Tài liệu hướng dẫn các tình huống học phần Luật dân sự
Chương 1
ĐỊNH HƯỚNG CHUNG VỀ NGHIÊN CỨU
TÌNH HUỐNG LUẬT DÂN SỰ
1.1. Đặc điểm học phần Luật Dân sự và yêu cầu đối với việc nghiên
cứu tình huống Luật Dân sự
1.1.1. Đặc điểm học phần Luật Dân sự
Luật Dân sự là một học phần bắt buộc trong chương trình đào tạo
cử nhân Luật của tất cả các cơ sở đào tạo luật ở Việt Nam hiện nay. Đây
là học phần nền tảng, cung cấp các kiến thức cần thiết để người học có
thể tiếp cận các học phần khác như học phần Luật Thương mại, Luật Hôn
nhân và Gia đình, Luật Lao động… Vì vậy, phạm vi của học phần rất
rộng và phức tạp. Học phần Luật Dân sự có các đặc điểm cơ bản sau đây:
- Luật Dân sự là học phần có phạm vi nghiên cứu rộng. Cung cấp
cho người học kiến thức nền tảng để nghiên cứu các học phần có liên
quan, do đó khối lượng kiến thức khá nhiều, đòi hỏi người học phải
nghiên cứu không chỉ Bộ Luật Dân sự mà còn phải nghiên cứu các văn
bản quy phạm pháp luật liên quan khác như: Luật Hôn nhân và Gia đình,
Luật Đất đai, Luật Nhà ở, Luật Kinh doanh Bất động sản,… mới có thể
giải quyết được các vấn đề mà môn học yêu cầu.
- Luật Dân sự tiếp cận trên cơ sở kết hợp giữa lý luận và thực tiễn.
Do vậy, phương pháp giảng dạy không chỉ có áp dụng phương pháp
thuyết giảng mà kết hợp giữa phương pháp thuyết giảng và phương pháp
tình huống nhằm rèn luyện khả năng tra cứu, áp dụng pháp luật cho
người học. Người học cần liên hệ thực tiễn trong quá trình học tập để
nắm bắt kịp thời những thay đổi trong đời sống dân sự nhằm có phương
pháp giải quyết những tranh chấp dân sự hiệu quả, đồng thời phát hiện
những vấn đề pháp lý liên quan nhằm đề xuất hoàn thiện pháp luật hiện
hành.
1.1.2. Mục tiêu học phần Luật Dân sự
Luật Dân sự là học phần bắt buộc trong tất cả cả các cơ sở đào tạo
1
cử nhân Luật. Để đáp ứng nhu cầu của thực tiễn, học phần Luật Dân sự
hướng đến các mục tiêu sau đây:
- Về kiến thức:
+ Hiểu và có khả năng vận dụng các kiến thức nền tảng của khoa
học Luật Dân sự trong việc nhận biết và giải quyết các tình huống phát
sinh trong đời sống xã hội và thực tiễn đòi hỏi của công việc trong tương
lai gắn với một số chức danh nghề nghiệp thuộc lĩnh vực pháp Luật Dân
sự.
+ Thông hiểu và có khả năng vận dụng các kiến thức chuyên sâu
trong lĩnh vực Luật Dân sự để phân tích, tổng hợp và độc lập đưa ra quan
điểm cá nhân về vấn đề pháp lý phát sinh; đưa ra được cách thức giải
quyết tình huống phát sinh dựa trên tư duy pháp lý có tính hệ thống.
- Về kỹ năng:
+ Biết cách tra cứu văn bản pháp luật, phân tích, lựa chọn và áp
dụng đúng quy định của pháp Luật Dân sự trong giải quyết những vấn đề
phát sinh trong thực tiễn.
+ Có khả năng tư duy hệ thống, nhận thức, phân tích, đánh giá
các vấn đề pháp lý về Luật Dân sự; có phương pháp phân tích, đánh giá
mối liên hệ giữa quy định pháp luật và tình huống pháp lý phát sinh để
nhận diện vấn đề pháp lý cần giải quyết, phương pháp, cách thức giải
quyết vấn đề pháp lý dựa trên nền tảng tư duy pháp lý.
+ Có khả năng phân tích, tổng hợp, đánh giá dữ liệu và thông tin,
tổng hợp ý kiến tập thể; có kỹ năng phát biểu và trình bày quan điểm cá
nhân về một vấn đề pháp lý tương ứng với từng chức danh nghề nghiệp
trong lĩnh vực pháp Luật Dân sự.
1.1.3. Yêu cầu đối với việc nghiên cứu tình huống Luật Dân sự
Nghiên cứu tình huống Luật Dân sự, người học cần đáp ứng các
yêu cầu sau:
- Có kiến thức lý luận nền tảng về Lý luận Nhà nước và pháp luật
cũng như kiến thức lý thuyết của môn học tương ứng chương, mục cần
nghiên cứu tình huống.
- Có phương pháp tra cứu văn bản pháp luật liên quan.
- Đọc và hiểu tình huống cũng như yêu cầu mà tình huống đặt ra.
2
1.2. Cơ cấu giải quyết tình huống
Xác định cơ cấu giải quyết tình huống là nền tảng ban đầu để người
học sau khi ra trường có thể áp dụng vào thực tiễn giải quyết các vụ việc
dân sự. Giải quyết một tình huống theo cơ cấu hoàn chỉnh còn giúp người
học đạt được đồng thời ít nhất là ba (03) kỹ năng, đó là kỹ năng tư duy
pháp lý, kỹ năng tra cứu văn bản và kỹ năng lập luận. Cơ cấu giải quyết
một tình huống bao gồm các bước sau đây:
1.2.1. Vấn đề pháp lý liên quan
Trước khi giải quyết tình huống, người học cần phải đọc kỹ tình
huống và xác định các sự kiện mấu chốt hay còn gọi là các từ khóa. Việc
xác định vấn đề pháp lý rất quan trọng cho bước khởi đầu để giải quyết
tình huống, bởi vì, trong một tình huống cụ thể có thể có rất nhiều sự
kiện pháp lý. Tình huống mà đương sự hay người yêu cầu tư vấn,… yêu
cầu giải quyết có thể chứa đựng rất nhiều thông tin nhưng người tiếp
nhận giải quyết phải nắm được các vấn đề có liên quan, sự kiện nào cần
thiết phải giải quyết, sự kiện nào không cần thiết cho việc giải quyết tình
huống. Để làm được điều này, khi tiếp nhận tình huống cần đọc kỹ/nghe
kỹ, sau đó phân tích tình huống để xâu chuỗi tất cả các sự kiện trong tình
huống đó nhằm xác định tính liên quan của các vấn đề nhằm giải quyết
yêu cầu của tình huống.
Xác định vấn đề pháp lý liên quan là bước đầu tiên quan trọng để
thực hiện các bước tiếp theo trong cơ cấu giải quyết tình huống. Bởi vì,
nếu không xác định được vấn đề pháp lý liên quan thì sẽ không biết tra
cứu văn bản nào, điều luật nào và vì vậy lập luận được dùng để giải quyết
vấn đề có thể không đáp ứng yêu cầu của tình huống (hay còn gọi là lạc
đề).
1.2.2. Căn cứ pháp lý giải quyết tình huống
Căn cứ pháp lý để giải quyết tình huống được hiểu là căn cứ vào
Điều nào, Khoản nào của văn bản quy phạm pháp luật nào để giải quyết
tình huống đó. Khi giải quyết tình huống phải chỉ rõ căn cứ pháp lý cụ
thể.
3
Sau khi đã xác định được vấn đề pháp lý liên quan ở bước thứ nhất,
bước tiếp theo trong cơ cấu giải quyết tình huống là bước tra cứu văn bản
để xác định căn cứ pháp lý được áp dụng nhằm giải quyết tình huống.
Thực hiện bước này sẽ rèn luyện cho sinh viên kỹ năng tra cứu văn
bản. Tra cứu văn bản là một kỹ năng cơ bản mà bất kỳ sinh viên luật nào
cũng phải có. Trong một hệ thống văn bản đồ sộ điều chỉnh về quan hệ pháp
Luật Dân sự, sinh viên cần phải xác định được văn bản để tra cứu và điều
luật để tra cứu. Để làm được điều này, cần phải nắm được nguyên tắc áp
dụng BLDS quy định tại Điều 4 BLDS năm 2015, sau đó dựa trên vấn đề
pháp lý liên quan xác định được ở bước thứ nhất để tra cứu điều luật cụ thể
điều chỉnh về các vấn đề đó.
Xác định căn cứ pháp lý để giải quyết tình huống là bước quan
trọng thứ hai không thể bỏ qua trong cơ cấu giải quyết tình huống Luật
Dân sự. Bởi vì, sinh viên không thể giải quyết một tình huống về luật mà
thiếu căn cứ pháp lý, còn gọi là giải quyết thiếu cơ sở, nói “không có
sách, mách không có chứng” sẽ không thể thuyết phục được người nghe.
Bản thân việc giải quyết tình huống Luật Dân sự là dựa trên hệ thống văn
bản điều chỉnh quan hệ pháp Luật Dân sự, nhưng viện dẫn quy định nào
và văn bản nào để áp dụng cho việc giải quyết tình huống mà thuyết phục
được người đọc, người nghe tin là đúng mới là điều quan trọng.
1.2.3. Lập luận giải quyết tình huống
Một trong những công cụ quan trọng dẫn đến thành công của người
luật sư, thẩm phán, kiểm sát viên,…là lập luận sắc bén. Vì vậy, lập luận
là kỹ năng không thể thiếu của sinh viên chuyên ngành luật. Lập luận
phải dựa trên cơ sở quy định của pháp luật hiện hành về vấn đề cần giải
quyết.
Lập luận trong cơ cấu giải quyết tình huống Luật Dân sự được hiểu
là áp dụng các điều luật đã tra cứu được tại bước thứ hai tại mục 1.2.2
của Chương này để giải quyết các vấn đề pháp lý liên quan xác định tại
bước thứ nhất tại mục 1.1.1. Đây chính là bước dùng ngôn ngữ để thuyết
phục người khác.
Đối với sinh viên luật, khi giải quyết tình huống chắc chắn không
4
thể thiếu lập luận. Trong tình huống Luật Dân sự không thể có cộng, trừ,
nhân, chia mà phải dùng lập luận để diễn giải vấn đề trên cơ sở căn cứ
pháp lý rõ ràng.
Lập luận là bước thứ ba không kém phần quan trọng trong cơ cấu
giải quyết tình huống Luật Dân sự. Bởi vì, bước thứ nhất và bước thứ hai
mới chỉ cho thấy vấn đề pháp lý liên quan cần giải quyết và căn cứ pháp
lý đề giải quyết, còn cách giải quyết như thế nào, áp dụng các điều luật
đó ra sao trong các vấn đề đã xác định được thì chỉ có thông qua bước lập
luận, người đọc/người nghe mới hiểu được vấn đề đã được giải quyết như
thế nào.
1.2.4. Kết luận về tình huống
Kết luận là bước cuối cùng trong cơ cấu giải quyết tình huống Luật
Dân sự để chốt lại vấn đề cần giải quyết. Khi thực hiện bước cuối cùng
cần phải nắm một nguyên tắc là chỉ kết luận đúng vấn đề đã được yêu
cầu giải quyết mà không đưa thêm thông tin khác vào phần kết luận. Bởi
vì, nếu đưa thêm thông tin vào phần kết luận sẽ làm cho tình huống có
một kết luận mở, mà ở đó người đọc/người nghe có thể sẽ hiểu sang một
hướng khác. Mặt khác, nếu đưa thêm thông tin vào phần kết luận, thì lại
phải tiếp tục giải quyết vấn đề nêu ra trong thông tin ấy, cứ như thế, tình
huống sẽ có những giả sử này, giả sử nọ và không bao giờ kết thúc. Cuối
cùng lại dẫn tới một kết quả là “lạc đề”.
1.3. Phương pháp tiếp cận và cách thức sử dụng tài liệu hướng dẫn
giải quyết tình huống
1.3.1. Phương pháp tiếp cận
Để giải quyết được các tình huống trong cuốn tài liệu này, trước hết
người học phải đọc tình huống và phân tích tình huống để chỉ ra các sự
kiện pháp lý mấu chốt cần được giải quyết trong tình huống. Tất nhiên,
những sự kiện mấu chốt này khi giải mã được sẽ chính là câu trả lời cho
yêu cầu của tình huống.
Một vấn đề cần đặc biệt lưu ý trong giải quyết tình huống Luật Dân
sự cũng như vận dụng trong giải quyết án dân sự là chỉ giải quyết những
5
gì đương sự yêu cầu. Do đó, để không bị “lạc đề” trong giải quyết tình
huống, sinh viên cần tuân thủ nguyên tắc: chỉ dựa vào những thông tin có
trong tình huống và không suy luận thêm các tình tiết khác (trừ trường
hợp yêu cầu của tình huống nêu rõ cho phép có thêm thông tin khác –
thường là trong chương/mục liên quan đến soạn thảo văn bản).
Trường hợp tình huống chỉ yêu cầu giải quyết một vấn đề thì sinh
viên chỉ giải quyết trong phạm vi yêu cầu đó trên cơ sở quy định của
pháp luật, tuyệt đối không suy luận theo kiểu: Vì mệnh đề A sai nên
mệnh đề B đúng. Chẳng hạn, tình huống yêu cầu: xác định yêu cầu của A
(về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng do B xác lập là vô hiệu) có
được chấp nhận hay không, trong khi các thông tin khác cho thấy mặc dù
B không có quyền xác lập hợp đồng và A cũng không đủ điều kiện để
yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu (tức người không có quyền yêu cầu),
nhưng lại lập luận theo kiểu: Vì B không có quyền xác lập hợp đồng nên
yêu cầu của A được chấp nhận. Cách lập luận như vậy là “lạc đề”. Sở dĩ
không được lập luận như vậy là vì các lý do sau:
Thứ nhất, câu hỏi chỉ nhằm mục đích yêu cầu giải quyết vấn đề về
yêu cầu của A được hay không được chấp nhận, mà không yêu cầu xem
xét hợp đồng do B đã xác lập. Đây là hai vấn đề pháp lý khác nhau không
thể đánh đồng.
Thứ hai, liên hệ thực tiễn giải quyết tranh chấp dân sự thì trường
hợp A yêu cầu tuyên bố hợp đồng do B xác lập là vô hiệu, trong khi đó
Tòa án xem xét chứng cứ thì thể hiện A không phải là người có quyền
yêu cầu, trường hợp này Tòa án chỉ có quyền bác yêu cầu của A mà
không được đồng thời tuyên bố hợp đồng vô hiệu, mặc dù xét thấy hợp
đồng đó là vô hiệu.
Từ những sự kiện pháp lý mấu chốt đó, người học phải tra cứu văn
bản quy phạm pháp luật để tìm ra những điều luật điều chỉnh về các sự
kiện mấu chốt mình đã xác định. Việc tra cứu văn bản quy phạm pháp
luật không đơn giản là chỉ tra cứu trong một văn bản nhất định. Học phần
Luật Dân sự là một học phần có tính liên quan, quan hệ pháp Luật Dân
sự không chỉ được điều chỉnh bởi BLDS mà còn được điều chỉnh bởi các
Luật liên quan khác. Việc áp dụng BLDS đã được quy định rõ tại Điều 4
6
của BLDS năm 2015, theo đó trong trường hợp Luật khác có liên quan
không quy định hoặc có quy định nhưng trái với các nguyên tắc cơ bản
của pháp Luật Dân sự quy định tại Điều 3 thì quy định của BLDS được
áp dụng. Chính vì thế, khi tra cứu văn bản quy phạm pháp luật để xác
định Điều luật được áp dụng để giải quyết tranh chấp cần lưu ý trường
hợp quan hệ pháp Luật Dân sự đang nghiên cứu ngoài BLDS cũng có
Luật liên quan khác quy định thì phạm vi văn bản được tra cứu không chỉ
có BLDS mà phải tra cứu cả văn bản luật liên quan. Trong trường hợp
người học đã tra cứu được điều luật quy định về vấn đề cần giải quyết
nhưng điều luật đó lại dẫn chiếu tới một hoặc một số điều luật khác thì
phải tiếp tục tra cứu các điều luật được dẫn chiếu tới. Sau khi tra cứu
được các điều luật cần thiết để giải quyết các sự kiện pháp lý mấu chốt
mà người học đã khoanh vùng, thì vấn đề tiếp theo là áp dụng các quy
định đã tìm được để giải quyết các sự kiện nói trên. Và cuối cùng, người
học phải chốt lại vấn đề nghiên cứu, tức là tổng hợp vấn đề để đưa ra kết
luận về việc giải quyết tình huống.
Việc sinh viên áp dụng được quy phạm pháp luật để giải quyết tình
huống chính là thước đo mức độ hiểu bài của sinh viên sau khi giảng viên
truyền đạt kiến thức lý thuyết.
1.3.2. Cách thức sử dụng tài liệu hướng dẫn giải quyết tình huống
Cuốn tài liệu Hướng dẫn giải quyết tình huống học phần Luật Dân
sự không phải là một dạng tài liệu có sẵn lời giải cho các tình huống
trong học phần Luật Dân sự. Do đó, tài liệu này không giống như những
cuốn sách chúng ta đã thấy ở các bậc học phổ thông như: “Để học tốt
Tiếng Việt”, “Để học tốt Vật Lý”,… Tài liệu này được biên soạn nhằm
mục đích gợi ý, hướng dẫn cho sinh viên phương pháp giải quyết tình
huống trong môn học Luật Dân sự. Do vậy, để sử dụng hiệu quả tài liệu
này, sinh viên trước hết không nên xem nó như một cái “phao”, chỉ để sử
dụng đến khi cần giải quyết một tình huống cụ thể nào đó.
Sử dụng tài liệu Hướng dẫn giải quyết tình huống Luật Dân sự cần
thiết thực hiện theo từng bước sau đây để thu được kết quả như ý:
Bước 1: Đọc phần lý luận tại Chương 1 về cơ cấu giải quyết tình
7
huống và yêu cầu của việc nghiên cứu tình huống để nắm được phương
pháp giải quyết một tình huống Luật Dân sự.
Bước 2: Đọc các tình huống mẫu tại các chương/mục cần nghiên
cứu và phương pháp giải quyết các tình huống mẫu đó.
Bước 3: Hiểu yêu cầu của tình huống và cách thức giải quyết đã
nghiên cứu tại bước 2.
Bước 4: Tự nghiên cứu các tình huống có gợi ý sẵn và giải quyết
theo cách thức đã đọc và hiểu tại các bước 1, 2, 3.
Bước 5: Nghiên cứu tình huống không có gợi ý trả lời và tự giải
quyết theo phương pháp đã rèn luyện.
Sau khi thực hiện thành công các bước nói trên, sinh viên đã hình
thành được thói quen tư quy pháp lý để có thể giải quyết bất kỳ tình
huống nào trong thực tiễn.
8
Chương 2
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
VỀ LUẬT DÂN SỰ
2.1. Mục tiêu nhận thức
Trong Chương này, người học cần đạt được mục tiêu nhận thức
liên quan kiến thức và kỹ năng như sau:
2.1.1. Về kiến thức
- Hiểu được nguyên tắc áp dụng BLDS và Luật khác có liên quan
trong quan hệ pháp Luật Dân sự.
- Hiểu được điều kiện áp dụng tập quán, quy định tương tự pháp
luật và cách xác định thời hạn, thời hiệu.
- Hiểu quy định về chủ thể của QHPL dân sự, quy định về tài sản,
quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản.
- Hiểu được trình tự, thủ tục xác lập quyền sở hữu trong trường hợp
cụ thể; hiểu đặc điểm và ý nghĩa của các phương thức bảo vệ quyền sở
hữu.
- Thông hiểu và có khả năng vận dụng các kiến thức nêu trên vào
giải quyết tình huống cụ thể.
2.1.2. Về kỹ năng
- Có khả năng tra cứu văn bản áp dụng, điều luật áp dụng vào tình
huống cụ thể.
- Có khả năng lập luận.
- Có khả năng tư vấn bảo vệ quyền trong trường hợp cụ thể.
2.2. Áp dụng Bộ Luật Dân sự
2.2.1. Hiệu lực của Bộ luật Dân sự và nguyên tắc áp dụng Bộ Luật
Dân sự
2.2.1.1. Lý thuyết
Hiệu lực của BLDS được quy định tại Điều 689: BLDS có hiệu lực
thi hành kể từ ngày 01/01/2017. Như vậy, những quan hệ dân sự phát
9
sinh từ ngày 01/01/2017 trở đi thì áp dụng BLDS năm 2015. Tuy nhiên,
do các tranh chấp dân sự rất phức tạp, đồng thời vận dụng triệt để nguyên
tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của chủ thể, do đó một số giao dịch dân
sự mặc dù xác lập trước ngày BLDS năm 2015 có hiệu lực nhưng vẫn có
thể áp dụng BLDS năm 2015. Vấn đề này được quy định cụ thể tại Điều
688 như sau:
“ Đối với giao dịch dân sự được xác lập trước ngày Bộ luật này có
hiệu lực thì việc áp dụng pháp luật được quy định như sau:
- Giao dịch dân sự chưa được thực hiện mà có nội dung, hình thức
khác với quy định của Bộ luật này thì chủ thể giao dịch tiếp tục thực hiện
theo quy định của Bộ Luật Dân sự số 33/2005/QH11 và các văn bản quy
phạm pháp luật quy định chi tiết Bộ Luật Dân sự số 33/2005/QH11, trừ
trường hợp các bên của giao dịch dân sự có thỏa thuận về việc sửa đổi,
bổ sung nội dung, hình thức của giao dịch để phù hợp với Bộ luật này và
để áp dụng quy định của Bộ luật này;
Giao dịch dân sự đang được thực hiện mà có nội dung, hình thức
khác với quy định của Bộ luật này thì áp dụng quy định của BLDS số
33/2005/QH11 và các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết Bộ
Luật Dân sự số 33/2005/QH11;
- Giao dịch dân sự chưa được thực hiện hoặc đang được thực hiện
mà có nội dung và hình thức phù hợp với quy định của Bộ luật này thì áp
dụng quy định của Bộ luật này;
- Giao dịch dân sự được thực hiện xong trước ngày Bộ luật này có
hiệu lực mà có tranh chấp thì áp dụng quy định của BLDS số
33/2005/QH11 và các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết
BLDS số 33/2005/QH11 để giải quyết;
- Thời hiệu được áp dụng theo quy định của Bộ luật này”.
Như vậy, trường hợp giao dịch dân sự chưa được thực hiện mà có
nội dung, hình thức khác với quy định của BLDS năm 2015 nhưng các
bên của giao dịch có sự thỏa thuận về việc sửa đổi, bổ sung nội dung,
hình thức của giao dịch để phù hợp với Bộ luật này và để áp dụng quy
định của Bộ luật này hoặc giao dịch dân sự chưa được thực hiện hoặc
10
đang được thực hiện mà có nội dung và hình thức phù hợp với quy định
của Bộ luật này thì BLDS năm 2015 được áp dụng.
Thời hiệu được áp dụng theo quy định của BLDS năm 2015 được
quy định tại Điểm d, Khoản 1, Điều 688 được hiểu là đối với giao dịch
dân sự xác lập trước ngày BLDS năm 2015 có hiệu lực nhưng tranh chấp
phát sinh từ ngày 1/1/2017 trở đi thì thời hiệu được áp dụng theo quy
định của BLDS năm 20151.
Nguyên tắc áp dụng Bộ Luật Dân sự:
Bộ Luật Dân sự là luật chung điều chỉnh quan hệ dân sự. Việc áp
dụng BLDS được thực hiện theo quy định tại Điều 4 của BLDS năm
2015. Theo đó, “Luật khác có liên quan điều chỉnh quan hệ dân sự trong
các lĩnh vực cụ thể không được trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp
Luật Dân sự quy định tại Điều 3 của BLDS. Trường hợp luật khác có liên
quan không quy định hoặc có quy định nhưng vi phạm Khoản 2 Điều này
thì quy định của BLDS được áp dụng. Trường hợp có sự khác nhau giữa
quy định của BLDS và Điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam là thành viên về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của
Điều ước quốc tế”.
Như vậy, BLDS năm 2015 được áp dụng trong trường hợp luật
khác có liên quan không quy định hoặc có quy định nhưng vi phạm
Khoản 2 Điều 4 của Bộ luật này. Điều này có nghĩa rằng, các Luật liên
quan được ưu tiên áp dụng trước so với BLDS, chẳng hạn trong hợp
đồng mua bán nhà ở thì để xác định đối tượng nhà ở có được phép giao
dịch hay không phải căn cứ vào luật liên quan ở đây là Luật Nhà ở. Tuy
nhiên, điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mua bán nhà ở không được
quy định trong Luật Nhà ở nên cần áp dụng BLDS để xác định. Đây
chính là trường hợp Luật liên quan không quy định và BLDS được áp
dụng. Trong trường hợp Luật liên quan có quy định nhưng quy định đó
trái với nguyên tắc cơ bản được quy định tại Điều 3 của BLDS thì Luật
liên quan không được áp dụng mà áp dụng BLDS.
1 Về vấn đề này xin xem thêm: Nghị quyết số 103/2015/QH13 của Quốc hội về việc thi
hành Bộ luật Tố tụng Dân sự và Nghị quyết số 02/2016/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm
phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của Nghị quyết số
103/2015/QH13.
11
Việc áp dụng BLDS cũng cần được cân nhắc khi văn bản điều
chỉnh quan hệ dân sự song song BLDS là Điều ước quốc tế. Trong
trường hợp có Điều ước quốc tế điều chỉnh quan hệ dân sự thì Điều ước
quốc tế luôn được ưu tiên áp dụng.
2.2.1.2. Tình huống và hướng dẫn giải quyết
Tình huống 12: Tháng 6/2016, vợ chồng ông Thới, bà Loan thỏa
thuận mua đàn cừu (52 con) của ông Bảy với giá 185 triệu đồng. Ông
Bảy cam đoan đàn cừu có 44 con là cừu cái giống đuôi ngắn loại tốt, sinh
sản một năm hai lần. Vợ chồng ông Thới, bà Loan đã giao đủ tiền cho
ông Bảy làm ba lần, cụ thể: ngày 6/7/2016 trả 50 triệu đồng; ngày
24/7/2016 trả 35 triệu đồng và ngày 2/8/2016 trả 100 triệu đồng.
Sau khi nhận cừu về nuôi thì ông bà phát hiện trong số 44 con cừu
cái giống chỉ có 06 (sáu) con là giống cụt đuôi loại tốt, 38 con còn lại là
cừu cái giống Thái Lan loại cừu dài đuôi nhưng đã bị ông Bảy chặt cụt
đuôi (là loại giống xấu, giá thấp) để bán cho ông bà theo loại giống tốt
cụt đuôi.
Ngày 10/2/2017, vợ chồng ông Thới, bà Loan đã khởi kiện tại Tòa
án có thẩm quyền yêu cầu buộc ông Bảy phải hoàn trả cho ông bà số tiền
chênh lệch là 64 triệu đồng.
Yêu cầu: Lựa chọn văn bản để áp dụng giải quyết tranh chấp trong
tình huống trên.
Hướng dẫn:
Để lập luận cho việc xác định văn bản nào được áp dụng để giải
quyết tranh chấp trong tình huống trên, cần thực hiện theo cơ cấu sau:
1/ Xác định vấn đề pháp lý liên quan
- Tháng 6/2016, ông Thới và bà Loan xác lập hợp đồng mua đàn
cừu của ông Bảy với giá 185 triệu đồng.
- Ngày 6/7/2016; 24/7/2016 và ngày 2/8/2016, bên mua đã thanh
toán 3 lần tiền, tổng cộng đã đủ 185 triệu đồng.
- Sau khi nhận cừu về nuôi thì đến ngày 10/2/2017 phát sinh tranh
chấp.
2 Nguồn: Quyết định số 112/2009/DS-GĐT ngày 24/3/2009 của Tòa dân sự Tòa án nhân
dân Tối cao.
12
Vậy, giao dịch dân sự đã thực hiện xong trước ngày BLDS năm
2015 có hiệu lực nhưng tranh chấp phát sinh khi BLDS năm 2015 đã có
hiệu lực thì áp dụng văn bản nào để giải quyết (BLDS năm 2015 hay
BLDS năm 2005)?
2/ Căn cứ pháp lý
Để xác định được căn cứ pháp lý cho lập luận về việc lựa chọn văn
bản áp dụng để giải quyết tranh chấp trong tình huống trên thì cần tra cứu
văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh các sự kiện đã xác định được ở mục (1/).
Cụ thể:
- Giao dịch dân sự được xác lập vào tháng 6/2016, lúc này BLDS
năm 2005 đang có hiệu lực nên văn bản cần tra cứu là BLDS năm 2005.
- Giao dịch dân sự đã xác lập xong trước ngày BLDS năm 2015 có
hiệu lực nhưng sau khi BLDS năm 2015 có hiệu lực mới phát sinh tranh
chấp. Vậy, cần tra cứu điều khoản chuyển tiếp trong BLDS năm 2015.
Sau khi tra cứu theo thứ tự như trên ta xác định được căn cứ pháp
lý bao gồm:
+ Điều 2 BLDS năm 2005;
+ Điều 688.1.c BLDS năm 2015.
3/ Lập luận
- Ông Thới và bà Loan xác lập giao dịch mua đàn cừu của ông Bảy
vào tháng 6/2016, lúc này BLDS năm 2005 đang có hiệu lực. Theo quy
định tại Điều 2 của BLDS năm 2005 thì “quan hệ dân sự được xác lập từ
ngày BLDS năm 2005 có hiệu lực thì áp dụng BLDS năm 2005 để giải
quyết”.
- Ông Thới và bà Loan đã thanh toán đầy đủ số tiền 185 triệu đồng
cho ông Bảy nên hợp đồng đã thực hiện xong vào đợt giao tiền cuối cùng
là ngày 2/8/2016, lúc này BLDS năm 2015 chưa có hiệu lực.
- Đến ngày 10/2/2017, các bên phát sinh tranh chấp; lúc này BLDS
năm 2015 đã có hiệu lực.
- Đối chiếu với quy định tại Điều 688.1.c thì “giao dịch dân sự
được thực hiện xong trước ngày Bộ luật này có hiệu lực mà có tranh chấp
thì áp dụng quy định của Bộ Luật Dân sự năm 2005 để giải quyết”.
4/ Kết luận
BLDS năm 2005 được áp dụng để giải quyết tranh chấp nói trên.
13
Tình huống 23. Ông Ri và bà Bé kết hôn hợp pháp năm 1965, có 5
người con chung là Thủy, Khánh, Liên, Dung và Hùng. Năm 1969, ông
Ri được người bạn tên Đức cho căn nhà tại 652 xa lộ Hà Nội, khu phố 1,
Phước Long B, quận 9, thành phố Hồ Chí Minh. Năm 1972, ông Ri
chung sống như vợ chồng với bà Tính nhưng không đăng ký kết hôn,
sinh được 4 người con là Quỳnh, Quang, Quyên và Tuấn. Ông Ri và bà
Tính sống trong ngôi nhà tại số 652 xa lộ Hà Nội từ năm 1972 cho đến
khi ông Ri chết. Trong quá trình chung sống, ông bà đã sửa chữa, cải tạo
lại ngôi nhà nói trên. Năm 2006, ông Ri chết không để lại di chúc. Ngày
2/1/2017, bà Bé khởi kiện yêu cầu Tòa án xác định căn nhà 652 nói trên
là tài sản chung của bà Bé và ông Ri và yêu cầu chia di sản thừa kế của
ông Ri. Tuy nhiên, Bà Tính cho rằng thời hiệu khởi kiện về thừa kế đã
hết nên bà không đồng ý với yêu cầu chia di sản của bà Bé. Được biết, bà
Bé không sống cùng với ông Ri kể từ năm 1972.
Hãy lập luận cho yêu cầu chia di sản thừa kế của bà Bé trên cơ
sở quy định về thời hiệu trong BLDS năm 2015.
Hướng dẫn:
1/ Xác định vấn đề pháp lý liên quan
- Xác định thời điểm ông Ri chết;
- Xác định thời điểm bà Bé khởi kiện;
- Xác định nguyên nhân bà Tính không đồng ý với việc khởi kiện.
Từ đó, xác định vấn đề pháp lý liên quan cần giải quyết.
2/ Căn cứ pháp lý
- Xác định văn bản, điều luật cần tra cứu đối với trường hợp quan
hệ phát sinh trước khi BLDS năm 2015 có hiệu lực và đương sự khởi
kiện sau khi BLDS năm 2015 đã có hiệu lực.
- Tra cứu điều luật liên quan tới sự kiện nguyên nhân bà Tính
không đồng ý với yêu cầu khởi kiện (nhằm chứng minh hoặc bác bỏ ý
kiến của bà Tính).
3/ Lập luận
- Ông Ri chết vào thời điểm BLDS năm 2005 đang có hiệu lực
nhưng đương sự khởi kiện vào thời điểm BLDS năm 2015 đã có hiệu lực.
3
Bản án số 174/2006/DS-ST ngày 15/12/2006 của TAND quận 9, thành phố Hồ Chí
Minh.
14
- Bị đơn viện dẫn thời hiệu để từ chối yêu cầu của nguyên đơn.
- Thời hiệu thừa kế trong tình huống trên áp dụng theo BLDS năm 2015.
- Bà Bé khởi kiện ngày 02/01/2017 là vẫn còn thời hiệu.
4/ Kết luận
Yêu cầu chia di sản của bà Bé hoàn toàn phù hợp quy định của
BLDS năm 2015 về thời hiệu.
2.2.2. Áp dụng tập quán trong giải quyết tranh chấp dân sự
2.2.2.1. Lý thuyết
Bộ Luật Dân sự tại Điều 5 quy định: Tập quán là quy tắc xử sự có
nội dung rõ ràng để xác định quyền, nghĩa vụ của cá nhân, pháp nhân
trong quan hệ dân sự cụ thể, được hình thành và lặp đi lặp lại nhiều lần
trong một thời gian dài, được thừa nhận và áp dụng rộng rãi trong một
vùng, miền, dân tộc, cộng đồng dân cư hoặc trong một lĩnh vực dân sự.
Tập quán được áp dụng trong trường hợp các bên không có thỏa
thuận và pháp luật không quy định nhưng tập quán áp dụng không được
trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp Luật Dân sự quy định tại Điều 3
của BLDS.
Việc áp dụng tập quán được thừa nhận nhằm mục đích bổ sung
nguồn cho pháp Luật Dân sự bên cạnh các quy phạm được quy định
trong các văn bản quy phạm pháp Luật Dân sự. Tuy nhiên, không phải
tập quán nào cũng được áp dụng mà việc áp dụng tập quán trong quan hệ
dân sự cần phải đáp ứng các điều kiện luật định.
Thứ nhất, tập quán được áp dụng khi các bên không có thỏa thuận.
Vậy trong trường hợp các bên đã có thỏa thuận thì tập quán không được
áp dụng nữa, mặc dù có tồn tại tập quán trong thực tế. Chẳng hạn, trong
một bản án liên quan đến tranh chấp giữa Công ty Long An (bên A) và
Công ty Cỏ Tây (bên B), theo Tòa án nhân dân Tối cao thì “Đây là hợp
đồng hợp tác kinh doanh, bên A góp nguyên liệu bằng hạt điều thô nhập
khẩu, bên B tổ chức sản xuất chế biến thành hạt điều nhân xuất khẩu bảo
đảm được lợi nhuận tối thiểu là 11.924.749đ cho mỗi tấn nhân xuất khẩu,
lợi nhuận được chia theo tỷ lệ bên A 80% và bên B 20%, đây không phải
là hợp đồng gia công hay hợp đồng cho vay vốn. Do sản xuất kinh doanh
thua lỗ nặng, nằm trong tình trạng chung, hạt điều trong cả nước thời
15
gian này bị xuống giá quá thấp, các bên đều công nhận. Theo biên bản
kiểm tra quyết toán của Cục thuế thì bên B bị thua lỗ 3.777.556.830đ.
Theo thông lệ hợp đồng hợp tác kinh doanh thì lời ăn, lỗ chịu, cụ thể nếu
được lãi thì chia theo tỷ lệ 80/20 theo thỏa thuận, nhưng bị lỗ thì lẽ ra
mỗi bên cũng phải gánh chịu rủi ro theo tỷ lệ tương ứng, nhưng bên B đã
tự nguyện gánh chịu rủi ro về mình, và bảo toàn vốn gốc cho bên A là
thiện chí tốt”4. Như vậy, theo Tòa án thì đây là hợp đồng hợp tác kinh
doanh và theo thông lệ thì lời ăn lỗ chịu, cụ thể nếu có lãi thì lãi được
chia theo tỷ lệ thỏa thuận còn nếu bị lỗ thì mỗi bên cũng phải gánh chịu
rủi ro theo tỷ lệ tương ứng. Theo Tòa án, thông lệ này có thể áp dụng để
điều chỉnh hợp đồng nhưng do các bên đã có thỏa thuận khác nên tập
quán này cuối cùng không được áp dụng5.
Thứ hai, tập quán được áp dụng khi pháp luật không quy định.
Trong thực tế không thiếu những trường hợp đã tồn tại tập quán, nhưng
quan hệ pháp Luật Dân sự đó đã được pháp luật quy định rồi thì không
sử dụng tập quán để giải quyết tranh chấp nữa. Chẳng hạn, các huyện
miền núi tỉnh Nghệ An có tập quán “cướp vợ”, theo đó nếu trong hai
người, chỉ một người có tình cảm hoặc yêu mà gặp sự ngăn trở của bố,
mẹ thì tục “cướp vợ” sẽ xảy ra”. Cuộc “cướp vợ” diễn ra thường được sự
giúp đỡ của bạn bè trai gái hai bên, khi đến giờ lành, cô gái theo về nhà
chồng với sự phù dâu tự nguyện của bạn bè. Dù không được bố mẹ cô
gái đồng ý nhưng chàng trai cũng tìm cách đặt lễ vật lên bàn thờ để sáng
dậy, không thấy con gái đâu, bố mẹ nhìn lên thấy lễ vật thì sẽ hiểu. Dĩ
nhiên, cuộc “trộm vợ” đã thành công6. Tuy nhiên, dù “cướp vợ” theo tập
quán như vậy được cộng đồng bản, sóc thừa nhận nhưng về mặt pháp lý
họ không phải là vợ chồng nếu không đăng ký kết hôn theo quy định của
pháp luật Hôn nhân và gia đình. Luật Hôn nhân và gia đình đã quy định
điều kiện kết hôn của nam nữ, và muốn trở thành vợ chồng phải đáp ứng
đầy đủ các điều kiện đó và có đăng ký kết hôn theo luật định. Vì vậy, dù
4
Quyết định số 14/2003/HĐTP-KT ngày 16/12/2003 của Hội đồng thẩm phán Tòa án
nhân dân Tối Cao.
5
Đỗ Văn Đại, Luật Hợp đồng Việt Nam, bản án và bình luận bản án, tập 1, tr 55, Nxb
Hồng Đức, 2017.
6
1119330.tpo
16
tồn tại tập quán nhưng quan hệ pháp Luật Dân sự đã được pháp luật điều
chỉnh thì không dùng tập quán để thừa nhận quan hệ hôn nhân giữa
người “chồng” và người “vợ” bị “cướp” nếu họ không có đăng ký kết
hôn theo pháp luật Hôn nhân và gia đình.
Thứ ba, tập quán không được trái với các nguyên tắc cơ bản của
pháp Luật Dân sự. Nguyên tắc cơ bản được quy định tại Điều 3 của
BLDS năm 2015 bao gồm 5 nguyên tắc và tập quán được áp dụng trong
quan hệ pháp Luật Dân sự không được trí với các nguyên tắc đó. Chẳng
hạn, người dân tộc Ê Đê có tập quán con cái sinh ra theo họ người mẹ,
chủ nhà là phụ nữ, theo đó của cải và đất đai sẽ được truyền từ mẹ sang
con gái, theo chế độ mẫu hệ và khi người mẹ chết thì di sản thừa kế chỉ
được để lại cho các con gái của người chết, còn con trai không được
hưởng. Người con gái út được thừa kế nhà tự ông bà và phải nuôi dưỡng
cha mẹ già7. Như vậy, nếu phát sinh tranh chấp về di sản thừa kế mà
người con gái viện dẫn tập quán để yêu cầu không chia di sản thừa kế
cho người con trai thì tập quán đó không được áp dụng do trái với
nguyên tắc bình đẳng quy định tại Khoản 1 Điều 3 của BLDS năm 2015.
2.2.2.2. Tình huống và hướng dẫn giải quyết
Tình huống 18: Bà Loan là chủ hai ghe đánh bắt cá. Bà Loan thuê
ông Huệ làm tài công một ghe đánh bắt cá từ năm 2010. Ông Huệ thường
đánh bắt hải sản ở vị trí kinh độ 08 – 12 – 450, vĩ độ 107 – 16 – 631 tại
vùng biển tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, cách bờ biển Long Hải 19 tiếng đồng
hồ. Tại điểm này, ông Huệ làm “cây chà” bằng các vật liệu như lá dừa,
đá, sọt tre, dây nhựa,… nên gọi là “cây chà 19 tiếng”. Sau ông Huệ thì
ông Hùng tiếp tục làm tài công và tiếp tục khai thác “cây chà 19 tiếng”.
Năm 2017, bà Loan phát hiện ông Hùng cho ông Thanh “cây chà
19 tiếng”, do đó bà đã khởi kiện ông Thanh đòi trả lại cây chà đã làm và
đòi lại quyền khai thác địa điểm đã đặt chà. Tòa án đã sử dụng tập quán
để giải quyết, bác yêu cầu khởi kiện đòi lại quyền khai thác điểm đánh
bắt hải sản của bà Loan với nhận định: “Đây là vùng biển xa bờ, pháp
7https://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C6%B0%E1%BB%9Di_%C3%8A_%C4%90%C3%
AA#H.C3.B4n_nh.C3.A2n_gia_.C4.91.C3.ACnh
8
Nguồn: Quyết định số 93/GĐT-DS ngày 27/5/2002 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân
Tối cao.
17
luật chưa quy định về quyền ưu tiên khai thác nên quyền ưu tiên phải
được xác định theo tập quán. Theo xác minh ở chính quyền địa phương
và cơ quan chuyên môn (Ban Hải sản thị trấn Long Hải) thì tài công là
người có quyền chọn và cho người khác điểm đánh bắt; địa điểm đánh
bắt đã bỏ hơn ba tháng không khai thác thì có quyền khai thác. Như vậy,
việc ông Thanh sử dụng điểm đánh bắt hải sản hiện nay (địa điểm tranh
chấp) là phù hợp với tập quán, không trái pháp luật, không vi phạm
quyền lợi hợp pháp của bà Loan”.
Yêu cầu: Xác định vấn đề pháp lý liên quan để đánh giá việc áp
dụng tập quán của Tòa án trong tình huống trên.
Hướng dẫn:
Để xác định được vấn đề pháp lý liên quan, cần xác định những sự
kiện nào cần thiết cho việc giải quyết yêu cầu và sự kiện nào không cần
thiết. Muốn làm được điều đó, trước hết phải xác định yêu cầu của tình
huống là gì. Sau đó, bám sát yêu cầu để xác định vấn đề pháp lý liên
quan. Cụ thể:
- Tình huống yêu cầu đánh giá việc áp dụng tập quán của Tòa án.
Vậy sự kiện cần thiết là Tòa án đã nhận định để áp dụng tập quán như thế
nào.
- Từ nhận định của Tòa án truy ngược lên trả lời câu hỏi: Tại sao
Tòa án lại lập luận để áp dụng tập quán? Vậy các sự kiện tiếp theo là:
+ Bà Loan khởi kiện ông Thanh đòi lại quyền khai thác địa điểm
đánh bắt hải sản;
+ Nguyên nhân bà Loan khởi kiện là bà Loan thuê ông Hùng
đánh bắt tại địa điểm đặt “cây chà 19 tiếng” nhưng ông Hùng sau đó đã
cho lại ông Thanh “cây chà 19 tiếng” này.
Trên đây là quá trình phân tích tình huống để xác định sự kiện pháp
lý liên quan nhằm giải quyết yêu cầu của tình huống. Tóm lại, những sự
kiện pháp lý cần thiết để xác định vấn đề pháp lý liên quan bao gồm:
- Bà Loan thuê ông Hùng đánh bắt tại địa điểm đặt “cây chà 19 tiếng”
nhưng ông Hùng sau đó đã cho lại ông Thanh “cây chà 19 tiếng” này;
- Bà Loan khởi kiện ông Thanh đòi lại quyền khai thác địa điểm
đánh bắt hải sản;
18
- Tòa án đã nhận định: “…”
Vấn đề pháp lý: Lập luận của Tòa án phù hợp hay không phù hợp
với BLDS về áp dụng tập quán.
2.3. Thời hiệu
2.3.1. Lý thuyết
Bộ Luật Dân sự năm 2015 quy định về thời hiệu tại Điều 149, theo
đó: “Thời hiệu là thời hạn do luật quy định mà khi kết thúc thời hạn đó
thì phát sinh hậu quả pháp lý đối với chủ thể theo điều kiện do luật quy
định.
Thời hiệu được áp dụng theo quy định của Bộ Luật Dân sự, luật
khác có liên quan. Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu
áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này
phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải
quyết vụ việc.
Người được hưởng lợi từ việc áp dụng thời hiệu có quyền từ chối
áp dụng thời hiệu, trừ trường hợp việc từ chối đó nhằm mục đích trốn
tránh thực hiện nghĩa vụ”.
Theo quy định của pháp Luật Dân sự hiện hành thì Tòa án không
có quyền tự viện dẫn thời hiệu khi giải quyết các vụ việc dân sự. Việc
viện dẫn thời hiệu là quyền của đương sự, nhưng nó chỉ được chấp nhận
khi yêu cầu áp dụng thời hiệu của đương sự được đưa ra trước khi Tòa án
cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc dân sự. Điều này
cũng đồng nghĩa với việc, tại phiên tòa phúc thẩm thì đương sự không có
quyền yêu cầu áp dụng thời hiệu nữa.
Thời hiệu được phân thành 4 loại, bao gồm: Thời hiệu hưởng
quyền dân sự, thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự, thời hiệu yêu cầu giải
quyết việc dân sự và thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự. Các loại thời hiệu
được quy định tại Điều 150 BLDS năm 2015 như sau:
Thời hiệu hưởng quyền dân sự là thời hạn mà khi kết thúc thời hạn
đó thì chủ thể được hưởng quyền dân sự.
Thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự là thời hạn mà khi kết thúc thời
hạn đó thì người có nghĩa vụ dân sự được miễn việc thực hiện nghĩa vụ.
19
Thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự là thời hạn mà chủ thể
được quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự để bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích
công cộng; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền yêu cầu.
Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện
để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện.
Thời hiệu khởi kiện được quy định trong BLDS và Luật khác có
liên quan. Tùy thuộc vào từng quan hệ mà pháp luật quy định thời hiệu
khởi kiện khác nhau, không có quy định về thời hiệu khởi kiện chung cho
tất cả các quan hệ.
2.3.2. Tình huống điển hình và hướng dẫn giải quyết
Tình huống 29. Vợ chồng cụ Cước và cụ Tơ sinh được 5 người con
là bà Đàn, Tuyết, Suốt, Lan, Huệ. Các cụ cũng tạo lập được căn nhà trên
thửa đất thổ cư 279m2 tại đường P, tp. Đ và 2 thửa đất vườn được đền bù
vào năm 1980, một thửa có diện tích 89m2 và một thửa có diện tích
308m2 tại đường N, tp. Đ. Năm 1971, cụ Cước chết; năm 1995, cụ Tơ
chết. Cả hai cụ đều không để lại di chúc. Hiện nay bà Đàn đang quản lý,
sử dụng thửa đất thổ cư diện tích 279m2 và thửa đất vườn diện tích 89m2
còn bà Suốt quản lý, sử dụng thửa đất vườn diện tích 308m2. Ngày
2/10/2017, các đồng thừa kế phát sinh tranh chấp và khởi kiện yêu cầu
Tòa án chia di sản thừa kế của cha mẹ để lại. Quá trình giải quyết tranh
chấp đã xảy ra các trường hợp sau:
1/ Tại Tòa án cấp sơ thẩm, nguyên đơn yêu cầu áp dụng thời hiệu.
2/ Tại Tòa án cấp sơ thẩm, nguyên đơn không yêu cầu áp dụng thời
hiệu nhưng tại Tòa án cấp phúc thẩm, nguyên đơn yêu cầu áp dụng thời
hiệu.
Lập luận để giải quyết các trường hợp nêu trên.
Hướng dẫn:
1/
- Vấn đề pháp lý: Nguyên đơn yêu cầu áp dụng thời hiệu tại Tòa án
9 Nguồn: Quyết định số 162/2006/DS-GĐT ngày 21/7/2006 của Tòa dân sự TAND Tối
cao.
20
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tài liệu hướng dẫn các tình huống học phần Luật dân sự", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
tai_lieu_nghien_cuu_tinh_huong_luat_dan_su.pdf

