Tổng hợp tài liệu nghiệp vụ 40 bản án về vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài
CÔNG TY LUẬT CÔNG KHÁNH
퐄퐦퐚퐢퐥:
퐇퐨퐭퐥퐢퐧퐞: 0898.200.234
퐀퐝퐝퐫퐞퐬퐬: 33 Trường Chinh, Thành phố Huế
TỔNG HỢP TÀI LIỆU NGHIỆP VỤ
40 BẢN ÁN VỀ VỤ AN LY HÔN DO MỘT BÊN Ở
NƢỚC NGOÀI
TÒA ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
——————————
———————————————————
Bản án số: 47/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 29-4-2020
“V/v "tranh chấp ly hôn"
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quyến
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Hoàng Diệu
Bà Dương Hiền Trúc Lan
Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Minh Thư - Thư ký Tòa án của Tòa án
nhân dân thành phố Cần Thơ.
Ngày 29 tháng 4 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét
xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 44/2019/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 12 năm
2019 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số
49/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2020 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Hồ Thị Thùy D, sinh năm 1995; Địa chỉ: huyện Th, Thành
phố Cần Thơ. Đề nghị xét xử vắng mặt.
Bị đơn: Ông Tsai Ching F, sinh năm 1977; Địa chỉ: Đài Loan. Đề nghị xét xử
vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Hồ
Thị Thùy Dương trình bày:
Do mai mối và tìm hiểu, bà và ông Tsai Ching F tiến đến hôn nhân, có đăng
ký kết hôn theo quy định của pháp luật Việt Nam tại Ủy ban nhân dân huyện Thới
Lai, TP Cần Thơ ngày 02/01/2019. Sau khi kết hôn ông Tsai Ching F trở về Đài
Loan. Còn bà sống tại Việt Nam. Do hai bên bất đồng ngôn ngữ, không tìm được
tiếng nói chung nên ly thân. Nay bà D khởi kiện yêu cầu cho bà được ly hôn với ông
Tsai Ching F. Về con và tài sản chung, nợ chung, không có
Ông Tsai Ching F có văn bản đồng ý ly hôn ngày 06/9/2019 thống nhất trình
bày của bà D, đồng ý ly hôn và đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét
tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận
định:
Về tố tụng: Bà D khởi kiện xin ly hôn với ông Tsai Ching F cư trú tại
Đài Loan nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ,
phù hợp với quy định tài khoản 1 Điều 28, Điều 37 và Điều 469 của Bộ luật tố tụng
dân sự.
Quá trình giải quyết và tại phiên tòa hôm nay, bà D và ông Tsai Ching F yêu
cầu không tiến hành hòa giải và đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, nên căn cứ vào
khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án mở phiên tòa xét xử vắng mặt các
đương sự là có căn cứ.
Về hôn nhân: Hôn nhân giữa bà D và ông Tsai Ching F là hôn nhân hợp
pháp. Sau một thời gian ngắn chung sống thì không còn sống chung nữa, không còn
liên lạc với nhau nên không thể hàn gắn được. Xét thấy mục đích hôn nhân giữa bà
D và ông Tsai Ching F không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, do đó
cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn, cho bà D được ly hôn với ông Tsai Ching F, phù
hợp với Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Các đương sự khai không có,
không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề giải quyết.
Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng,nguyên đơn phải theo
theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 28, khoản 3 Điều 35, Điều 37, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều
228, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, khoản 1 Điều 56 của
Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Về hôn nhân: Cho ly hôn đối với bà Hồ Thị Thùy D và ôngTsai Ching F.
Về con chung, tài sản chung, nợ chung: không có
Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Hồ Thị Thùy D phải chịu 300.000 đồng,
được chuyển số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng bà D đã nộp theo biên lai thu tạm
ứng án phí số 001835 ngày 25/12/2019 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Cần
Thơ sang thành án phí, bà D đã nộp đủ án phí.
Về quyền kháng cáo: Bà D có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày,
ông Tsai Ching F được quyền kháng cáo trong hạn 30 ngày kể từ ngày bản án được
tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp
luật.
Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Đương sự;
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
VKSND TPCT;
Cục THA DS TPCT;
UBND huyện Thới Lai;
Lưu hồ sơ vụ án
Nguyễn Quyến
TÒA ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 123/2020/HNGĐ-ST
Ngày 12-8-2020
V/v ly hôn
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Hồ Điệp.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Vũ Thị Minh Nguyệt
Ông Nguyễn Huy Vĩnh
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành
phố Hải Phòng.
Ngày 12 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng
xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 127/2020/TLST-
HNGĐ ngày 08 tháng 7 năm 2020 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét
xử số 157/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 7 năm 2020 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lê Thị Thanh H, sinh năm 1999, nơi cư trú: Thôn 6, xã
Thủy Triều, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
Bị đơn: Anh CHOI J, sinh năm 1982, nơi cư trú: Số 72 - 1 Junggok-dong,
Gwangjin-gu, Seoul, Hàn Quốc, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn, các bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án chị Lê
Thị Thanh H trình bày:
Chị và anh CHOI J quen biết nhau và đã tổ chức đính hôn vào ngày 28 tháng
8 năm 2017. Sau đó anh CHOI J trở về Hàn Quốc và gửi giấy tờ sang cho chị Hòa
làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Việt Nam. Ngày 03 tháng 11 năm 2017 anh CHOI J
và chị Hòa làm thủ tục kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố
Hải Phòng. Sau đó anh CHOI J trở về Hàn Quốc. Dần dần giữa chị Hòa và anh
CHOI J phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng về tính cách, quan điểm sống. Đến
nay, nhận thấy tình cảm không còn nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với
anh CHOI J.
Về con chung: Chị và anh CHOI J không có con chung.
Về tài sản chung: Anh chị không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án
giải quyết.
Tại bản tự khai của anh CHOI J có hợp pháp hóa lãnh sự trình bày:
Anh và chị Lê Thị Thanh H quen biết nhau và đã tổ chức đính hôn vào ngày
28 tháng 8 năm 2017. Sau đó anh trở về Hàn Quốc và gửi giấy tờ sang cho chị Hòa
làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Việt Nam. Ngày 03 tháng 11 năm 2017 anh CHOI J
và chị Hòa làm thủ tục kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố
Hải Phòng. Sau đó anh trở về Hàn Quốc. Dần dần giữa chị Hòa và anh CHOI J phát
sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng về tính cách, quan điểm sống, hai người thường
xuyên xảy ra cãi vã. Đến nay, nhận thấy tình cảm không còn nên anh và chị Hòa
thống nhất đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn.
Đến nay, do tình cảm vợ chồng không còn nên anh và chị Hòa thống nhất đề
nghị Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng giải quyết cho anh chị được ly hôn.
Về con chung: Anh và chị Lê Thị Thanh H không có con chung, nên không
yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Anh chị không có tài sản chung, nên không yêu cầu Tòa án
giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thẩm quyền: Chị Lê Thị Thanh H làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân
thành phố Hải Phòng giải quyết việc ly hôn với anh CHOI J. Anh CHOI J hiện đang
cư trú tại Hàn Quốc. Theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37,
điểm b khoản 1 Điều 39, Điều 469, Điều 470 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án
thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
hị Lê Thị Thanh H và anh CHOI J vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có ý kiến yêu
cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự,
Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị
đơn.
ề quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Thanh H và anh CHOI J kết hôn trên cơ sở tự
nguyện và có đăng ký kết hôn ngày ngày 16 tháng 5 năm 2019 tại UBND huyện
Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Theo quy định tại Điều 8, Điều 9 của Luật
Hôn nhân và Gia đình là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
hị Lê Thị Thanh H và anh CHOI Jxác định không còn tình cảm và yêu thương nhau
và không còn khả năng đoàn tụ. Hiện anh CHOI J sinh sống và làm việc tại Hàn
Quốc còn chị Lê Thị Thanh H ở Việt Nam. Xét việc chị Lê Thị Thanh H và anh
CHOI J cùng thuận tình ly hôn là tự nguyện do bất đồng về ngôn ngữ, tính
2
cách và quan điểm sống, mục đích hôn nhân không đạt được phù hợp quy định tại
Điều 55 của Luật Hôn nhân và Gia đình nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị
Lê Thị Thanh H và anh CHOI J theo quy định khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân
và Gia đình.
Về con chung: Anh chị không có con chung, không yêu cầu giải quyết
nên Hội đồng xét xử không xét.
Về tài sản chung: Anh chị không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội
đồng xét xử không xem xét.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Lê Thị Thanh H phải chịu án
phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 51, Điều 55 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37,
khoản 4 Điều 147, Điều 151, Điều 152, Điều 153, Điều 154, khoản 1 Điều 228,
Điều 273, Điều 469, Điều 470, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí
Tòa án,
Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Thanh H và anh CHOI J được ly hôn.
Về nuôi con chung và tài sản chung: Chị Lê Thị Thanh H và anh CHOI J
không có con chung và tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Lê Thị Thanh H phải chịu
300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng
được trừ 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia
đình sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí Tòa án số
AA/2016/0008639 ngày 08 tháng 7 năm 2020 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố
Hải Phòng. Chị Lê Thị Thanh H đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ
thẩm.
Về quyền kháng cáo:
Chị Lê Thị Thanh H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ
ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Anh CHOI J được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng tính từ
ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
3
Về quyền yêu cầu thi hành án: Trong trường hợp bản án, quyết định được
thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung
năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật
Thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2014, thời hiệu thi hành án được
thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ
sung năm 2014.
Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
VKSND TP Hải Phòng;
Cục THADS TP Hải Phòng;
UBND huyện Thủy Nguyên, thành phố
Hải Phòng;
(đã ký)
Đương sự;
Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP.
Đặng Hồ Điệp
4
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 125/2020/HNGĐ-ST
Ngày 12-8-2020
V/v ly hôn
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Hồ Điệp.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Vũ Thị Minh Nguyệt
Ông Nguyễn Huy Vĩnh
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành
phố Hải Phòng.
Ngày 12 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng
xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 126/2020/TLST-
HNGĐ ngày 08 tháng 7 năm 2020 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét
xử số 154/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 7 năm 2020 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Trần Thu H, sinh năm 1982, nơi ĐKHKTT: Tổ 4, khu 4,
Thanh Sơn thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh; hiện tạm trú tại: Thôn 2, xã Ngũ
Lão, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
Bị đơn: Anh SEO S, sinh năm 968, nơi cư trú: 625 Jiseong-ri, Mureung-
myeon, Muju-gun, Jeollabuk-do, Hàn Quốc, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn, các bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án chị
Trần Thu H trình bày:
Chị và anh SEO S quen biết nhau và đã tổ chức đính hôn tại thành phố Hải
Phòng. Đến ngày 16 tháng 5 năm 2019, anh chị đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân
dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh. Sau đó anh SEO S trở về Hàn Quốc. Từ
khi anh SEO S trở về Hàn Quốc, hai người bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên
nhân là do khác biệt về tính cách, văn hóa, quan điểm sống, bất đồng ngôn ngữ. Đến
nay, nhận thấy tình cảm không còn và không còn khả năng đoàn tụ nên chị yêu cầu
Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh SEO S.
Về con chung: Chị và anh SEO S không có con chung.
Về tài sản chung: Anh chị không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án
giải quyết.
Tại bản tự khai của anh SEO S có hợp pháp hóa lãnh sự trình bày:
Anh và chị Trần Thu H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại
Ủy ban nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh. Sau khi kết hôn, anh trở lại
Hàn Quốc. Sau đó anh và chị Hà phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng về ngôn
ngữ, khác biệt về tính cách và quan điểm sống. Từ đó đến nay anh chưa trở lại Việt
Nam. Đến nay, do không còn khả năng đoàn tụ và tình cảm vợ chồng không còn
nên anh và chị Hà thống nhất đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng giải
quyết cho anh chị được ly hôn.
Về con chung: Anh và chị Trần Thu H không có con chung, nên không yêu
cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Anh chị không có tài sản chung, nên không yêu cầu Tòa án
giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thẩm quyền: Chị Trần Thu H làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân thành
phố Hải Phòng giải quyết việc ly hôn với anh SEO S. Anh SEO S hiện đang cư trú
tại Hàn Quốc. Theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm b
khoản 1 Điều 39, Điều 469, Điều 470 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc
thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
Chị Trần Thu H và anh SEO S vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có ý kiến
yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân
sự, Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và
bị đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thu H và anh SEO S kết hôn trên cơ sở tự
nguyện và có đăng ký kết hôn ngày ngày 16 tháng 5 năm 2019 tại UBND thành phố
Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh. Theo quy định tại Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và
Gia đình là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Chị Trần Thu H và anh SEO S xác định không còn tình cảm và yêu
thương nhau và không còn khả năng đoàn tụ. Hiện anh SEO S sinh sống và làm việc
tại Hàn Quốc còn chị Trần Thu H ở Việt Nam. Xét việc chị Trần Thu H và anh SEO
S cùng thuận tình ly hôn là tự nguyện do bất đồng về ngôn ngữ, tính cách và quan
điểm sống, mục đích hôn nhân không đạt được phù hợp quy định tại Điều 55 của
2
Luật Hôn nhân và Gia đình nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thu H và
anh SEO S theo quy định khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
Về con chung: Anh chị không có con chung, không yêu cầu giải quyết
nên Hội đồng xét xử không xét.
Về tài sản chung: Anh chị không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội
đồng xét xử không xem xét.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Trần Thu H phải chịu án phí
hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 51, Điều 55 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37,
khoản 4 Điều 147, Điều 151, Điều 152, Điều 153, Điều 154, khoản 1 Điều 228,
Điều 273, Điều 469, Điều 470, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí
Tòa án,
Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thu H và anh SEO S được ly hôn.
Về nuôi con chung và tài sản chung: Chị Trần Thu H và anh SEO S không
có con chung và tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Trần Thu H phải chịu
300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng
được trừ 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia
đình sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí Tòa án số
AA/2016/0008638 ngày 08 tháng 7 năm 2020 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố
Hải Phòng. Chị Trần Thu H đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo:
Chị Trần Thu H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ
ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Anh SEO Sđược quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng tính từ
ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Về quyền yêu cầu thi hành án: Trong trường hợp bản án, quyết định được
thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung
năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
3
quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật
Thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2014, thời hiệu thi hành án được
thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ
sung năm 2014.
Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
VKSND TP Hải Phòng;
Cục THADS TP Hải Phòng;
UBND thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng
Ninh;
(đã ký)
Đương sự;
Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP.
Đặng Hồ Điệp
4
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HÀ TĨNH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số 13/2020/HNGĐ-ST
Ngày 15-7-2020
V/v Hôn nhân và gia đình
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
hành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Chủ toạ
phiên toà: Bà Trương Thị Lệ Thu – Thẩm phán Các
Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thái Linh
Ông Nguyễn Sỹ Quân
Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Thúy Hạnh, Thư ký Tòa án, Tòa án nhân
dân tỉnh Hà Tĩnh;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà
Dương Thị Thanh Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 7 năm 2020, tại Hội trường xét xử số 4, Toà án nhân dân tỉnh
Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số
26/2020/HNGĐ-ST ngày 26 tháng 02 năm 2020 về việc “Tranh chấp hôn nhân và
gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2020/QĐXX-HNGĐ ngày
19/6/2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 13/2020/QĐST-HNGĐ ngày 03/7/2020,
giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Vũ Hùng C; sinh ngày 09/7/1977; địa chỉ: TDP Hưng
Lợi, phường S, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh; (vắng mặt tại phiên tòa).
Bị đơn: Chị Dƣơng Thanh V; sinh ngày 20/09/1977; địa chỉ trước khi
xuất cảnh: TDP Hưng Lợi, phường S, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh. Hiện đang lao động tại
Cộng hòa liên bang Đức (không rõ địa chỉ cụ thể).(vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung Đơn khởi kiện, Bản tự khai và các tài liệu có tại hồ sơ, vụ án
có nội dung như sau:
Nguyên đơn anh Vũ Hùng C trình bày: Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị
Dương Thanh V đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 09/9/2002 tại Ủy ban nhân dân
thị trấn K, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng chung sống hạnh
phúc được một thời gian, đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do
vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm. Năm 2018 chị V đi lao động nước
ngoài, kể từ thời điểm đó đến nay vợ chồng cắt đứt liên lạc. Nhận thấy không còn
tình cảm, nên anh làm đơn yêu cầu ly hôn với chị V.
1
Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung: Vũ Tuấn Đ, sinh ngày 20/10/2003,
Vũ Kiều L, sinh ngày 12/12/2007 và Vũ Thảo N, sinh ngày 09/9/2015. Anh C yêu
cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cháu Vũ Tuấn Đ, giao con chung Vũ Kiều L
và Vũ Thảo N cho chị V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Trong thời gian chị V chưa
về nước, anh vẫn tiếp tục chăm sóc các con chung. Không ai phải thực hiện nghĩa vụ
cấp dưỡng tiền nuôi con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.
Tại Văn bản trình bày ý kiến đề ngày 15 tháng 3 năm 2020, chị Dương Thanh
V trình bày: Vợ chồng chị kết hôn ngày 09/9/2020 tại UBND thị trấn K, huyện H,
tỉnh Hà Tĩnh. Cuộc sống hạnh phúc đến tháng 02/2015 thì phát sinh mâu thuẫn. Chị
nhận thấy không còn tình cảm với anh C và không mong muốn tiếp tục duy trì quan
hệ vợ chồng nên chị đồng ý với yêu cầu ly hôn của anh C.
Về con chung và tài sản chung chị Dương Thanh V thống nhất với quan điểm
của anh Vũ Hùng C. Đồng thời, chị yêu cầu được vắng mặt trong toàn bộ quá trình
giải quyết vụ án và ủy quyền việc giao nhận tài liệu chứng cứ cho chị Dương Thị
Huyền Trang (em gái của chị V).
Về tài sản chung: Nguyên đơn và bị đơn không yêu cầu giải quyết.
Cháu Vũ Tuấn Đ có nguyện vọng được ở với bố. Cháu Vũ Kiều L có nguyện
vọng ở với mẹ.
Chị Dương Huyền Trang chấp nhận sự ủy quyền giao nhận tài liệu chứng cứ
của chị Dương Thanh V và cam đoan đã thông báo đầy đủ các văn bản tố tụng của
Tòa án cho chị V.
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn và bị đơn đều vắng mặt.
Đại diện VKSND tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của
thẩm phán, thư ký và các đương sự, phân tích nội dung vụ việc, đã đề nghị Hội đồng
xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Vũ Hùng C, xử cho anh C
được ly hôn với chị V. Giao con chung Vũ Tuấn Đ cho anh C trực tiếp chăm sóc,
nuôi dưỡng. Giao con chung Vũ Kiều L và Vũ Thảo N cho chị V trực tiếp chăm sóc,
nuôi dưỡng. Trong thời gian chị V chưa về nước anh C tiếp tục chăm sóc các con
chung. Về nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con chung, tài sản chung, nợ chung: Không
yêu cầu nên không xem xét.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]Thủ tục tố tụng:
[1.1] Chị Dương Thanh V hiện đang lao động và cư trú tại nước ngoài. Theo
thông tin cung cấp của Cục quản lý xuất nhập cảnh thì chị V đã xuất cảnh lần gần
đây nhất vào ngày 10/7/2019 qua Cửa khẩu sân bay Quốc tế Nội Bài, hiện chưa có
2
thông tin nhập cảnh nên vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân
tỉnh Hà Tĩnh theo quy định tại Điều 29, Điều 37, Điều 39 Bộ luật TTDS năm 2015.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn và bị đơn đều có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
Căn cứ quy định tại Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án mở phiên tòa xét xử
vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo thủ tục chung.
[2] Nội dung:
[2.1] Quan hệ hôn nhân: Anh Vũ Hùng C và chị Dương Thanh V đã thực hiện
việc đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Kỳ Anh, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh vào ngày
09/9/2002. Căn cứ quy định tại Điều 9, Điều 11, Điều 12, Điều 14 Luật Hôn nhân và
gia đình năm 2000, hôn nhân giữa anh Vũ Hùng C và chị Dương Thanh V là hợp
pháp.
Xét tình trạng hôn nhân của anh Vũ Hùng C và chị Dương Thanh V thấy
rằng:
Mặc dù, anh C và chị V trình bày không thống nhất về thời điểm mâu thuẫn
vợ chồng. Theo anh C, mâu thuẫn phát sinh năm 2018 và nguyên nhân mâu thuẫn là
do bất đồng quan điểm, còn theo chị V mâu thuẫn phát sinh năm 2015, nguyên nhân
mâu thuẫn do không còn tình cảm. Cả hai đều xác nhận mâu thuẫn vợ chồng trầm
trọng, mong muốn ly hôn. Từ năm 2019 đến nay vợ chồng không sống chung.
Như vậy, tình trạng hôn nhân của anh C và chị V đã trầm trọng, vợ chồng
không thực hiện nghĩa vụ “Thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc,
giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ thực hiện các công việc trong gia đình. Vợ chồng
có nghĩa vụ chung sống với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc
do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị,
kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác” (Điều 19 Luật hôn nhân và gia
đình năm 2014).Cả hai đều không mong muốn tiếp tục duy trì quan hệ vợ chồng nên
không đưa ra được biện pháp nào để hàn gắn tình cảm.
Về các căn cứ cho ly hôn:
Anh Vũ Hùng C và chị Dương Thanh V đã thống nhất ly hôn; thỏa thuận về
người trực tiếp nuôi con chung sau ly hôn và phân chia tài sản chung.
Thực tế, hôn nhân của anh C và chị V đã không còn tồn tại, mục đích hôn
nhân không đạt được.
Căn cứ quy định tại Điều 55 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, cần chấp
nhận sự thuận tình ly hôn của các đương sự.
[2.2] Quan hệ con chung: Mặc dù hiện tại chị V không có mặt tại Việt Nam
để thực hiện quyền trực tiếp nuôi con chung, nhưng anh C và chị Vân đã thống nhất
giao các con chung Vũ Kiều L và Vũ Thảo N cho chị V, giao con chung Vũ Tuấn Đ
cho anh C trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Trong thời gian chị V chưa về nước anh
C tiếp tục chăm sóc các con chung thay chị V; không ai phải cấp dưỡng tiền nuôi
con chung. Sự thỏa thuận này không trái đạo đức, không vi phạm pháp luật và phù
3
hợp với nguyện vọng của cháu V, cháu L (cháu Nhi chưa đủ 7 tuổi) và phù hợp với
hoàn cảnh thực tế hiện nay của anh C, chị V. Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp
của các con chung, cần chấp nhận sự thỏa thuận này của các đương sự.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu, Tòa không
xem xét.
[2.4] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 51, 55, 81, 82, 83, 123, 127 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014,
các Điều 28, 37, 228, 273, 469, khoản 2 Điều 479, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
năm 2015; Điều 26, 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Vũ Hùng C:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Vũ Hùng C được thuận tình ly hôn với chị
Dương Thanh V.
Về con chung: Giao con chung Vũ Tuấn Đ, sinh ngày 20/10/2003 cho anh
Vũ Hùng C; giao các chung Vũ Kiều L, sinh ngày 12/12/2007 và Vũ Thảo N, sinh
ngày 09/9/2015 cho chị Dương Thanh V trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. (Anh C tiếp
tục chăm sóc các con chung Vũ Kiều L và Vũ Kiều N cho đến khi chị V về nước).
Không ai phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho ai và có quyền đi lại thăm nom
con chung, không ai được ngăn cản.
Về án phí : Anh Vũ Hùng C phải nộp 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm (đã
nộp 300.000đ tại biên lai số 0000001 ngày 26/02/2020 của Cục thi hành án dân sự
tỉnh Hà Tĩnh).
Nguyên đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án cấp phúc thẩm trong hạn 15
ngày. Bị đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án cấp phúc thẩm trong hạn 01 tháng kể
từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ
theo quy định của pháp luật.
Án xử công khai sơ thẩm, vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
Nơi nhận:
TAND cấp cao;
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
Cục THA tỉnh Hà Tĩnh;
UBND nơi đăng ký kết hôn;
Đương sự;
Lưu HS, TDS.
Trƣơng Thị Lệ Thu
4
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TRÀ VINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 26/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 16-7-2020
V/v Ly hôn
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tống Văn Viên
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Chuẩn
Bà Nguyễn Thị Mười
Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Thị Mai Xuân – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân
dân tỉnh Trà Vinh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông
Thạch Vũ - Kiểm sát viên.
Trong ngày 16 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh,
tiến hành mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 50/2019/TLST-
HNGĐ ngày 06 tháng 12 năm 2019 về việc “Ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án
ra xét xử số: 167/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 6 năm 2020 và Quyết định
hoãn phiên tòa số:142/2020/QĐ-ST ngày 07 tháng 7 năm 2020 giữa:
Nguyên đơn: Chị Diệp Thị Mộng T, sinh 1981 (Có mặt).
Địa chỉ: Khóm A, thị trấn C, huyện T, tỉnh Trà Vinh.
Bị đơn: Anh Ku, I – K, sinh năm 1991. Quốc tịch: Trung q
Địa chỉ: Đường D, khóm E , phường Q, khu Q, thành phố Đ, lãnh thỗ Đ.
(Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 02/12/2019 và bản tự khai nguyên đơn chị Diệp Thị
Mộng T trình bày:
Chị và anh Ku, I – K quen biết nhau tại Đài Loan vào tháng 6 năm 2018, sau
thời gian tìm hiểu anh chị có tình cảm và quyết định tiến tới hôn nhân, có đăng ký
kết hôn tại Ủy ban huyện T, tỉnh Trà Vinh, được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày
29/11/2018. Có tổ chức lễ cưới tại Việt Nam, sau ngày cưới anh chị chung sống
với nhau khoảng 01 tuần lễ tại Việt Nam, anh KuiK trở về Đài Loan thời gian này
hai bên không thường xuyên liên lạc với nhau, chị dự định sang Đài Loan đoàn tụ
với anh nhưng qua 02 lần phỏng vấn không thành công, đồng thời anh KuiK mất
liên lạc với chị, hai bên bất đồng về ngôn ngữ, cách xa địa lý không thể quan tâm
chăm sóc cho nhau được nên chị yêu cầu ly hôn với anh KuiK. Về con chung, nợ
chung và tài sản chung: không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Đối với bị đơn anh KuiK vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, đã được Tòa án
tiến hành thủ tục ủy thác tư pháp theo quy định của pháp luật Việt Nam, đồng thời
anh có văn bản trình bày ý kiến đồng ý ly hôn với chị T.
kiến của Kiểm sát viên: Thẩm phán và Hội đồng xét xử thực hiện đúng các
quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa
vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Xét thấy hoàn cảnh của chị T và anh
KuiK cách xa nhau về địa lý, khác biệt trong quan điểm sống, dẫn đến phát sinh
nhiều mâu thuẫn, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T,
cho chị T được ly hôn với anh KuiK. Về con chung, tài sản chung và nợ chung:
không có, không yêu cầu, nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của kiểm sát viên. Hội
đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Chị Diệp Thị Mộng T
khởi kiện ly hôn với anh KuiK đang sinh sống tại lãnh thỗ Đài Loan, đây là vụ án
ly hôn. Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự
thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.
[2] Về tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh đã thực
hiện thủ tục ủy thác tư pháp dân sự đối với anh KuiK theo đúng quy định pháp
luật, anh KuiK vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2, đồng thời có văn bản phúc đáp
trình bày ý kiến thống nhất về quan hệ hôn nhân, con chung, tài sản và nợ chung;
đồng ý ly hôn với chị T. Căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự 2015,
Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh KuiK.
Về hôn nhân: Xét thấy chị T và anh KuiK xác lập quan hệ hôn nhân vào
năm 2018, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện T theo quy định của
pháp luật Việt Nam. Sau khi kết hôn anh chị không có thời gian chung sống hạnh
phúc với nhau do hai bên có sự bất đồng về ngôn ngữ và quan điểm sống, anh
2
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tổng hợp tài liệu nghiệp vụ 40 bản án về vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
tong_hop_tai_lieu_nghiep_vu_40_ban_an_ve_vu_an_ly_hon_do_mot.pdf

