 2 dạng chính là Asenit (As (III))  
và Asenat (As (V)). Nồng độ của mỗi loại As phụ thuộc nhiều vào pH và thế ôxy  
hóa khử. Trong 2 dạng trên, As(III) có tính linh động hơn, độc tính cao hơn  
As(V)[4].  
As có thể được loại bỏ ra khỏi nước bằng nhiều phương pháp khác nhau, bao  
gồm: keo tụ với muối sắt hoặc nhôm; hấp phụ bằng than hoạt tính; trao đổi ion; lọc  
thẩm thấu RO và điện thẩm tích [5].  
Trong thời gian gần đây, phương pháp điện keo tụ đã được các nhà nghiên cứu  
ứng dụng thử nghiệm trong xử lý nước và nước thải [6-8]. Kết quả ghi nhận được  
từ các báo cáo đã mở ra một hướng ứng dụng mới để xử lý các chất ô nhiễm trong  
nước, trong đó có As.  
Tiếp theo kết quả nghiên cứu trước đó [9], mô hình keo tụ điện hóa với điện cực  
sắt tại phòng thí nghiệm đã được thiết lập nhằm đánh giá kết quả thử nghiệm xử lý  
nước ngầm nhiễm As lấy tại tiểu đoàn 3/Lữ đoàn 962/QK9.  
Keo tụ điện hóa (Electrocoagulation) là một quá trình diễn ra các phản ứng  
phức tạp và phụ thuộc, tương tác lẫn nhau trong dung dịch điện ly[4]. Về cơ bản,  
khi điện cực được làm từ sắt, các phản ứng xảy ra như sau[10]:  
85  
Tạp chí Nghiên cứu KH&CN quân sự, Số Đặc san NĐMT, 09 - 2017  
Hóa học & Kỹ thuật môi trường  
Phản ứng diễn ra trên bề mặt điện cực anốt:  
Fe(s) Fe2+(aq) + 2e-  
Phản ứng trên bề mặt điện cực catốt:  
2H2O(l) + 2e- H2(g) + 2OH-(aq)  
Phản ứng trong dung dịch điện ly  
(1)  
(2)  
2Fe2+(aq) + 4H2O(l) + O2 2Fe(OH)3(s) + H2(g)  
(3)  
(4)  
(5)  
4Fe2+(aq) + 10H2O(l) + O2 4Fe(OH)3(s) + 8H+  
(aq)  
Fe2+(aq) + 2OH- Fe(OH)2(s)  
Sự hình thành phức hợp chất kết tủa khi có mặt As trong dung dịch  
3-  
3-  
Fe(OH)3(s) + AsO4 (aq) [Fe(OH)3(s)* AsO4 ](s)  
(6)  
Phức kết tủa asenat được hình thành có thể bị loại bỏ bằng quá trình lắng, lọc.  
2. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP  
2.1. Nguồn nước thử nghiệm  
Nhóm nghiên cứu đã tiến hành việc khảo sát, lấy mẫu nước ngầm tại Tiểu đoàn  
3/Lữ đoàn 962/Quân khu 9 (xã Kiến An, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang). Kết quả  
phân tích cho thấy trong nước ngầm có chứa hàm lượng As vượt tiêu chuẩn cho  
phép đối với tiêu chuẩn nước sinh hoạt và ăn uống theo QCVN 01:2009/BYT.  
Bảng 1. Chất lượng nước ngầm tại Tiểu đoàn 3/Lữ đoàn 962/QK9.  
Thông số  
Đơn vị  
Giá trị  
QCVN  
01:2009/BYT  
6,5 – 8,5  
pH  
TDS  
6,82  
475  
mg/L  
1000  
Độ dẫn điện  
Độ cứng  
Ca2+  
Mn tổng  
Fe tổng  
970  
343  
15,8  
0,005  
0,156  
397  
S/cm  
mg/L  
mg/L  
mg/L  
mg/L  
g/L  
350  
0,3  
0,3  
10  
As (tổng)  
2.2. Mô hình thử nghiệm  
Mô hình thử nghiệm  
theo mẻ được lắp đặt tại  
phòng thí nghiệm như hình  
1. Nước có chứa As được  
cho vào bình phản ứng có  
chứa các cặp điện cực và  
được bơm tuần hoàn liên  
tục, tạo sự khuấy trộn để  
các phản ứng diễn ra trong  
dung dịch điện ly được tốt  
Hình 1. Sơ đồ mô hình thử nghiệm.  
86  
P. H. Tuân, N. V. T. Huy, …, “Xử lý Asen trong nước ngầm … sử dụng điện cực sắt.”  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
hơn. Các cặp điện cực được kết nối với dòng điện một chiều thông qua bộ cấp  
nguồn 24V.  
Bình phản ứng có dạng hình chữ  
nhật, được làm từ chất liệu Acrylic  
dày 10mm, kích thước 380 x 100 x  
Bộ cấp nguồn  
điện 1 chiều  
200 (mm). Các cặp điện cực được  
làm từ sắt CT3 với thành phần chính  
là sắt nguyên chất, ngoài ra còn có  
thêm một số nguyên tố khác chiếm tỉ  
Bình phản ứng có  
chứa các cặp điện cực  
bằng sắt  
lệ rất nhỏ như: C < 2%, Mn 0,8%,  
Si 0,4 %, P 0,05%, S 0,05%.  
Hình 2. Mô hình thử nghiệm.  
Các điện cực có dạng hình chữ nhật,  
kích thước giống nhau 170 x 100 x 5 (mm). Tổng diện tích ngập trong nước được  
tính toán là 510 cm2; thể thích nước ngầm xử lý là 6,8 lít.  
Trước khi tiến hành thử nghiệm, điện cực sắt được ngâm trong dung dịch  
H2SO4 20%, sau đó được vệ sinh bề mặt bằng giấy nhám, rửa bằng nước sạch để  
loại bỏ các tạp chất trên bề mặt điện cực.  
Sau mỗi mẻ thí nghiệm, bề mặt điện cực được vệ sinh bằng giấy nhám và rửa  
sạch bằng nước.  
2.3. Lấy mẫu và các phương pháp phân tích  
Mẫu nước sau quá trình điện hóa được lọc qua giấy lọc 0,45m (47 mm Φ,  
Whatman GF/C) để loại bỏ cặn. Hàm lượng As trong nước được xác định bằng  
phương pháp quang phổ phát xạ nguyên tử (ICP).  
Năng lượng tiêu hao trong quá trình điện phân được xác định dựa trên công  
thức như sau:  
E = I. U.t  
(7)  
Trong đó: E-năng lượng tiêu tốn (Wh); I-cường độ dòng điện (ampe); U-hiệu  
điện thế (volt); t-thời gian phản ứng (giờ)  
Lượng sắt từ điện cực anốt bị tiêu hao được tính toán dựa theo định luật Faraday:  
m = ꢀꢁꢃ.ꢂꢄ . ꢀꢅꢆ ꢄ  
(8)  
Trong đó: m-khối lượng kim loại bị hao mòn tại điện cực anốt (g); I-cường độ  
dòng điện (ampe); t-thời gian phản ứng (thời gian lưu nước) (giây); F-hằng số  
Faraday = 96.485 C/mol; M-khối lượng phân tử của kim loại (g/mol); z-hóa trị của  
ion kim loại  
Mật độ dòng điện tính toán theo công thức:  
ꢁ
J =  
(9)  
ꢇ
Trong đó: J- mật độ dòng điện (mA/cm²); I-cường độ dòng điện (mA); A-tiết  
diện ướt của điện cực (cm²).  
87  
Tạp chí Nghiên cứu KH&CN quân sự, Số Đặc san NĐMT, 09 - 2017  
Hóa học & Kỹ thuật môi trường  
3. KẾT QUẢ & THẢO LUẬN  
3.1. Đánh giá sự ảnh hưởng của yếu tố dòng điện trong quá trình điện hóa  
Thí nghiệm được thực hiện tại các mật độ dòng điện khác nhau, thay đổi từ 1  
đến 3 mA/cm². Tại mỗi mật độ dòng điện, các mẫu nước sau quá trình điện hóa  
được lấy tương ứng với thời gian phản ứng từ 5 đến 15 phút. Kết quả thử nghiệm  
được ghi nhận như hình 3.  
Từ hình 3(a) cho thấy, khi mật độ dòng điện càng cao, tỉ lệ giữa nồng độ As tại  
thời điểm “t” so với nồng độ As ban đầu (Ce/Ci) càng giảm. Tuy nhiên, mật độ  
dòng điện cao tương ứng với mức điện năng tiêu thụ lớn, lượng sắt tại anốt tiêu  
hao càng nhiều như ghi nhận trên biểu đồ hình 3(b);(c). Do đó, việc lựa chọn mật  
độ dòng điện hợp lý sẽ giúp tiết kiệm chi phí vận hành, cũng như giảm đáng kể  
lượng bùn thải thứ cấp.  
Hình 3. Quá trình keo tụ điện hóa với các mật độ dòng điện khác nhau.  
a).Ảnh hưởng của dòng điện đến việc loại bỏ As trong nước;  
b).Mức độ tiêu thụ điện năng tại các dòng điện khác nhau;  
c).Mức độ hao mòn điện cực tại các dòng điện khác nhau.  
Kết quả đã cho thấy sự ảnh hưởng rõ ràng của mật độ dòng điện đến hiệu suất  
loại bỏ As trong nước. Dòng điện càng cao, các phản ứng ôxy hóa – khử diễn ra  
trên bề mặt các điện cực càng mãnh liệt, lượng ion kim loại và OH- tạo ra càng  
nhiều theo phản ứng (1) và (2), dẫn đến sự hình các chất kết tủa càng lớn. Tuy  
nhiên, khi duy trì tình trạng trên cũng dẫn đến một hệ quả là tạo ra một lượng bùn  
thải thứ cấp lớn hơn, sự tiêu hao về năng lượng và vật liệu điện cực anốt nhiều  
hơn, thiếu khả thi về mặt kinh tế. Do đó, việc lựa chọn dòng điện, thời gian phản  
ứng phù hợp với hàm lượng As có trong nguồn nước là việc làm cần thiết.  
Kết quả thử nghiệm cho thấy, với hàm lượng As nằm trong giải từ 0 – 1.000  
g/L, mật độ dòng điện nằm trong khoảng 2 – 3 mA/cm2 là hợp lý [9], do đó, mật  
độ dòng điện 2,5 mA/cm2 được lựa chọn để thực hiện thử nghiệm tiếp theo đối với  
mẫu nước ngầm lấy tại Tiểu đoàn 3/Lữ đoàn 962/QK9.  
88  
P. H. Tuân, N. V. T. Huy, …, “Xử lý Asen trong nước ngầm … sử dụng điện cực sắt.”  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
3.2. Kết quả thử nghiệm xử lý As trong nước ngầm tại Tiểu đoàn 3/Lữ đoàn  
962/QK9 với mật độ dòng điện 2,5mA/cm²  
Trong thử nghiệm này, mật độ dòng điện được cố định tại 2,5 mA/cm2 và được  
chuyển đổi thành mật độ điện tích trong dung dịch để khẳng định sự ảnh hưởng  
của dòng điện đến tỷ lệ As bị loại bỏ cũng như mức độ tiêu hao điện năng và sự  
hao mòn điện cực.  
Mật độ điện tích (đơn vị là Coulomb/Lít) được hiểu là lượng điện tích  
(Coulomb) đi qua một đơn vị thể tích dung dịch điện ly (Lít). Công thức tính mật  
độ điện tích như sau:  
ꢊ
ꢌ.ꢍ  
ꢈꢉ =  
=
(10)  
ꢋ
ꢋ
Trong đó: v-mật độ điện tích (C/L); Q-điện tích (Coulomb); V-thể tích nước  
trong bình phản ứng (lít); I-cường độ dòng điện (ampe); t-thời gian phản ứng (giây)  
3.2.1.Sự thay đổi nồng độ Asen và pH trong quá trình điện hóa  
Kết quả thử nghiệm cho thấy, lượng điện tích trong dung dịch tăng đến 168 C/L  
thì tỉ lệ Ce/Ci giảm xuống xấp xỉ 0,02 (hình 4); tương ứng với hiệu quả loại bỏ As  
đạt 99%. Điều này đã cho thấy hiệu quả loại bỏ As trong nước phụ thuộc mật thiết  
vào lượng điện tích trong dung dịch. Điện tích càng cao, quá trình ôxy hóa - khử  
diễn ra tại bề mặt các điện cực diễn ra càng mãnh liệt theo phản ứng (1) và (2), sự  
hình thành phức kết tủa asenate càng nhiều theo phản ứng (6). Edwards (1994);  
Hering và cộng sự (1996) đã có báo cáo về mối tương quan giữa lượng As bị loại  
bỏ với lượng sắt sử dụng trong phản ứng keo tụ hóa học[11, 12]. Theo đó, trong  
quá trình điện hóa, lượng As bị loại bỏ sẽ phụ thuộc vào sự hình thành lượng sắt  
hydroxit trong dung dịch điện ly, như vậy kết quả ghi nhận được là phù hợp với  
các nghiên cứu trước đó.  
Hình 4. pH thay đổi trong quá trình điện hóa.  
Theo như phản ứng (2), lượng OH- tạo ra trong quá trình điện hóa cũng sẽ tỉ lệ  
thuận với lượng điện tích trong dung dịch, điều này lý giải mức độ tăng nhẹ của giá  
trị pH từ 6,8 lên 8,2 như ghi nhận trên hình 4. Mẫu nước sau quá trình điện hóa  
thường có pH nằm trong khoảng giá trị trung tính, bất kể pH đầu vào [9]. Qua đó  
cũng đã cho thấy một “điểm cộng” của phương pháp này là không cần sử dụng hóa  
chất để điều chỉnh pH nguồn nước như phương pháp keo tụ hóa học truyền thống.  
89  
Tạp chí Nghiên cứu KH&CN quân sự, Số Đặc san NĐMT, 09 - 2017  
Hóa học & Kỹ thuật môi trường  
3.2.2.Lượng điện năng tiêu thụ và sự hao mòn điện cực  
Hình 5. Bề mặt điện cực sau quá trình keo tụ điện hóa.  
Kết quả thử nghiệm cũng đã ghi nhận mức độ hao mòn điện cực và lượng điện  
năng tiêu thụ trong quá trình điện hóa và được biểu diễn trên hình 6. Tỉ lệ Ce/Ci  
giảm khi tăng lượng điện tích đi qua dung dịch và có mối tương quan mật thiết đến  
sự hình thành lượng hydroxit sắt dạng kết tủa. Trong quá trình điện hóa, sắt  
hydroxit đưược hình thành từ sự kết hợp ion sắt tan ra từ điện cực anốt với ion OH-  
hình thành tại điện cực catốt. Theo định luật Faraday, lượng sắt từ anốt bị hòa tan  
vào dung dịch sẽ tỉ lệ tương ứng với lượng điện tích đi qua dung dịch [13]. Qua đó  
cho thấy trong quá trình điện hóa, mật độ điện tích càng tăng, hiệu suất loại bỏ As  
càng cao, lượng điện năng tiệu thụ càng lớn, điện cực anốt bị hao mòn càng nhiều.  
Hình 6. Mức độ tiêu hao năng lượng và vật liệu điện cực trong quá trình điện hóa.  
Từ biểu đồ hình 6 cho thấy mật độ điện tích 56 (C/L), tỉ lệ Ce/Ci giảm xuống  
0,1; khi lượng điện tích trong dung dịch tăng lên 112 (C/L) và 168 (C/L), tỉ lệ  
Ce/Ci giảm tương ứng còn 0,05 và 0,02. Lượng điện năng tiêu thụ tăng tuyến tính  
từ 1,98 (W.h) lên 5,93 (W.h); lượng sắt tại anốt bị hao mòn cũng tăng tuyến tính từ  
111 (mg) lên 333 (mg). Từ đó cho thấy tỉ lệ Ce/Ci giảm rất nhanh trong giai đoạn  
đầu của quá trình điện hóa và chậm dần về giai đoạn cuối, trong khi đó mức độ tiêu  
hao về điện năng và điện cực vẫn tăng tuyến tính. Như vậy, mật độ điện tích là một  
90  
P. H. Tuân, N. V. T. Huy, …, “Xử lý Asen trong nước ngầm … sử dụng điện cực sắt.”  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
thông số thích hợp được sử dụng để so sánh các kết quả thí nghiệm khác nhau và  
cũng là một chỉ tiêu thiết kế cơ bản thiết yếu cho quá trình điện hóa.  
Một điểm lưu ý, lượng cặn thứ cấp tạo ra từ quá trình keo tụ điện hóa có thành  
phần chính là sắt và As, cần phải được xử lý theo quy chuẩn hiện hành đối với chất  
thải nguy hại. Do đó, việc điều chỉnh thông số vận hành nhằm tiết giảm lượng bùn  
thải thứ cấp này là rất quan trọng.  
3.2.3.Chất lượng nước sau quá trình điện hóa  
Mẫu nước sau thử nghiệm với mô hình điện hóa được phân tích các chỉ tiêu như  
ghi nhận trong bảng 2. Kết quả cho thấy hiệu suất loại bỏ As trong mẫu nước thử  
nghiệm đạt xấp xỉ 99%, lượng As còn lại nhỏ hơn 10 g/L đạt tiêu chuẩn nước ăn  
uống về chỉ tiêu As theo QCVN01:2009/BYT và theo khuyến cáo của WHO. Bên  
cạnh chỉ tiêu As, các chỉ tiêu đặc trưng cho chất lượng nước ngầm cũng nằm trong  
tiêu chuẩn cho phép.  
Bảng 2. Chất lượng nước ngầm trước và sau quá trình điện keo tụ.  
Chỉ tiêu  
pH  
ĐV  
Mo  
6,8  
M1  
7,4  
QCVN 01:2009/BYT  
6,5 - 8,5  
Ec  
S/cm  
970  
475  
0,005  
0,156  
397  
343  
24  
690  
340  
0,005  
0,032  
7,6  
TDS  
mg/L  
mg/L  
mg/L  
g/L  
mg/L  
mg/L  
1.000  
0,3  
Mn tổng  
Fe tổng  
As tổng  
Độ cứng  
SS  
0,3  
10  
280  
407  
300  
Ghi chú:  
Mo : Mẫu nước ngầm trước khi qua mô hình thử nghiệm  
M1 : Mẫu nước sau thử nghiệm.  
4. KẾT LUẬN  
Trong phạm vi nghiên cứu, kết quả đã cho thấy việc ứng dụng công nghệ điện  
keo tụ trong xử lý Asen là hoàn toàn khả thi. Hiệu suất loại bỏ As trong nước đạt  
mức xấp xỉ 99%. Hàm lượng As còn lại trong nước sau quá trình điện keo tụ nhỏ  
hơn 10g/L, đạt tiêu chuẩn nước cấp ăn uống theo QCVN 01:2009/BYT và theo  
khuyến cáo của WHO.  
Trong quá trình điện hóa, pH của nước có xu hướng tăng theo thời gian phản ứng.  
Kết quả đạt được cũng chỉ ra rằng mật độ điện tích là mộ yếu tố quan trọng, ảnh  
hưởng trực tiếp đến hiệu quả xử lý As cũng như hiệu quả kinh tế thông qua lượng  
điện năng tiệu thụ và sự hao mòn vật liệu trên bề mặt điện cực. Mật độ điện tích  
càng cao, hiệu quả xử lý As càng tăng, mức độ tiêu hao năng lượng và điện cực  
91  
Tạp chí Nghiên cứu KH&CN quân sự, Số Đặc san NĐMT, 09 - 2017  
Hóa học & Kỹ thuật môi trường  
càng nhiều, kéo theo sự hình thành bùn thải thứ cấp nhiều. Do đó, việc lựa chọn mật  
độ điện tích phù hợp trong quá trình thiết kế công trình là hết sức cần thiết.  
Kết quả thử nghiệm hoàn toàn phù hợp với cơ chế loại bỏ As trong nước bởi sự  
3-  
hình thành phức hợp kết tủa [Fe(OH)3.AsO4 ], chất kết tủa này hoàn toàn có thể bị  
loại bỏ khỏi nước bằng quá trình lắng, lọc. Lượng bùn thải cần phải có quy trình  
xử lý phù hợp với quy định hiện hành về chất thải nguy hại.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1]. Trịnh Đình Bình. "Tổng quan số liệu nồng độ Arsen trong nước ngầm trên địa  
bàn Quân khu 5, 7, 9 và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo". Phân Viện  
NĐMT Quân Sự. Tp.HCM, 2009.  
[2]. Trần Anh Thư, Trần Kim Tính, and Võ Quang Minh. "Nghiên cứu nguồn ô  
nhiễm Arsen trong nước ngầm tại huyện An Phú, tỉnh An Giang". Tạp chí  
khoa học ĐH Cần Thơ, 2011. 17a: p. 118-123.  
[3]. P. Ratna Kumar, et al. "Removal of arsenic from water by  
electrocoagulation". Chemosphere, 2004. 55(9): p. 1245-1252.  
[4]. N. Balasubramanian, et al. "Removal of arsenic from aqueous solution using  
electrocoagulation". Journal of Hazardous Materials, 2009. 167(1–3): p.  
966-969.  
[5]. Dinesh Mohan and Charles U. Pittman Jr. "Arsenic removal from  
water/wastewater using adsorbents—A critical review". Journal of Hazardous  
Materials, 2007. 142(1–2): p. 1-53.  
[6]. N Balasubramanian and K Madhavan. "Arsenic removal from industrial  
effluent through electrocoagulation". Chemical Engineering & Technology,  
2001. 24(5): p. 519-521.  
[7]. A Arulmurugan, et al. "Degradation of textile effluent by electro coagulation  
technique". Bulletin of Electrochemistry, 2007. 23: p. 247-252.  
[8]. S.Chakravarty, et al. "Removal of arsenic from groundwater using low cost  
ferruginous manganese ore". Water Research, 2002. 36: p. 625-632.  
[9]. Pham Hong Tuan, Ngo Van Thanh Huy, and Tran Minh Chi. "Arsenic  
removal from groundwater by electrocoagulation using iron electrodes". in  
ICERN. 2016. HoChiMinh, VietNam.  
[10].Henrik K Hansen, Patricio Núñez, and Rodrigo Grandon. "Electrocoagulation  
as a remediation tool for wastewaters containing arsenic". Minerals  
Engineering, 2006. 19(5): p. 521-524.  
[11].Marc Edwards. "Chemistry of arsenic removal during coagulation and Fe-Mn  
oxidation". Journal of the American Water Works Association;(United  
States), 1994. 86(9).  
[12].Janet G Hering, et al. "Arsenic removal by ferric chloride". American Water  
Works Association. Journal, 1996. 88(4): p. 155.  
[13].Eilen A Vik, et al. "Electrocoagulation of potable water". Water Research,  
1984. 18(11): p. 1355-1360.  
92  
P. H. Tuân, N. V. T. Huy, …, “Xử lý Asen trong nước ngầm … sử dụng điện cực sắt.”  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
ABSTRACT  
ARSENIC REMOVAL FROM GROUNDWATER AT BATTALION  
3/BRIGADE 962/SECTOR 9 BY ELECTROCOAGULATION USING IRON  
ELECTRODES  
In VietNam, the groundwater containing arsenic is quite common in  
Military Zone 9. The average concentration of arsenic in water is higer than  
the drinking water standard QCVN 01:2009/BYT and recommendation from  
World Health Organization (WHO). Recent stuies have shown that  
electrocoagulation is a effective method for arsenic removal from water.  
Following previous study, experiment was carried out in Lab-scale (6,8 L)  
electrocoagulation using iron electrodes to remove arsenic from  
groundwater that taken at Battalion3/Brigade 962/Sector 9. At opearating  
parameters as current density 2,5 mA/cm², HRT=15 min (convert to charge  
density is 168 C/L), arsenic removal efficiency was over 98%, the effluent  
arsenic concentration was less than 10 ppb. Addition, the result recorded the  
energy consumption and iron consumption was approximate 6 W.h and 1,3  
gFe2+/h, respectively.  
Keywords: Arsenic removal, Electrocoagulation, Battalion3/Brigade 962/Sector 9.  
Nhận bài ngày 01 tháng 8 năm 2017  
Hoàn thiện ngày 25 tháng 8 năm 2017  
Chấp nhận đăng ngày 15 tháng 09 năm 2017  
Địa chỉ: Viện Nhiệt đới môi trường,  
57A, Trương Quốc Dung, P.10, Quận Phú Nhuận, TpHCM.  
* Email: [email protected]m.  
93  
Tạp chí Nghiên cứu KH&CN quân sự, Số Đặc san NĐMT, 09 - 2017  
pdf 9 trang Mãnh Khiết 13/01/2024 9540 Free
Bạn đang xem tài liệu "Xử lý Asen trong nước ngầm tại tiểu đoàn 3/lữ đoàn 962/QK9 bằng công nghệ keo tụ điện hóa sử dụng điện cực sắt", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfxu_ly_asen_trong_nuoc_ngam_tai_tieu_doan_3lu_doan_962qk9_ban.pdf