Tài liệu Kỷ yếu hội nghị khoa học sinh viên về sở hữu trí tuệ (Nhân ngày Sở hữu trí tuệ thế giới 26.4.2018)
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHXH&NV
BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
CỤC SỞ HỮU TRÍ TUỆ
KỶ YẾU
HỘI NGHỊ KHOA HỌC SINH VIÊN
VỀ SỞ HỮU TRÍ TUỆ
(Nhân ngày Sở hữu trí tuệ thế giới 26.4.2018)
Hà Nội, ngày 21 tháng 4 năm 2018
1
2
MỤC LỤC
TT
Tác giả
Lớp Trường
3917 Trường
Tên đề tài
GVHD
Trang
1. Trần Việt
Anh
Bảo hộ quyền tác giả PGS.TS
7
Đại học đối với tác phẩm văn Vũ Thị
Luật Hà học, nghệ thuật dân Hải Yến
Nội
gian miền biển
2. Thạch
Hồng
Thị Ánh
K60A Trường
Ứng dụng sáng chế số PGS.TS
41
Đại học WO2004098301
Khoa
học Xã
hội và
Nhân
Trần Văn
Hải
“Procedure for the
Chu Kim
Trần Quốc
Chi
preservation
of
Long
bananas”
để bảo quản chuối ngự
Đại Hoàng
văn
3. Nguyễn Thanh Hưng
Luật
Trường
Xꢀ lꢁ dân sự về hꢂnh ThS. Đỗ
61
83
K38B Đại học vi xâm phạm đối với Thị Diện
Dân
sự
Luật,
Đại học
Huế
nhꢃn hiệu dưꢄc phẩm
4. Nhữ Thảo
Hoàng Thị
Chu Việt
Linh
Linh
Hà
Luật
kinh
Trường
Giải quyết tranh chấp
Đại học về tên thương mại và PGS.TS
doanh Kinh tế nhãn hiệu hàng hóa Trần Văn
K57
Quốc
dân
thông qua vụ Taisun Nam
Việt Nam
5. Hoàng Thùy
Lê Minh
Linh
K60A Trường
Nhận diện rào cản PGS.TS
109
Đại học trong việc xây dựng Trần Văn
Khoa thư viện số để bảo vệ Hải
Hoàng
học Xã tri thức truyền thống
hội và tại Việt Nam (nghiên
Nhân
văn
cứu trường hꢄp Y
dưꢄc học cổ truyền)
6. Võ Thị Khánh Lựu
Luật
Trường
Xung đột giữa bảo hộ ThS. Đỗ
125
157
K38B Đại học nhãn hiệu và chỉ dẫn Thị Diện
Dân
sự
Luật,
địa lý theo pháp luật
Đại học sở hữu trí tuệ
Huế
7. Đꢂo Ngọc
Đặng Thị Vân Anh
Đỗ Minh Anh
Minh
4002 Trường
Xꢀ lí vi phạm quyền ThS
Đại học tác giả ở Việt Nam và Phạm
Luật Hà một số nước trên thế Minh
Nội
giới
Huyền
3
8. Phạm Thu
Ngân
K60B Trường
Đại học cập trong bảo hộ Hoàng
Khoa quyền tác giả đối với Lan
Nhận diện những bất ThS
175
Nguyễn Thị Ngọc
Bích
học Xã tác phẩm báo điện tꢀ Phương
hội và tại Việt Nam (Nghiên
Nhân
văn
cứu đối với trường
hꢄp BÁO MỚI)
9. Nguyễn Huy
Phúc
4123 Trường
Website xem phim PGS.TS
189
215
Đại học miễn phí dưới góc Vũ Thị
Luật Hà nhìn của pháp luật Hải Yến
Nội
Đinh
Thị Linh
Khánh
quyền tác giả đối với
tác phẩm điện ảnh
Vũ Ngọc
Diệp
10. Nguyễn Như
Quỳnh Luật
Trường
Bảo hộ sáng chế quốc ThS. Đỗ
K38B Đại học tế theo Hiệp ước Hꢄp Thị Diện
Dân
Luật,
tác về sáng chế (PCT)
sự
Đại học - các chiến lưꢄc trì
Huế
hoãn chi phí và tối đa
hoá giá trị sáng chế
trong nước và quốc tế
11. Nguyễn Thị
Lại Thế
Thanh
Quỳnh
Xâm
K60B Trường
Áp dụng phương pháp PGS.TS
243
Đại học bảo quản hoa hồng Trần Văn
Khoa trong quá trình vận Hải
học Xã chuyển, lưu trữ vꢂ bộ
hội và dụng cụ vận chuyển
Nguyễn Thị
Nhân
văn
có chứa hoa hồng cắt
theo patent
US20170000112A1
12. Trần Thị Hà
Thu
K60B Trường
Vấn nạn xâm phạm ThS
261
Đại học quyền liên quan đối Hoàng
Khoa với chương trình phát Lan
học Xã sóng tại Việt Nam Phương
hội và (Nghiên cứu trường
Nguyễn Thị Nhung
Hồng
Nhân
văn
hꢄp các chương trình
phát sóng của Đꢂi
Truyền hình Việt Nam
VTV)
13. Đinh Phương
Trường
Ảnh hưởng của công
275
299
PGS. TS
Lê Thị
Thu Hà
Thuý
Đại học nghệ Blockchain tới
Ngoại
thương
việc bảo vệ quyền sở
hữu trí tuệ đối của các
sản phẩm âm nhạc
14. Hoàng Phương Thúy
Luật
Trường
Pháp luật về nhãn hiệu ThS.
kinh
Đại học hiện nay tại Việt Nam Nguyễn
4
doanh Kinh tế
Quốc Quốc
Thị Hồng
Hạnh
tế
dân
K56
15. Hà Hiền
Thương Anh
Trường
Hoạt động thương mại ThS Lữ
325
353
17 – Đại học hóa sáng chế trong Thị Thu
Khoá Ngoại
52 thương
doanh nghiệp khoa Trang
học và côgn nghệ của
Việt Nam
16. Hà Thị Thu
Lê Thị
Trang
Oanh
3907 Trường
Xác định hành vi xâm ThS
Đại học phạm quyền đối với Phạm
Luật Hà nhãn hiệu theo pháp Minh
Nội
luật Việt Nam, liên hệ Huyền
với pháp luật Nhật
Bản và một số kiến
nghị
17. Trần Thị
Trang
Túc
Anh 5 Trường
Hoạt động đổi mới ThS Lữ
377
407
KT
Đại học sáng tạo trong các Thị Thu
K52
Ngoại
doanh nghiệp có vốn Trang
đầu tư trực tiếp nước
ngoài tại Việt Nam
thương
18. Nguyễn Văn
Luật
Trường
Bảo hộ tri thức truyền ThS. Đỗ
K38B Đại học thống trong điều kiện Thị Diện
Dân
Luật,
hội nhập kinh tế quốc
sự
Đại học tế
Huế
5
6
BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI TÁC PHẨM VĂN HỌC,
NGHỆ THUẬT DÂN GIAN MIỀN BIỂN
Sinh viên thực hiện:
Trần Việt Anh
Lớp:
3917
Trường Đại học Luật Hà Nội
PGS.TS Vũ Thị Hải Yến
Giáo viên hướng dẫn:
7
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU................................................................................................................... 10
1. Lý do lựa chọn đề tài................................................................................................. 10
2. Tình hình nghiên cứu đề tài........................................................................................ 10
3. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài. .................................................................................. 11
4. Đối tưꢄng và phạm vi nghiên cứu. .............................................................................. 11
5. Phương pháp nghiên cứu. .......................................................................................... 11
6. Kết quả nghiên cứu................................................................................................... 11
7. Kết cấu của đề tài. .................................................................................................... 11
1.1.1. Khái niệm tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian. ................................................... 12
1.1.2. Đặc trưng cơ bản của tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian. .................................... 12
1.1.3. Phân loại tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian...................................................... 14
1.2.1. Đặc trưng văn hóa biển trong các tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian..................... 16
1.2.2. Một số tác phẩm văn học dân gian miền biển........................................................... 16
1.2.3. Dân ca miền biển................................................................................................. 17
1.3.1. Khái niệm quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian....................... 19
văn học, nghệ thuật dân gian.......................................................................................... 21
miền biển................................................................................................................... 24
2.1.1. Thành tựu đạt đưꢄc.............................................................................................. 24
2.1.2. Một số bất cập còn tồn tại..................................................................................... 25
thuật dân gian miền biển............................................................................................. 26
trong việc bảo hộ quyền tác giả. ..................................................................................... 26
đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian miền biển. .................................................. 27
nghệ thuật dân gian miền biển. ...................................................................................... 27
quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian.............................................. 29
2.2.2.4. Mục đích bảo hộ các tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian................................... 30
biển. .......................................................................................................................... 30
8
dân gian miền biển. ......................................................................................................33
gian miền biển. ...........................................................................................................34
giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian miền biển. ........................................35
tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian.........................................................................37
KẾT LUẬN................................................................................................................39
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................40
9
MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài.
Văn hóa lꢂ nền tảng tinh thần của xã hội, chăm lo phát triển văn hóa chính lꢂ tạo động lực
phát triển đất nước. Do vậy với những truyền thống tốt đẹp của mình, văn hóa dân gian đóng vai
trò tích cực trong sự phát triển của xã hội Việt Nam. Trong đó, văn học, nghệ thuật dân gian là dòng
chảy lớn bắt nguồn từ nhân dân, thể hiện sắc thái và khát vọng của các cộng đồng cư dân khác nhau
cùng chung sống trên lãnh thổ quốc gia. Vì vậy, bản thân nó có sức sống trường tồn, góp phần làm
nên sức mạnh của dân tộc trong quá khứ, hiện tại vꢂ tương lai. Người viết đề tài quê ở Hải Phòng,
sinh ra và lớn lên ở Hải Phòng nên việc nghiên cứu, khảo sát đề tài về Hải Phòng có ꢁ nghĩa vô
cùng quan trọng. Nó giúp tôi hiểu rõ hơn về văn hóa dân gian của quê hương, các giá trị văn hóa
miền biển trong các tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian và xem xét chúng trên khía cạnh về Sở
hữu trí tuệ.
Mặc dù Luật Sở hữu trí tuệ vꢂ các văn bản liên quan quy định việc bảo hộ tác phẩm văn học,
nghệ thuật dân gian. Tuy nhiên trong thực tế hầu như ít ai quan tâm đến việc bảo hộ quyền tác giả
đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian miền biển. Mặt khác, vấn đề bảo hộ quyền tác giả
đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian miền biển vẫn còn những bất cập cần tiếp tục hoàn
thiện. Bên cạnh đó thì nhận thức của người dân về quyền tác giả nói chung và quyền tác giả đối với
tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian nói riêng vẫn còn thấp. Việc tuân thủ và thi hành pháp luật
về quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian vẫn chưa thực sự đi vꢂo đời sống
xã hội của mọi người dân. Thêm vꢂo đó chúng ta còn chưa quen với việc trả một khoản chi phí cho
những người có công sưu tầm, nghiên cứu, lưu giữ các tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian ngoài
người bán các sản phẩm này. Chính vì lý do trên, tác giả đꢃ lựa chọn đề tài nghiên cứu “Bảo hộ
quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian miền biển” . Đề tài sẽ khái quát các
tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian miền biển, việc bảo hộ quyền tác giả đối với các tác phẩm
này, nghiên cứu thực trạng việc bảo hộ và bất cập pháp luật đối với những tác phẩm đó. Từ việc
nghiên cứu đề tài, tác giả sẽ đưa ra giải pháp nhằm hoàn thiện việc bảo hộ tác phẩm văn học, nghệ
thuật dân gian tại Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài.
Sở hữu trí tuệ nói chung và quyền tác giả nói riêng là những vấn đề đưꢄc nhiều nhà nghiên
cứu quan tâm nghiên cứu vꢂ khai thác. Liên quan đến vấn đề bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm
văn học, nghệ thuật dân gian cũng đꢃ có một số công trình nghiên cứu liên quan tuy nhiên những
nghiên cứu này vẫn còn khá sơ lưꢄc, chưa thực sự cụ thể và sâu sắc.
Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới WIPO (2005) “Sở hữu trí tuệ - một công cụ đắc lực để phát
triển kinh tế” đꢃ dꢂnh hẳn một chương để viết về tri thức truyền thống (chương 7) có đề cập đến
văn học, nghệ thuật dân gian nhưng chủ yếu nghiên cứu về các tri thức bản địa trong các lĩnh vực
thuốc chữa bệnh, bảo tồn đa dạng sinh học, môi trường, lương thực và nông nghiệp mꢂ chưa nghiên
cứu sâu về quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian.
Ở Việt Nam, những nghiên cứu về vấn đề này có thể kể đến như:
- ThS. Vũ Thị Phương Lan (Giảng viên Khoa luật quốc tế - Trường Đại học Luật Hà Nội).
Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian theo pháp luật Việt Nam – Một
số bất cập về lí luận và giải pháp. Tạp chí luật học số 11/2006. Trang 24 – 31. Trong bài viết, tác
giả đꢃ phân tích vꢂ đề ra giải pháp cho ba bất cập cơ bản về mặt lí luận của pháp luật hiện hành về
bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian: 1) Quyền sở hữu; 2) Mục đích
bảo hộ; 3) Phạm vi bảo hộ.
- Phan Tấn Phát, Nguyễn Nho Hoàng. Quyền sở hữu trí tuệ đối với tác phẩm văn học nghệ
thuật dân gian. Tạp chí dân chủ và pháp luật. Số tháng 7/2012 cũng đꢃ có những nghiên cứu về văn
học, nghệ thuật dân gian Việt Nam cùng những bất cập của luật vào giải pháp để nâng cao bảo hộ
với đối tưꢄng này.
- TS.Vũ Mạnh Chu trong bài viết Bảo hộ di sản văn học nghệ thuật dân gian ở Việt Nam đꢃ
đề cập đến vấn đề bảo hộ các tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian, một trong những di sản văn
hóa của dân tộc.
10
Các bài báo, bài nghiên cứu đꢃ chỉ ra đưꢄc những vấn đề bất cập trong Luật Sở hữu trí tuệ
về quyền tác giả và quyền liên quan có đề cập đến tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian. Tuy nhiên
các bài nghiên cứu chỉ nói đến các tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian chung chung mꢂ chưa đi
vào cụ thể. Vì vậy, đề tài này tác giả sẽ kế thừa những nghiên cứu của các tác giả đi trước, từ đó
phát triển hoàn thiện, đi vꢂo nghiên cứu cụ thể hơn vấn đề bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm
văn học, nghệ thuật dân gian và áp dụng thực tiễn đối với các tác phẩm văn học, nghệ thuật dân
gian miền biển.
3. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài.
Đề tài nghiên cứu khoa học này sẽ tập trung tìm hiểu những vấn đề lý luận về quyền tác giả
đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian miền biển. Phân tích nội dung các quy định của pháp
luật hiện hành về quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian từ đó chỉ ra những
bất cập, tồn tại hạn chế của các quy định pháp luật và áp dụng đối với các tác phẩm văn học, nghệ
thuật dân gian miền biển. Chỉ ra thực trạng bảo hộ quyền tác giả đối với các tác phẩm nꢂy. Đồng
thời sẽ đưa ra những giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả bảo hộ
quyền tác giả đối với các tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian. Mục đích quan trọng hơn cả của
đề tài là góp phần nâng cao nhận thức của các cá nhân, tổ chức trong việc tôn trọng và thực thi pháp
luật về quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian nói riêng và Luật Sở hữu trí tuệ
nói chung.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
- Đối tưꢄng nghiên cứu: Quy định của pháp luật Việt Nam về bảo hộ quyền tác giả đối với
tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian và thực trạng bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học,
nghệ thuật dân gian miền biển.
- Phạm vi nghiên cứu: Căn cứ vào mục tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của đề tꢂi đưꢄc
xác định là nghiên cứu các vấn đề lý luận để xác định tính đặc thù của quyền tác giả đối với tác
phẩm văn học, nghệ thuật dân gian; nghiên cứu các quy định của pháp luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam
về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian; nghiên cứu để đánh giá thực
trạng bảo hộ, những bất cập hiện nay từ đó đề ra những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật.
5. Phương pháp nghiên cứu.
Đề tꢂi đꢃ vận dụng kết hꢄp các phương pháp nghiên cứu sau:
- Dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà
nước và pháp luật, đề tài sꢀ dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa
duy vật lịch sꢀ.
- Các phương pháp cụ thể: Phân tích, so sánh, thống kê, tổng hꢄp
6. Kết quả nghiên cứu.
Đề tꢂi đꢃ khải quát các tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian miền biển, việc bảo hộ đối
với các tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian miền biển. Nghiên cứu thực trạng việc bảo hộ và bất
cập pháp luật đối với những tác phẩm đó. Từ đó kiến nghị một số giải pháp liên quan vꢂ phương
hướng hoàn thiện pháp luật Sở hữu trí tuệ về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ
thuật dân gian.
7. Kết cấu của đề tài.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của đề tài gồm 3
chương.
Chương 1: Khái quát chung về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật
dân gian miền biển.
Chương 2: Những bất cập trong việc bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ
thuật dân gian miền biển.
Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam về bảo
hộ quyền tác giả đối với các tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian miền biển.
11
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI
TÁC PHẨM VĂN HỌC, NGHỆ THUẬT DÂN GIAN MIỀN BIỂN
1.1. Tổng quan về tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian miền biển.
1.1.1. Khái niệm tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian.
Theo từ điển “Thuận ngữ quyền tác giả và quyền liên quan” của Nhà xuất bản Thế giới Cục
bản quyền tác giả năm 2010 định nghĩa thì: “Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian là sáng tạo tập
thể trên nền tảng truyền thống của một nhóm người hoặc các cá nhân nhằm phản ánh khát vọng của
cộng đồng, thể hiện tương xứng đặc điểm văn hóa vꢂ xꢃ hội của họ, các tiêu chuẩn và giá trị đưꢄc
lưu truyền bằng cách mô phỏng hoặc bằng cách khác. Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian bao
gồm có truyện, thơ, câu đố, điệu hát, lꢂn điệu âm nhạc, điệu múa, vở diễn nghi lễ vꢂ các trò chơi;
sản phầm nghệ thuật đồ họa, hội họa, điêu khắc đưꢄc thể hiện dưới bất kỳ hình thức vật chất nꢂo”.
Theo khái niệm này thì tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian là sáng tạo trí tuệ của một cá
nhân nꢂo đó hay một tập thể cá nhân – những người mꢂ đời sống hàng ngày của họ gắn liền với
những giá trị văn hóa, tinh thần của cộng đồng. Qua những sáng tác của mình, họ muốn gꢀi gắm
những khát vọng của cộng đồng về lao động, sản xuất, con cái…
Có cách hiểu khác về tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian đó lꢂ sự bao hàm các sản phẩm
chứa đựng các yếu tố đặc thù của di sản nghệ thuật, đưꢄc duy trì và phát triển bởi một cộng đồng
trong nước, hoặc bởi các cá nhân phản ánh các tác phẩm văn học – nghệ thuật truyền thống của một
cộng đồng.[1]
Khoản 1 Điều 23 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 cũng đề cập đến khái niệm tác phẩm văn
học nghệ thuật dân gian như sau:
“1. Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian là sáng tạo tập thể trên nền tảng truyền thống
của một nhóm hoặc các cá nhân nhằm phản ánh khát vọng của cộng đồng, thể hiện tương xứng đặc
điểm văn hóa và xã hội của họ, các tiêu chuẩn và giá trị được lưu truyền bằng cách mô phỏng hoặc
bằng cách khác. Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian bao gồm:
a) Truyện, thơ, câu đố;
b) Điệu hạt, làn điệu âm nhạc;
c) Điệu múa, vở diễn, nghi lễ và các trò chơi;
d) Sản phẩm nghệ thuật đồ họa, hội họa, điêu khắc, nhạc cụ, hình mẫu kiến trúc và các loại
hình nghệ thuật khác được thể hiện dưới bất kỳ hình thức vật chất nào.”
Khái niệm nꢂy tương tự như khái niệm mà UNESCO sꢀ dụng trong các hoạt động liên quan
tới văn học, nghệ thuật dân gian của mình. Qua đó có thể hiểu văn học, nghệ thuật dân gian là những
giá trị văn học, nghệ thuật đưꢄc cộng đồng – có thể là cộng đồng sắc tộc hoặc cộng đồng dân cư
sinh sống tại một địa phương – sáng tạo ra; nó tồn tại qua năm tháng vꢂ phản ánh những nét văn
hóa đặc trưng của cộng đồng hoặc địa phương mꢂ khi thưởng thức nó, người đưꢄc thưởng thức có
thể nhận biết đưꢄc ngồn gốc xuất xứ của những giá trị văn hóa, nghệ thuật đó.
Như vậy, tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian là kết quả của hoạt động sáng tạo của con
người, sự sáng tạo của người dân sinh sống tại các khu vực địa lý cụ thể, cùng chia sẻ ngôn ngữ,
văn hóa, cơ chế sinh nhai vꢂ các điều kiện tự nhiên, trên nền tảng truyền thống của một nhóm hoặc
các cá nhân nhằm phản ánh khát vọng của cộng đồng, thể hiện tương xứng đặc điểm văn hóa vꢂ xꢃ
hội của họ. Tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian là kết quả của những ꢁ tưởng sáng tạo của tập
thể người dân đưꢄc thể hiện thông qua lời nói, mỹ thuật hoặc các hình thức vật chất khác vꢂ đưꢄc
lưu truyền dưới hình thức miệng hoặc văn bản hoặc thông qua một số hình thức khác vꢂ đưꢄc truyền
từ thế hệ này sang thế hệ khác.
1.1.2. Đặc trưng cơ bản của tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian.
[1] TS. Vũ Mạnh Chu. Bảo hộ Di sản Văn học Nghệ thuật dân gian ở Việt Nam. Báo cáo dẫn đề hội thảo “Quyền tác
giả trong lĩnh vực văn học nghệ thuật dân gian”.
12
Là sản phẩm của cộng đồng, phản ánh giá trị nghệ thuật đặc trưng của một cộng đồng hoặc
vùng miền. Tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian có những đặc điểm khác với các tác phẩm văn
học nghệ thuật thông thường ở chỗ:
Thứ nhất, tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian ra đời là do sự sáng tạo của cộng đồng, có
thể là cộng đồng theo sắc tộc hoặc cộng đồng dân cư sinh sống ở một địa phương. Sự sáng tạo này
có thể bắt nguồn từ một hoặc vài cá nhân nào đó không xác định đưꢄc hoặc không cần xác định vì
mục đích bảo hộ quyền tác giả. Song qua năm tháng thì tác phẩm đó đưꢄc lưu truyền, nuôi dưỡng
vꢂ thay đổi bởi những thành viên trong cộng đồng; qua đó trở thꢂnh đặc trưng văn hóa của cộng
đồng hay địa phương đó. Chính do đưꢄc cả cộng đồng nuôi dưỡng và bồi bổ, tác phẩm văn học
nghệ thuật dân gian có thể từ chỗ là sáng tạo của một hay vꢂi cá nhân, đꢃ trở thành giá trị của cả
cộng đồng.
Thứ hai, vì là sản phẩm sáng tạo của cả cộng đồng, thời gian ra đời và tồn tại của một tác
phẩm văn học nghệ thuật dân gian thường lꢂ không xác định đưꢄc. Tuy nhiên, tác phẩm văn học
nghệ thuật dân gian hoꢂn toꢂn không đứng im mꢂ nó luôn đưꢄc thay đổi hay làm mới theo sự thay
đổi về giá trị văn học, nghệ thuật của cộng đồng sáng tạo ra nó. Sự thay đổi có thể chậm chạp và
phải qua nhiều thế hệ mới bộc lộ rõ sự thay đổi rõ ràng, song sự thay đổi đó lꢂ tất yếu bởi lẽ tác
phẩm văn học nghệ thuật dân gian là sản phẩm của cộng đồng mà mỗi thế hệ của cộng đồng đó tất
yếu có những nét khác nhau trong các giá trị văn học, nghệ thuật đặc trưng của mình. Sự thay đổi
này càng củng cố mỗi quan hệ cộng đồng – người sáng tạo với tác phẩm văn học nghệ thuật dân
gian – sản phẩm của cộng đồng. Nói cách khác, sự sáng tạo trong một tác phẩm văn học nghệ thuật
dân gian là không ngừng nghỉ theo sức sáng tạo của cộng đồng.
Thứ ba, tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian là một bộ phận không thể tách rời với lꢄi ích
con người. Tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian đưꢄc sinh ra trên cơ sở một nền kinh tế nông
nghiệp cũ, độc canh lúa, phụ thuộc rất nhiều vꢂo điều kiện môi trường sinh thái thiên nhiên. Tác giả
của nó là những người nông dân sống trong những công xã xóm làng, cho nên khuôn viên chủ yếu
của các hoạt động văn học nghệ thuật dân gian là các làng (ở người Việt) vꢂ các đơn vị xã hội tương
đương như bản, buôn, chum… (ở các dân tộc thiểu số).
Thứ tư, tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian gắn chặt với các hoạt động thường ngày trong
lao động, sản xuất và sinh hoạt của người nông dân. Mỗi biểu hiện của văn học nghệ thuật dân gian
thường đưꢄc sáng tạo để phục vụ một hoạt động hꢂng ngꢂy nꢂo đó. Chẳng hạn, để hát ru trẻ ngủ,
người ta sáng tạo bꢂi hát ru vꢂ người ta cũng chỉ hát bꢂi hát đó khi cần ru trẻ ngủ. Không bao giờ
người nông dân hát bài ru khi họ đang lao động trên đồng lúa. Có thể thấy đặc điểm này chỉ có ở
Việt Nam và một số quốc gia nông nghiệp.
Thứ năm, tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian có một đặc thù là tính dị bản. Tác phẩm
văn học nghệ thuật dân gian là công trình sáng tạo bằng miệng của cả một tập thể cộng đồng, đưꢄc
lưu giữ, diễn xướng qua hình thức truyền miệng. Và vì là truyền miệng nên mỗi cá nhân đều có
quyền cải biên.
Chẳng hạn như hai câu ca dao sau: “Đường vô xứ Nghệ quanh quanh/ Non xanh nước biếc
như tranh họa đồ”
Với câu: “Đường vô xứ Huế quanh quanh/ Non xanh nước biếc như tranh họa đồ”.
Do đó, việc xác định thế nꢂo lꢂ “cải biên”, thế nꢂo lꢂ “giữ nguyên gốc”, thế nꢂo lꢂ “sao
chép”, thế nào là sáng tạo, thế nào là xâm phạm bóp méo, thế nꢂo lꢂ “lꢂm giꢂu vốn cổ” rất khó khăn,
chính vì vậy để bảo hộ là rất khó.
Thứ sáu, đặc điểm nổi trội là tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian đưꢄc lưu giữ bằng trí
nhớ của con người. Đây lꢂ cơ chế sáng tạo, truyền bá và tiếp nhận của tác phẩm văn học nghệ thuật
dân gian.
Thứ bảy, với việc phản ánh giá trị văn hóa của một cộng đồng, tác phẩm văn học nghệ thuật
dân gian có vai trò quan trọng trong việc xác định nhận dạng văn hóa giữa cộng đồng này với cộng
đồng khác trong cùng quốc gia. Song, quan trọng hơn lꢂ các tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian
nói riêng hay rộng hơn lꢂ văn học, nghệ thuật dân gian đóng vai trò quan trọng trong việc xác định
13
nhận dạng văn hóa của quốc gia này với quốc gia khác. Điều nꢂy cũng đưꢄc Tổ chức sở hữu trí tuệ
thế giới WIPO khẳng định.
Bên cạnh đó mặc dù phần lớn các tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian khá nổi tiếng trong
phạm vi quốc gia vꢂ đưꢄc nhiều người biết đến, ví dụ như các lꢂn điệu dân ca các vùng, tranh Đông
Hồ… cũng còn có những tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian bị thất truyền. Người ta chỉ biết đến
sự tồn tại của những tác phẩm nꢂy sau khi nó đꢃ đưꢄc nhà nghiên cứu sưu tầm và phát hiện thông
qua tiếp xúc với những nghệ nhân hoặc người cao tuổi còn giữ gìn đưꢄc những tác phẩm đó.
Những đặc trưng trên lꢂ của riêng tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian mà các tác phẩm
văn học nghệ thuật khác đang đưꢄc pháp luật hiện hành của Việt Nam bảo hộ quyền tác giả không
có. Những đặc trưng nꢂy lꢂm cho khung pháp luật hiện hành về bảo hộ quyền tác giả khi áp dụng
cho tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian bộc lộ nhiều bất cập cả về lí luận và thực tiễn.
1.1.3. Phân loại tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian.
Khoản 1 Điều 23 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 phân loại tác phẩm văn học, nghệ thuật dân
gian bao gồm:
i) Truyện, thơ, câu đố.
Cả ba loại hình tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian nói trên đều có chung đặc điểm là
đưꢄc biểu hiện theo lời nói. Là những tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian đưꢄc sáng tạo, mô
phỏng bằng ngôn ngữ nói. Đưꢄc thể hiện theo hình thức truyền miệng.
- Truyện dân gian: Loại hình tác phẩm này bao gồm các thể loại như: truyện cổ tích, truyện
ngụ ngôn, truyện cười… Đây lꢂ những tác phẩm tự sự dân gian thường có kết cấu chặt chẽ, có thể
là những câu truyện cười nhẹ nhàng, hóm hỉnh; có thể là những câu truyện cố tích giꢂu ꢁ nghĩa…
Qua những sáng tác dân gian này tác giả của nó muốn gꢀi gắm những giá trị văn hóa, nhân văn,
những kinh nghiệm sống gắn liền với đời sống của mỗi người dân.
- Thơ ca dân gian: Thơ lꢂ hình thức nghệ thuật dùng từ trong ngôn ngữ làm chất liệu, và sự
chọn lọc từ cũng như tổ hꢄp của chúng đưꢄc sắp xếp dưới hình thức logic nhất định tạo nên hình
ảnh hay gꢄi cảm âm thanh có tính thẩm mỹ cho người đọc, người nghe. Trong kho tꢂng văn học
dân gian Việt Nam, thơ ca dân gian góp phần không nhỏ trong kho tꢂng văn học dân gian ấy. Thơ
ca dân gian hay nói cách khác đó chính lꢂ những câu ca dao, tục ngữ, truyện thơ hay vè… Có những
ý kiến nhìn nhận rằng thơ ca dân gian lꢂ tiếng nói trái tim của người lao động. Nó thể hiện sâu sắc
những tình cảm tốt đẹp của nhân dân ta.
Khi nhắc đến chữ hiếu, chữ đạo của con người trong đối xꢀ, công lao các bậc sinh thành
người ta không thể không nhớ đến câu:“Công cha như núi Thái Sơn/ Nghĩa mẹ như nước trong
nguồn chảy ra/ Một lòng thờ mẹ kính cha/ Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”.
- Câu đố dân gian: Trong kho tang văn học dân gian Việt Nam, câu đố có số lưꢄng khá
phong phú. Về mặt hình thức và nội dung, câu đố thể hiện những đặc trưng riêng biệt của một thể
loại văn học dân gian. Trong đời sống tinh thần phong phú của nhân dân, câu đó cũng chiếm một
vị trí đang kể. Câu đố là thể loại văn học dân gian phản ánh sự vật, hiện tưꢄng theo lối nói chệch.
Khi sáng tạo câu đố, người ta tìm đặc trưng vꢂ chức năng của từng vật cá biệt vꢂ sau đó phản ánh
thông qua sự so sánh, hình tưꢄng hóa.
Chẳng hạn như khi nói đến quả nhꢃn, người ta có câu đố: “Da cóc mà bọc bột lọc, bột lọc
mà bọc hòn than”. Câu đố đưꢄc xây dựng nhằm mục đích mô tả, bằng hình tưꢄng hoặc từ ngữ,
những dấu hiệu đặc trưng vꢂ chức năng của những vật đồ cá biệt, cụ thể. Câu đố là một phương tiện
để nhận thức và kiểm tra nhận thức về các sự vật hiện tưꢄng của thế giới khách quan.
ii) Điệu hát, làn điệu âm nhạc.
Đây lꢂ những loại hình tác phẩm nghệ thuật dân gian đưꢄc biểu hiện theo âm nhạc. So với
các nước trên thế giới, âm nhạc dân gian Việt Nam cũng rất phong phú, đa dạng và có nhiều đặc
điểm riêng. Âm nhạc dân gian Việt Nam dàn trải theo chiều dài của đất nước.
Trong không gian văn hóa các dân tộc miền núi phía Bắc luôn vang lên những câu hát “Sli”,
“Lưꢄn”, “Then” của người Tày – Nùng, tiếng hát “Khắp” của các chꢂng trai, cô gái Thái, hát “Rang”
của người Mường, tiếng sáo dìu gọi bạn của trai bản H’mông…
14
Vùng văn hóa châu thổ Bắc Bộ cũng lꢂ cái nôi hình thꢂnh nên dân tộc Việt, âm nhạc dân
gian nơi đây mang những đặc điểm vùng miền đậm nét, tiêu biểu với các thể loại: hát Quan họ, hát
Ghẹo, hát Xoan, hát Trống quân, hát Chầu văn, hát Chèo, hát Đúm, hát Ví, hát Đò đưa…
Vùng văn hóa Trung bộ lại nổi tiếng với những điệu hát Ví, hát Dặm, hát hò của Nghệ An
– Hꢂ Tĩnh, những điệu Lꢁ, điều Hò của xứ Huế, hát Bài Chòi của Quảng Bình – Quảng Trị - Thừa
Thiên…
Vùng văn hóa Tây Nguyên với âm nhạc cồng chiêng, âm nhạc tre nứa mang những đặc
trưng có từ thời văn hóa Đông Sơn, những lꢂn điệu dân ca của các dân tộc ở Tây Nguyên mang
nhiều màu sắc tinh tế của nghệ thuật âm nhạc Đông Nam Á…
Vùng văn hóa Nam Bộ với những lꢂn điệu hò sông nước mênh mang, điệu lꢁ đằm thắm trữ
tình, những câu ca Vọng cổ da diết, sâu sắc, những lꢂn điệu dân ca Khơ – me, dân ca Chăm mang
đậm bản sắc dân tộc.
iii) Điệu múa, vở diễn, nghi lễ và các trò chơi.
Đây lꢂ những loại hình tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian đưꢄc biểu hiện bằng hành
động.
- Điệu múa dân gian là hình thái múa phổ biến của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Múa
dân gian là do dân chúng sáng tạo đưꢄc lưu truyền từ đời nꢂy qua đời khác. Múa dân gian đưꢄc sꢀ
dụng rộng rãi trong sinh hoạt văn hóa cộng đồng. nó tiêu biểu cho bản sắc văn hóa của từng cộng
đồng vꢂ lꢂ cơ sở để phát triển các hình thái mẫu khác. Ta có thể kể đến những lꢂn điệu múa dân
gian nổi tiếng như múa trống, mùa rồng, múa sư tꢀ, múa khiên. Hay loại hình múa rối nước, loại
hình múa chỉ có duy nhất tại Việt Nam.
- Vở diễn là một trong các loại hình văn học, nghệ thuật dân gian Việt Nam. Các vở diễn
hay còn gọi là các vở chèo dân gian, vở kịch dân gian, vở tuồng dân gian… đưꢄc lưu truyền từ đời
nꢂy qua đời khác tại các cộng đồng làng quê. Các vở kịch, vở chèo thường đưꢄc diễn trong các dịp
lễ hội hꢂng năm tại các cộng đồng làng quê Việt Nam
- Nghi lễ là một trong nhiều nghi thức xuất hiện trong lễ hội tại các cộng đồng làng, xã Việt
Nam. Lễ hội là một sự kiện thực hiện rất nhiều nghi thức mang tính bắt buộc. Các nghi thức này
đưꢄc tiến hành theo một trình tự chặt chẽ, nghiêm ngặt từ khi chuẩn bị lễ hội cho đến khi hết hội.
Thông thường một lễ hội có các nghi lễ như lễ mộc dục, lễ tế gia quan, lễ rước, lễ tế khai hội và tế
giꢃ đám. Các nghi lễ như một nét đẹp tâm linh, tín ngưỡng văn hóa của người dân Việt Nam ta từ
bao đời này.
- Các trò chơi dân gian: Đây đưꢄc coi lꢂ nét văn hóa giꢂu bản sắc dân tộc. Những trò chơi
nꢂy thường bắt nguồn từ những bꢂi đồng dao, một thể loại văn vần độc đáo của dân tộc. Đây lꢂ
những bài ca có nhịp điệu đơn giản gieo vần một cách thoải mái, có thể ngắn dài bất kỳ hoặc lặp đi
lặp lại không dứt. Ta có thể kể đến rất nhiều các trò chơi dân gian như ném còn, đá cầu, ô ăn quan,…
Các trò chơi dân gian thường đưꢄc chơi không chỉ trong các dịp lễ hội mà ta có thể bắt gặp ngay
trong đời sống hàng ngày.
iv) Sản phẩm nghệ thuật đồ họa, hội họa, điêu khắc, nhạc cụ, hình mẫu kiến trúc và các loại
hình nghệ thuật khác được thể hiện dưới bất kỳ hình thức vật chất nào.
- Chạm khắc: Nói tới nghệ thuật tạo hình dân gian người ta thường nghĩ ngay đến chạm
khắc, trang trí trên sập gụ, tủ chè hình chum nho, con sóc, bộ ghế chạm con rối, chữ Phúc – Lộc –
Thọ… Bên cạnh đó nghệ thuật chạm khắc dân gian đồ sộ ở người Việt còn đưꢄc lưu giữ trên các
ngôi đình, chùa, đền nằm rải rác ở mỗi làng quê vây quanh bởi lũy tre lꢂng mꢂ cho đến ngày nay
chúng vấn là những gì tinh túy nhất góp phần tạo nên bản sắc văn hóa Việt Nam.
- Tranh dân gian Việt Nam là một loại hình mỹ thuật cổ truyền của dân gian Việt Nam.
Tranh dân gian Việt Nam có lịch sꢀ rất lâu đời, đꢃ từng có thời gian phát triển rất mạnh mẽ, ngày
nay nó có phần giảm sút nhưng vẫn còn đưꢄc giữ gìn bảo tồn trong một số làng nghề và một số gia
đình lꢂm tranh. Trong số các tranh dân gian Việt Nam có thể kể đến dòng tranh Đông Hồ đꢃ vꢂ
đang đưꢄc bảo tồn, phát triển và hiện đang có mặt ở nhiều nước trên thế giới.
15
Theo quy định tại khoản 1 Điều 20 Nghị định 100/2006/NĐ – CP thì các tác phẩm văn học,
nghệ thuật dân gian i, ii vꢂ iii như đꢃ nêu ở trên bảo hộ không phụ thuộc vào việc định hình. Còn
loại thứ tư vì lꢂ tác phẩm vật thể nên nhất thiết phải đưꢄc thể hiện bằng một chất liệu tồn tại hữu
hình.
1.2. Một số loại hình tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian miền biển.
1.2.1. Đặc trưng văn hóa biển trong các tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian.
Theo quan niệm truyền thống, Việt Nam đưꢄc phân thꢂnh “Tam sơn, tứ hải, nhất phần điền”.
Nghĩa lꢂ có ba phần núi, bốn phần biển và một phần ruộng. Xét về cả diện tích và nguồn tài nguyên
thì biển giữa vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước cũng như trong sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đối với Việt Nam, cư dân vꢂ truyền thống lịch sꢀ
là những nhân tố quan trọng nhất tạo nên diện mạo văn hóa biển. Đất nước Việt Nam là một quốc
gia nằm ở cực đông nam bán đảo Đông Dương, đường bờ biển dꢂi 3260 km. Văn hóa biển đꢃ đi sâu
vào trong tiềm thức mỗi người dân Việt Nam. Các phong tục, tập quán, nét văn hóa, các tác phẩm
văn học nghệ thuật dân gian miền biền đꢃ trở thꢂnh nét đẹp văn hóa của từng vùng miền quê gắn
liền với biển.
Về tín ngưỡng, tôn giáo: Đối với ngư dân, tín ngưỡng tôn giáo chiếm vị trí rất quan trọng
trong đời sống tinh thần. Có lẽ bởi điều kiện sống vꢂ lao động của họ trong môi trường biển cả vừa
giꢂu có, ưu ái con người, vừa thách thức, đe dọa tới tính mạng của họ. Do vậy, họ luôn có niềm tin
vào lực lưꢄng siêu nhiên trước biển cả bao la, hùng vĩ.
Người dân biển cũng giống như người Việt khác có tín ngưỡng dân gian như thờ cũng ông
bà, tổ tiên. Họ lập bàn thờ, nơi trang trọng nhất trong nhà và tiến hành cúng lễ vào dịp giỗ và các
ngày lễ trong năm. Ngoꢂi ra, họ còn thờ Thần thánh và Thành hoàng làng, thờ Thủy thân… Như ở
Đền Nghè – Đồ Sơn thờ Thần biển là Thần Điểm Tước, đồng thời cũng lꢂ vị Thành hoàng làng
chung của cư dân cả vùng biển Đồ Sơn. Vꢂ Đồ Sơn còn nhiều địa điểm thờ cúng khác như Đình
Ngọc, đền Vừng, đền Dáu…
Về tri thức, phong tục tập quán có liên quan đến nghề biển: Cư dân ven biển đꢃ sống và lao
động cần cù trên mảnh đất biển. Họ đꢃ khai thác mọi thế mạnh của vùng đất quê mình để xây dựng
cuộc sống từ trong những công việc bình thường, giản dị như nghề nông, nghề đánh bắt cá hoặc
chăn nuôi hải sản. Mỗi khi ra khơi, ngư dân thường có sự chuẩn bị rất chu đáo như xem thời tết,
cầu khấn thần vương hꢂ bá…
Những tri thức dân gian của ngư dân về thời tiết, về biển rất phong phú vꢂ sinh động. Đưꢄc
đúc kết qua những câu ca dao, tục ngữ.
1.2.2. Một số tác phẩm văn học dân gian miền biển.
Các tác phẩm văn học, truyện truyền thuyết, thơ ca dân gian mang văn hóa miền biển có rất
nhiều.
Đầu tiền, có thể kể đến những câu truyện truyền thuyết mang nét văn hóa miền biển. Trong
các lễ hội miền biển có rất nhiều các câu truyện cổ tích có thể kể đến. Chẳng hạn lễ hội chọi trâu
Đồ Sơn, Hải Phòng. Truyền thuyết liên quan đến nguồn gốc lễ hội chọi trâu có rất nhiều các dị bản
khác nhau đưꢄc kể.
Theo lời kể của các lão làng, từ xa xưa, cư dân lꢂm nghề mò cua, bắt cá ở Đồ Sơn thường
bị cá kình ăn thịt. Trước sự hung tꢄn, quấy nhiễu của quái vật, con người lập đꢂn cầu thần linh phù
hộ vꢂo thưꢄng tuần tháng sáu âm lịch và hứa sẽ mổ trâu, mổ lꢄn lễ tạ. Quả nhiên, sau hai tháng vào
một đêm mưa to, gió lớn, sáng ra thấy xác cá kình chết. Trên hầu có vết chim cắn, một loại chim
thần giáng thế độ dân. Mọi người mới hay là thần đꢃ diệt cá dữ trừ họa cho dân. Nơi cá dữ chết gọi
là dốc Ma Cá. Vꢂ để dữ lời hứa với thần linh, hꢂng năm người dân lꢂng đi mua trâu về lễ thần ở
Đền Nghè. Khi đưa trâu đến Đền Nghè, chúng đứt dây chọi nhau quyết liệt. Dân làng cho rằng thần
linh thích xem trâu chọi. Bởi vậy hꢂng năm dân lꢂng tổ chức lễ hội chọi trâu vꢂo ngꢂy đó vꢂ trở
thành ngày hội truyền thống của người dân Đồ Sơn, Hải Phòng.
Một dị bản khác của câu chuyện đưꢄc kể rằng “Đêm đó trăng thanh, nhưng sóng to gió lớn,
mưa dăng. Ông chủ Tế mơ thây hai trâu chọi nhau rất hăng, rất lâu ở xó Sóng. Dân tình ra xem rất
16
đông thì đôi trâu biến mất. Ông chủ Tế bèn kể lại giấc mơ đêm qua cho dân lꢂng nghe, mọi người
đều cho rằng thần linh thiêng báo mộng. Năm đó, cá đưꢄc mùa, dân lꢂng cho đó lꢂ điềm lành. Vì
vậy, với mong muốn lꢂm ăn thịnh vưꢄng, đi biển không gặp sóng gió, xuôi chèo, mát mái lúc vào
lộng ra khơi, nên người dân Đồ Sơn bꢂn nhau mở hội chọi trâu vào mùng chín tháng tám âm lịch.
Nhưng lại có một truyền thuyết khác cho rằng, nước ta nằm trong khu vực có nhiều thiên
tai, mỗi năm có nhiều cơn bão lớn nhỏ. Nghề đi biển thường hay gặp sóng to, gió lớn, thiên tai có
thể đến bất thường. Do vậy, người dân chai ở đây thường cầu mong các vị thần biển phù họ cho họ
khi đi biển tránh đưꢄc sóng to, gió bꢃo, đánh đưꢄc nhiều cá tôm trở về. Có một lễ vật quý nhất để
cúng tế thần biển. Với quan niệm “Con trâu lꢂ đầu cơ nghiệp”, vì vậy những con trâu đưꢄc chăm
sóc, lựa chọn cẩn thận mang ra thi đấu, con nào thắng đưꢄc đem ra cúng tế thần linh.
Có thể thấy truyền thuyết về nguồn gốc lễ hội chọi trâu, Đồ Sơn đꢃ có rất nhiều các dị bản
khác nhau chỉ ở một vùng. Đây chính lꢂ đặc trưng cơ bản của tác phẩm văn học, nghệ thuật dân
gian đó lꢂ tính dị bản.
Thứ hai, các câu ca dao, tục ngữ, thơ ca dân gian mang những nét đặc trưng miền biển.
Chẳng hạn như: “Bao giờ Hòn Đỏ mang tơi/ Hòn Hèo đội mũ thì trời sắp mưa.”
Hòn Đỏ là tên một hòn đảo nằm ở phía Đông Bắc thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa,
cách đất liền khoảng 500m. Đảo này cùng với Hòn Chồng đưꢄc xem là biểu tưꢄng du lịch của Nha
Trang. Đây lꢂ câu ca dao dự báo thời tiết ở tỉnh Khánh Hòa.
Hay câu tục ngữ nhìn nhận về sự bất trắc, khó lường của biển: “Đi bộ thì khiếp Hải Vân/ Đi
thuyền thì khiếp sống thần hang Dơi”
Hay lại nói đến lễ hội chọi trâu Đồ Sơn, không chỉ có những truyện truyền thuyết như đꢃ
kể ở trên, còn có những bꢂi thơ dân gian. Từ xưa đến nay, cư dân vùng đồng bằng châu thổ sống
Hồng và vùng ven biển Bắc bộ đều thuộc lòng câu ca như nhắc nhở mọi người nhớ về ngày hội
quê mình: “Dù ai buôn đâu, bán đâu/ Mùng chín tháng tám chọi trâu thì về/ Dù ai buôn bán trăm
nghề/ Mùng chín tháng tám thì về chọi trâu.
Hoặc có một di bản khác: “Dù ai buôn dâu, bán đâu/ Mùng chín tháng tám chọi trâu thì về/
Dù ai bận rộn trăm bề/ Mùng chín tháng tám thì về chọi trâu.
Có thể thấy các tác phẩm văn học dân gian miền biển dân đa dạng, phán ảnh đúng đời sống
tinh thân của cư dân miền biển.
1.2.3. Dân ca miền biển.
1.2.3.1. Hát Đúm (Thủy Nguyên – Hải Phòng).
Từ xa xưa, khu vực Đông Nam Á xuất hiện một hình thức sinh hoạt văn hóa phổ biến của
cư dân nông nghiệp là hát giao duyên giữa nam và nữ. Họ thường hát trong ác ngày hội mùa, ngày
lễ tết đầu năm của dân tộc mình. Hát Đúm cũng lꢂ một trong hình thức hát đối đáp giao duyên. Theo
nghĩa từ nguyên “Đúm” lꢂ một tập hꢄp không có số lưꢄng nhất định.
Hát Đúm lꢂ một loại hình sinh hoạt văn hóa dân gian độc đáo ở Hải Phòng. Đây lꢂ lễ hội có
truyền thống từ xa xưa vꢂ đưꢄc duy trì đến tận hôm nay trong niềm đam mê không chỉ của các nghệ
nhân có tuổi mà cả ở các cháu thanh, thiếu niên. Người dân miền biển Thủy Nguyên cho rằng hát
Đúm lꢂ khi một hoặc một nhóm con trai và con gái cất lên tiếng hát thì mọi người xúm lại để nghe
và xem.
Những lời ca của hát Đúm có thể nói là những bꢂi thơ. Tuy những bꢂi thơ nꢂy còn thiếu tính
hàm súc của thơ ca nhưng nó vẫn là tiếng nói phản ánh tâm tư, tình cảm của người dân lao động.
Đó lꢂ những tiếng ca hồn nhiên, là nguồn sức mạnh lay động tình cảm, tâm hồn, là tiếng hát về
thiên nhiên, về tình yêu cuộc sống. Ngôn từ trong các câu hát Đúm mộc mạc, giản dị, gần gũi với
thiên nhiên, với cuộc sống của con người vùng biển... nhưng cũng không kém phần mưꢄn mà, trữ
tình đằm thắm.
“...Dùng dằng giã bạn...ngẩn ngơ
Để chiều ướt tím con đò sông quê
Nghiêng nghiêng vành nón trăng thề
Giếng làng em múc chiều về nắng buông...”
17
1.2.3.2. Ca trù (Thủy Nguyên – Hải Phòng).
Thủy Nguyên – Hải Phòng không chỉ lꢂ quê hương của những câu hát Đúm trữ tình, đằm
thắm mꢂ nơi đây còn lưu giữ một hình thức sinh hoạt dân gian vô cùng đặc sắc của Việt Nam, đó
là ca trù. Ca trù phát triển mạnh nhất ở lꢂng Đông Môn thuộc huyện Thủy Nguyên. Triều Gia Long
(1804 và 1810) gia phong và bao tặng, đủ nói lên Phủ Từ thờ Tổ Ca công đꢃ có trên 200 năm. Điều
nꢂy cũng thể hiện Đền thờ không chỉ dành riêng cho những giáo phường huyện Thủy Nguyên, phủ
Kinh Môn hay riêng của lꢂng Đông Môn, mꢂ lꢂ Đền thờ Tổ nghề của cả khu vực Duyên Hải.
Trải qua gần một nghìn năm ra đời và phát triển, ca trù đꢃ trở thành môn nghệ thuật độc đáo.
Nó lꢂ nơi kí thác tâm hồn của nhiều người, lꢂ nơi chứa đựng những tình cảm thiết tha, sâu lắng của
trái tim người nghe vꢂ người nghệ sĩ. Ca trù phát triển rộng khắp mọi nơi, bởi ca trù lꢂ hát thơ. Nói
đến nghệ thuật ca trù là phải nói đến những câu thơ sâu lắng, ý tình, mang hồn thơ dân tộc.
Chắc hẳn ai cũng quen thuộc bài ca trù “Đào hồng, đào tuyết” của Dương Khuê:
“Hồng hồng, tuyết tuyết
Mới ngày nào chưa biết cái chi chi
Mười lăm năm thấm thoát có xa gì
Ngoảnh mặt lại đã tới kỳ tơ liễu...”
1.2.3.3. Hò chèo cạn ở làng biển Cảnh Dương – Quảng Bình.
Hò chèo cạn ở làng biển Cảnh Dương cũng gồm một số lꢂn điệu ghép lại như hò chèo cạn
ở các xã vùng biển huyện Bố Trạch hay xã Bảo Ninh, thành phố Đồng Hới. Nhưng hò chèo cạn
Cảnh Dương có thể ghép một số lꢂn điệu trong tất cả các lꢂn điệu, chứ không nhất thiết phải hát hết
tất cả các lꢂn điệu của hò chèo cạn trong một lần trình diễn. Các lꢂn điệu đó lꢂ: Nói lối, hò hí gia,
hò vưꢄt sóng, hò khoan, hò kéo lưới, hò hụi, hò đưa linh.
Hò khoan: Lời ca câu hò khoan ở Cảnh Dương thường sꢀ dụng câu lục bát hay lục bát biến
thể. Mỗi câu hò thường đưꢄc ngắt làm ba cụm tiếng, mỗi cụm tiếng nꢂy thường là câu lục và hai
nꢀa câu của câu bát, đưꢄc người hò cái lĩnh xướng, rồi các bạn hò con xô: "là hò... hò khoan" (sau
câu lục và sau 4 tiếng sau của câu bát) và "Là bớ khoan, bớ khoan, bớ khoan" (sau 4 tiếng đầu của
câu bát).
Hò hụi: Đây lꢂ khúc hò rộn ràng nhất của nhóm chèo cạn, câu hò hụi không có lời ca cho
câu hò, mà chỉ dùng âm thanh tiết tấu đồn dập, mạnh mẽ, chắc khoẻ, láy lại ba bốn lần, làm cho
không khí thêm sôi động, thúc giục, tập trung sức người...
Vì thế, âm điệu hò có tác dụng cổ vũ, động viên người lao động trên sông nước muốn chiến
thắng thiên nhiên thì phải hiệp lực, mọi việc sẽ thꢂnh công. Lĩnh xướng: "hô hô hò hụi" và xô con
"là hò là hụi". Âm thanh nhịp điệu hò hụi chắc khỏe, dồn dập. Sau nhiều lần hò hụi thấm mệt, người
lĩnh xướng hò "hết hụi sang hò khoan", xô con tiếp "lꢂ hò... lꢂ khoan". Sau nꢂy, người dân đặt lời
ca thêm vào sau các câu hò cái và hò xô mà qua thời gian, hình thꢂnh điệu hò hụi, hò khoan nghe
rất nhuần nhuyễn.
Hò hí gia (hí la): Điệu hò hí gia (hò đưa) rất khoan thai nhẹ nhàng, giọng hò kéo dài, thanh
thản, cảm giác như trời xanh, biển lặng không một gꢄn sóng, chỉ có điệu hò cao vút mênh mông
giữa mây trời, câu hò lục bát hay lục bát biến thể cũng đưꢄc cắt làm ba phần như câu hò khoan.
Chèo cạn Cảnh Dương lꢂ một loại hình văn nghệ dân gian đặc sắc của một làng quê vùng
biển. Chèo cạn vận dụng nhiều lối ca hát, kể chuyện dân gian và lối biểu diễn mang tính cách điệu
cao của các trò diễn dân dꢃ. Động tác chèo thuyền, tát nước, buông neo,... đꢃ đưꢄc nghệ thuật hoá
vꢂ đưa lên sꢂn diễn một cách tự nhiên, nhuần nhuyễn. Nội dung các bài chèo cạn, dù có khi lời ca
vụng về, chưa đưꢄc gọt dũa, nhưng đꢃ diễn tả đưꢄc tâm tư, tình cảm của người dân đối với quê
hương, đất nước, với công việc chꢂi lưới, dựng làng, dựng xóm...
Hình thức diễn xướng sinh động, nội dung đa dạng, phong phú, có sức cuốn hút đặc biệt đối
với cả người diễn lẫn người xem, ngôn ngữ mộc mạc, lối hò dung dị nhưng vẫn thâm thuý, sâu sắc
vꢂ đi vꢂo lòng người, chèo cạn Cảnh Dương quả thật là hình thức diễn xướng dân gian độc đáo của
vùng sông nước miền Trung.
18
1.3. Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian.
1.3.1. Khái niệm quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 có nêu khái niệm quyền tác
giả như sau:
“2. Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra và
sở hữu”.
Điều 18 Luật Sở hữu trí tuệ quy định về quyền tác giả:
“Quyền tác giả đối với tác phẩm quy định tại Luật này bao gồm quyền nhân thân và quyền
tài sản”.
Tuy nhiên, đặc trưng của tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian là khó có thể xác định đưꢄc
tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm, văn học, nghệ thuật dân gian. Một số tác phẩm
văn học, nghệ thuật dân gian vẫn xác định đưꢄc tác giả sáng tạo ra chúng. Tuy nhiên đại đa số các
tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian đều không xác định đưꢄc tác giả. Tác phẩm văn học, nghệ
thuật dân gian ra đời là do sự sáng tạo của cộng đồng, có thể là cộng đồng theo sắc tộc hoặc cộng
đồng dân cư sinh sống ở một địa phương.
Như vậy, ta có thể hiểu quyền tác giả đối với tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian như sau:
Quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian là quyền của tổ chức, cá nhân
hoặc cộng đồng đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu,
bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản.
1.3.2. Khái niệm bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian.
Theo từ điển tiếng Việt của Viện khoa học xã hội Việt Nam, bảo hộ là che chở, không để bị
tổn thất, chống lại mọi sự xâm phạm và giữ cho luôn đưꢄc nguyên vẹn. Tác phẩm văn học nghệ
thuật dân gian một khi đꢃ trở thành khách thể của quan hệ pháp luật dân sự về quyền tác giả thì phải
đưꢄc bảo hộ theo luật quyền tác giả.
Từ các khái niệm về tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian, quyền tác giả đối với tác phẩm
văn học, nghệ thuật dân gian như đꢃ phân tích ở trên. Ta có thể đưa ra khái niệm bảo hộ quyền tác
giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian như sau:
Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian là việc Nhà nước, sử
dụng chính sách, pháp luật về quyền tác giả để chống lại mọi sự xâm hại đối với tác phẩm văn học,
nghệ thuật dân gian.
1.3.3. Mục đích, ý nghĩa bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân
gian.
• Đối với thế giới:
Thế giới đang đứng trước ngưỡng cꢀa của sự toàn cầu hóa, sự phát triển như vũ bảo của
công nghệ thông tin, đặc biệt lꢂ trong lĩnh vực ghi âm, nghe nhìn, phát sóng, truyền hình cáp, điện
ảnh có thể dẫn đến việc khai thác bất hꢄp lý di sản văn hóa cũng như việc thương mại hóa trên quy
mô toàn cầu thông qua các phương tiện đó, thiếu sự tôn trọng cần thiết đối với các lꢄi ích văn hóa
hay kinh tế của các cộng đồng nơi chúng đưꢄc sinh ra. Do đó, vấn đề bảo hộ tác phẩm văn học,
nghệ thuật dân gian ngày càng phải đòi hỏi cấp thiết hơn.
Thứ nhất, sꢀ dụng tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian vì mục đích chung của công đồng,
không chỉ vì các mục đích vật chất, mà còn là sự ghi nhận về những giá trị về mặt tinh thần nhằm
duy trì nét đẹp truyền thống, giữ gìn vốn cổ mà nó mang lại. Trước tiên, tác phẩm văn học nghệ
thuật dân gian chứa đựng nhiều giá trị to lớn đối với con người: giá trị giáo dục, giá trị nhận thức,
giá trị thẩm mỹ và giá trị sinh hoạt.
Vì vậy, bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian là cần thiết nhằm
duy trì những giá trị tốt đẹp đó. Tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian là một kho kiến thức đồ sộ
của các dân tộc trên thế giới, nhìn vào một tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian ta dễ dàng nhận
thấy lối sinh hoạt, nét văn hóa của dân tộc đó, đồng thời nó còn có tác dụng giáo dục sâu sắc như
lòng yêu nước, tình yêu thiên nhiên, lòng vị tha…
19
Thứ hai, phát triển nền kinh tế thị trường lꢂm cho người ta coi giá trị thị trường là giá trị
chân thực duy nhất dùng để đo các giá trị khác, dẫn đến nguy cơ “thương mại hóa”, lꢂm bại hoại
đạo đức truyền thống, thuần phong mỹ tục, giá trị truyền thống bị nhận thức sai lệch. Chẳng hạn ở
Việt Nam, trong một thời gian dài loại hình sân khấu chèo, cải lương, ca trù… đꢃ không đưꢄc mọi
người chú ý. Thậm trí ca trù trong một thời gian còn bị cấm. Thêm vꢂo đó lꢂ lꢂn sóng văn hóa Hꢂn
Quốc thông qua con đường phim truyền hình đꢃ thâm nhập sâu rộng, mạnh mẽ vꢂo đời sống văn
hóa Việt Nam, tác động không ít đến nhận thức, hành vi, lối sống, ứng xꢀ, quan điểm thẩm mĩ của
một bộ phận giới trẻ Việt Nam theo hướng “Hꢂn Quốc hóa”. Vì vậy, vấn đề cấp thiết nhằm bảo
đảm sự phát triển một cách lành mạnh tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian, đó lꢂ phải bảo hộ
chúng.
Thứ ba, vấn đề bồi thường cho sự chiếm đoạt và xâm hại nền văn hóa của dân tộc. Cùng
với việc du nhập của văn hóa nước ngoài và phát triển như vũ bꢃo của nền kinh tế thị trường lꢂ cơ
hội để các nước học hỏi kinh nghiệm và tiếp thu có chọn lọc những thành tựu tiến bộ trong các lĩnh
vực chuyển giao công nghệ và truyền bꢂ tư tưởng, lối sống của các quốc gia với nhau trên quy mô
ngày càng lớn. Những thành quả mới mẻ, những khám phá, sáng tạo về khoa học, kỹ thuật, công
nghệ, tổ chức quản lý, sản xuất kinh doanh, phong tục, lối sinh hoạt,… tác động đến các dân tộc,
đến từng gia đình, từng người. Bên cạnh những tác động tích cực thì sức mạnh của toàn cầu hóa
đang lꢂ thách thức lớn, tác động tiêu cực đến mọi mặt của đời sống xã hội. Ở những nước chậm và
đang phát triển thì sự thách thức vꢂ tác động tiêu cực lại càng lớn hơn, trong đó có cả tư tưởng, đạo
đức, lối sống (văn hóa) nói chung vꢂ nền văn học dân gian nói riêng. Một khi nền văn hóa của dân
tộc bị xâm hại, mai một thì những gì đưꢄc coi lꢂ tinh hoa văn hóa của nhân loại, là bản sắc dân tộc
sẽ không còn lꢂ đặc thù riêng của mỗi quốc gia nữa. Bởi nét văn hóa đó tưꢄng trưng cho tư tưởng,
lối ứng xꢀ, phong tục tập quán, con người… của họ. Do đó, khi bảo hộ tác phẩm văn học, nghệ
thuật dân gian chúng ta phải xác lập vấn đề bồi thường khi có hành vi xâm phạm nền văn hóa của
dân tộc nói chung và tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian nói riêng. Qua đó thể hiện đưꢄc sự
quan tâm của chính quyền tới đời sống xã hội, đời sống văn hóa của người dân, góp phần ổn định
trật tự xã hội.
Thứ tư, đặt ra vấn đề vật chất khi thu phí sꢀ dụng tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian.
Việc bảo hộ tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian sẽ đề ra việc cấp phép sꢀ dụng, số tiền thu đưꢄc
từ việc cấp phép đó sẽ góp phần vào việc tu bổ, phát triển các loại hình tác phẩm văn học, nghệ
thuật dân gian. Bảo hộ tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian sẽ tạo ra lꢄi ích cho cộng đồng lưu
giữ chúng, khi có ai muốn khai tác một tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian thì đồng nghĩ với
việc họ phải bỏ ra một khoản phí để sꢀ dụng chúng, góp phần vào sự duy trì sự tồn tại của tác phẩm
văn học, nghệ thuật dân gian.
• Đối với Việt Nam
Thứ nhất, giống như các nước trên thế giới khi bảo hộ tác phẩm văn học, nghệ thuật dân
gian. Pháp luật Việt Nam có những quy định về bảo hộ tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian nhằm
duy trì những giá trị truyền thống, nét tinh hoa văn hóa của dân tộc, đồng thời bảo tồn sự phát triển
lâu dài, bền vững của tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian. Hơn nữa, Việt Nam là một nước có
bè dày lịch sꢀ, truyền thống, những nét văn hóa đều đưꢄc đúc kết và thể hiện qua các tác phẩm văn
học, nghệ thuật dân gian. Mỗi tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian là cả một quá trình sáng tạo,
là một kho tri thức, một kho kinh nghiệm rất quý báu của ông cha để lại, vì thế chúng cần đưꢄc gìn
giữ vꢂ đưꢄc bảo hộ.
Bảo hộ, duy trì và phát huy những giá trị vốn có của tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian
cũng giống như bảo về đạo đức của cả một xã hội, khích lệ lòng dân, duy trì những nét văn hóa
truyền thống của các cộng đồng làng xã tồn tại từ lâu đời, đó lꢂ những vốn cổ, là tâm hồn của người
Việt không đưꢄc để mai một. Trải qua hꢂng ngꢂn năm lịch sꢀ ông cha ta đꢃ cố công xây dựng và
giữ gìn những áng văn chương bất hủ của dân tộc như ca trù, ca dao, tục ngữ, truyện cổ tích…
chúng đꢃ ăn sâu vꢂo tiềm thức của mỗi con người ở mỗi một vùng miền trên đất nước Việt Nam
nói riêng và cả dân tộc ta nói chung. Do đó, chúng ta không thể làm mất đi những nét đẹp văn hóa
20
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tài liệu Kỷ yếu hội nghị khoa học sinh viên về sở hữu trí tuệ (Nhân ngày Sở hữu trí tuệ thế giới 26.4.2018)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
tai_lieu_ky_yeu_hoi_nghi_khoa_hoc_sinh_vien_ve_so_huu_tri_tu.pdf

