Nhập môn Lý luận nhà nước và pháp luật

PHẦN DẪN NHẬP MÔN HỌC  
CHƯƠNG 1  
KHOA HỌC LUẬN VỀ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
VÀ MÔN HỌC LUẬN VỀ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
I. LÝ LUẬN VỀ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT MỘT KHOA HỌC XÃ  
HỘI  
1. Lý luận về nhà nước và pháp luật một khoa học hội  
Khoa học hội nghiên cứu những mặt khác nhau, các hiện tượng hội của xã  
hội loài người mà trong đó con người là trung tâm. Khoa học pháp lý - khoa học về nhà  
nước và pháp luật - là một bộ phận của khoa học hội. Khoa học luận về nhà nước  
và pháp luật một ngành khoa học hội bởi nó nghiên cứu hai hiện tượng hội là nhà  
nước và pháp luật.  
Nhà nước và pháp luật những hiện tượng hội phức tạp đa dạng được  
nhiều ngành khoa học hội nói chung và khoa học pháp lý nói riêng nghiên cứu ở  
những khía cạnh khác nhau. Chẳng hạn, triết học Mác - Lênin nghiên cứu nhà nước và  
pháp luật cùng với việc nghiên cứu các hiện tượng hội khác để rút ra những quy luật  
vận động và phát triển chung của hội; lịch sử nhà nước và pháp luật lại nghiên cứu nhà  
nước và pháp luật trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể để tìm ra những đặc thù trong sự  
phát triển của nhà nước và pháp luật trong từng hoàn cảnh cụ thể...  
Các khoa học hội nghiên cứu những mặt khác nhau của hội loài người và  
toàn bộ hệ thống hội, đó điều kiện sống của con người, những quan hệ hội,  
những kiểu và hình thức nhà nước và pháp luật, những hiện tượng thuộc thượng tầng kiến  
trúc tư tưởng như triết học, tôn giáo, nghệ thuật, văn hoá...  
Khoa học pháp lý là một bộ phận của khoa học hội. Khoa học pháp lý nghiên  
cứu các phương diện hội, các quan hệ hội khi các phương diện hội và quan hệ đó  
được thể hiện dưới những hình thức pháp lý nhất định. Mục đích nghiên cứu của khoa  
học pháp lý không chỉ mang tính nhận thức đơn thuần về các hiện tượng, các quá trình về  
nhà nước về pháp luật mà còn nhằm giải quyết những vấn đề của thực tiễn, của quá  
trình tổ chức hoạt động của nhà nước, sử dụng công cụ pháp luật trong việc điều chỉnh  
các quan hệ hội, trong việc bảo vệ các quyền lợi ích của con người, củng cố và duy  
trì trật tự hội.  
Trong số các hướng nghiên cứu của khoa học pháp lý, có một hướng nghiên cứu  
mức khái quát chung nhất, cao nhất, có tác động đến việc triển khai nghiên cứu trên  
các hướng tương đối cụ thể khác, đó là lý luận chung về nhà nước và pháp luật.  
luận về nhà nước và pháp luật một ngành khoa học hội, cung cấp cho  
chúng ta những kiến thức chung về nhà nước và pháp luật, về vai trò xã hội số phận  
lịch sử của nó. Lý luận về nhà nước và pháp luật được hình thành trên cơ sở các học  
thuyết khoa học sự phát triển của hội. Các học thuyết khoa học tạo ra lập trường  
xuất phát và quan điểm tiếp cận cho lý luận về nhà nước và pháp luật. Trên cơ sở khoa  
học của các học thuyết về sự phát triển hội, luận về nhà nước và pháp luật làm sáng  
tỏ các vấn đề: nguyên nhân của sự xuất hiện, phát triển của nhà nước và pháp luật; vị trí,  
vai trò của nhà nước và pháp luật trong các hiện tượng hội; bản chất, hình thức, chức  
năng của nhà nước và pháp luật .  
luận về nhà nước và pháp luật với tư cách là một ngành khoa học độc lập trong  
hệ thống các ngành khoa học hội, thế nó có nhiệm vụ chính là tập trung nghiên cứu  
các hiện tượng nhà nước và pháp luật, bao gồm: những phạm trù, nguyên lý, kết luận  
chung về hiện tượng nhà nước và pháp luật nhằm nhận thức, giải thích nhà nước và pháp  
luật nói chung, tạo tiền đề cơ sở để giải quyết các vấn đề của khoa học pháp lý cụ thể  
hoạt động thực tiễn.  
Như vậy, luận về nhà nước và pháp luật một ngành khoa học hội bao gồm  
một hệ thống các kiến thức luận về nhà nước và pháp luật nói chung. Hệ thống các  
kiến thức đó bao gồm các học thuyết, phạm trù, nguyên tắc, khái niệm, quan điểm khoa  
học... được sắp xếp, phân bố theo một trình tự lô gích nhất định cấu thành khoa học lý  
luận chung về nhà nước và pháp luật.  
2.Vị trí của khoa học luận trong hệ thống các khoa học hội  
Với tư cách là một ngành khoa học hội, luận về nhà nước và pháp luật  
không tồn tại một cách biệt lập với các ngành khoa học hội khác mà nó có mối quan  
hệ mật thiết, qua lại, tác động chặt chẽ với các ngành khoa học hội khác. Bởi thế,  
trong nghiên cứu nhà nước và pháp luật, luận về nhà nước và pháp luật phải dựa và  
tổng thể những kiến thức khoa học, dựa vào phương pháp khoa học của nhiều khoa học  
hội khác, nhất mối liên hệ với triết học, kinh tế chính trị học và chính trị học.  
Triết học (chủ nghĩa duy vật biện chứng chủ nghĩa duy vật lịch sử) với tính  
cách là thế giới quan của khoa học hiện đại có vai trò đặc biệt to lớn đối với luận về  
nhà nước và pháp luật. Trong mối liên hệ với triết học duy vật biện chứng, triết học duy  
vật biện chứng đã trang bị cho lý luận về nhà nước và pháp luật phương pháp luận trong  
quá trình nghiên cứu. Đối với triết học duy vật lịch sử, luận về nhà nước và pháp luật  
sự tiếp tục trực tiếp các nguyên lý triết học chung của chủ nghĩa duy vật lịch sử về bản  
chất của nhà nước và pháp luật, sự tác động qua lại của nhà nước và pháp luật với cơ sở  
kinh tế sự biến đổi của chúng theo sự phát triển của đời sống hội. Tuy nhiên, chủ  
nghĩa duy vật lịch sử với tư cách là một bộ phận của triết học, là khoa học về các quy luật  
chung nhất của sự phát triển của tất cả các hiện tượng hội, còn đối tượng của luận  
về nhà nước và pháp luật chỉ những quy luật của một bộ phận các hiện tượng hội ấy,  
đó là nhà nước và pháp luật.  
Kinh tế học chính trị là khoa học về những quy luật quan hệ sản xuất - cơ sở kinh  
tế của hội. Những khái niệm của kinh tế chính trị học như: lực lượng sản xuất, quan hệ  
sản xuất, sở hữu... có ý nghĩa to lớn đối với luận về nhà nước và pháp luật. Bởi lẽ, lý  
luận về nhà nước và pháp luật nghiên cứu nhà nước và pháp luật những hiện tượng  
thuộc kiến trúc thượng tầng của hội, kinh tế chính trị học nghiên cứu những yếu tố  
thuộc cơ sở hạ tầng, thế luận chung về nhà nước và pháp luật sử dụng những kiến  
thức của khoa học kinh tế chính trị để làm rõ đối tượng nghiên cứu của mình.  
Chính trị học nghiên cứu các quy luật và tính quy luật trong sự hình thành, phát  
triển của chính trị, của quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước cùng những cơ chế,  
phương thức, cách thức sử dụng các quy luật đó trong xã hội được tổ chức thành nhà  
nước. Khách thể nghiên cứu của chính trị học tất cả những gì mà khi giải quyết chúng  
liên quan đến lợi ích giai cấp, lợi ích quốc gia. Có thể hiểu chính trị mối quan hệ giữa  
các giai cấp, các cộng đồng, các quốc gia, các dân tộc; sự tham gia của nhân dân vào  
giải quyết các công việc của nhà nước của hội, tổng hợp những phương hướng,  
những mục tiêu được quy định bởi lợi ích cơ bản của giai cấp, của đảng phái; là thực tiễn  
hoạt động chính trị của các giai cấp, các đảng phái, nhà nước để thực hiện đường lối đã  
được lựa chọn nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra. Khách thể nghiên cứu của luận về nhà  
nước và pháp luật chỉ là nhà nước và pháp luật với tính cách là một bộ phận của đời sống  
chính trị. Nghiên cứu nhà nước và pháp luật, luận về nhà nước và pháp luật cần sử  
dụng những khái niệm của chính trị học như: quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước,  
quyền lực nhân dân, quan hệ chính trị, quan hệ giai cấp, đảng phái.v.v...  
Không chỉ mối quan hệ chặt chẽ, mật thiết với các ngành khoa học hội nói  
trên, lý luận về nhà nước và pháp luật còn có mối quan hệ mật thiết với các ngành khoa  
học pháp lý khác thuộc hệ thống khoa học pháp lý.  
Hệ thống khoa học pháp lý là một chỉnh thể tạo nên một lĩnh vực chuyên biệt của  
nhận thức đó luật học. Hệ thống thể chia ra làm 3 nhóm theo những tính chất riêng:  
Thứ nhất, các khoa học luận - lịch sử pháp lý gồm: luận về nhà nước và pháp  
luật, lịch sử nhà nước và pháp luật, lịch sử các học thuyết chính trị - pháp lý.  
Thứ hai, các khoa học pháp lý chuyên ngành gồm: luật hiến pháp, luật hành  
chính, luật hình sự, luật dân sự, luật tố tụng hình sự, luật tố tụng dân sự, luật tài chính,  
luật kinh tế...  
Thứ ba, các khoa học pháp lý ứng dụng gồm: điều tra tội phạm, thống pháp,  
tâm lý pháp, tội phạm học v.v...  
Giữa luận về nhà nước và pháp luật và các ngành khoa học pháp lý khác có mối  
quan hệ biện chứng. Trong mối quan hệ này, lý luận về nhà nước và pháp luật đóng vai  
trò là khoa học pháp lý cơ sở. Những kết luận của của tạo nên cơ sở để các ngành  
khoa học pháp lý khác nghiên cứu đối tượng của mình, là phương pháp luận cho việc  
nghiên cứu của các ngành khoa học pháp lý. Những kết luận, nguyên lý của luận về  
nhà nước và pháp luật được ứng dụng trong việc nghiên cứu các vấn đề riêng của các  
ngành luật.  
Mặt khác, lý luận về nhà nước và pháp luật lại dựa trên những tư liệu cụ thể của  
các khoa học pháp lý chuyên ngành, ứng dụng để khái quát nâng lên thành những nguyên  
lý, những phạm trù lý luận về nhà nước và pháp luật.  
Như vậy, thể nói rằng, các khoa học pháp lý nghiên cứu những mặt, những  
thuộc tính, những bộ phận cụ thể hoặc lịch sử phát triển của nhà nước và pháp luật. Còn  
luận về nhà nước và pháp luật nghiên cứu những thuộc tính cơ bản, chung nhất của  
nhà nước và pháp luật, bản chất, vai trò xã hội, những quy luật đặc thù của sự xuất hiện,  
biến đổi, những hình thức tồn tại và phát triển cơ bản của chúng.  
luận về nhà nước và pháp luật vị trí đặc biệt trong khoa học pháp lý. Bởi vì  
nó xác định đặc tính của đối tượng nghiên cứu phương pháp nghiên cứu của các môn  
khoa học chính trị - pháp lý khác. Các nguyên tắc, phạm trù cơ bản của luận về nhà  
nước và pháp luật cơ sở để các ngành khoa học pháp lý khác xây dựng và làm phong  
phú thêm tri thức khoa học của ngành. Do vậy, luận về nhà nước và pháp luật là khoa  
học có vai trò là phương pháp luận đối với các ngành khoa học pháp lý khác.  
II. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VỀ NHÀ NƯỚC VÀ  
PHÁP LUẬT  
một ngành khoa học hội, luận về nhà nước và pháp luật đối tượng  
nghiên cứu riêng của mình. Việc nghiên cứu làm sáng rõ đối tượng nghiên cứu của khoa  
học luận về nhà nước và pháp luật có ý nghĩa quan trọng về nguyên tắc, bởi đối  
tượng nghiên cứu không chỉ nêu rõ những nội dung cơ bản của khoa học đó mà còn xác  
định cả khuynh hướng nghiên cứu nhiệm vụ của nó, đưa ra cơ sở cho sự phân định sự  
khác biệt giữa khoa học này với khoa học khác.  
Nhà nước và pháp luật những bộ phận thuộc kiến trúc thượng tầng, mối  
quan hệ mật thiết với những hiện tượng, bộ phận khác trong thượng tầng kiến trúc cũng  
như cơ sở hạ tầng, thế được nhiều ngành khoa học khác nhau nghiên cứu. luận  
về nhà nước và pháp luật với tư cách là một ngành khoa học pháp lý nhất nghiên cứu  
đồng thời cả hai hiện tượng nhà nước và pháp luật.  
Nhà nước và pháp luật là hai hiện tượng hội có quan hệ mật thiết, gắn lẫn  
nhau, tồn tại không thể thiếu nhau. Trong sự xuất hiện và phát triển, giữa nhà nước và  
pháp luật mối quan hệ hữu cơ, chúng tạo thành hạt nhân chính trị - pháp lý của thượng  
tầng kiến trúc của hội, nhà nước tồn tại không thể thiếu pháp luật, bởi vì theo nghĩa  
chung nhất, nhà nước một tổ chức hệ thống cơ cấu nhân sự trên một trật tự pháp lý  
được hình thành từ những quy định của pháp luật. ngược lại, pháp luật sản phẩm  
của quyền lực nhà nước, thể hiện ý chí hợp quy luật điều kiện khách quan mà nhà  
nước nhận thức được, nhưng chính nhà nước lại phụ thuộc vào pháp luật xuất phát từ  
nguyên tắc hội hợp pháp.  
luận về nhà nước và pháp luật nghiên cứu nhà nước và pháp luật một cách  
toàn diện. Đối tượng nghiên cứu của nó là những vấn đề chung, khái quát và cơ bản nhất,  
như:  
- Các khái niệm, phạm trù về nguồn gốc, bản chất, chức năng, hình thức, vai trò,  
giá trị hội của nhà nước và pháp luật.  
- Hệ thống các tri thức chung về nhà nước và pháp luật trong lịch sử: nhà nước và  
pháp luật chiếm hữu lệ, nhà nước và pháp luật phong kiến, nhà nước và pháp luật tư  
sản.  
- Hệ thống các tri thức chung của kiểu nhà nước và pháp luật hội chủ nghĩa. Từ  
thực tiễn nhà nước và pháp luật của các nhà nước hội chủ nghĩa, đặc biệt thực tiễn  
của nhà nước và pháp luật hội chủ nghĩa Việt Nam để hình thành những khái niệm,  
những phạm trù thể hiện các mặt khác nhau của nhà nước và pháp luật hội chủ nghĩa.  
Hệ thống các tri thức nói trên là các tri thức chung, giữ vai trò chủ đạo, làm nền  
tảng cho việc nghiên cứu các khoa học pháp lý chuyên ngành và khoa học pháp lý ứng  
dụng. cũng hệ thống tri thức luận cần thiết cho hoạt động quản lý nhà nước.  
Tóm lại, đối tượng nghiên cứu của khoa học luận về nhà nước và pháp luật là  
những quy luật đặc thù của sự ra đời, hình thành, phát triển, những đặc tính chung và  
những biểu hiện quan trọng nhất của nhà nước và pháp luật.  
III. PHƯƠNG PHÁP LUẬN PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA  
KHOA HỌC LUẬN VỀ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
Để có quan niệm đầy đủ về phương pháp luận của khoa học luận về nhà nước  
và pháp luật, trước hết cần làm rõ khái niệm phương pháp.Theo định nghĩa được đưa ra  
trong Từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học- Viện Khoa học hội Việt Nam thì  
:phương pháp là cách thức nhận thức, nghiên cứu hiện tượng của tự nhiên, đời sống xã  
hội”, qua đó, dưới dạng chung nhất phương pháp được hiểu phương thức giúp tìm hiểu  
sự vật, hiện tượng và quá trình.  
Phương pháp luận của luận về nhà nước và pháp luật phương thức (lập  
trường xuất phát và quan điểm tiếp cận) nghiên cứu các hiện tượng nhà nước và pháp luật  
.
Chủ nghĩa duy vật biện chứng chủ nghĩa duy vật lịch sử cung cấp cho lý luận  
về nhà nước và pháp luật phương pháp luận. Nói một cách chính xác, các quy luật,  
nguyên tắc, phạm trù, khái niệm của triết học duy vật biện chứng triết học duy vật lịch  
sử đã cung cấp khả năng nhận thức được một cách chung nhất, khái quát nhất đầy đủ  
nhất hiên tượng nhà nước và pháp luật, thế trở thành phương pháp luận của luận  
chung về nhà nước và pháp luật.  
Phương pháp luận Mác - Lênin đòi hỏi khi nghiên cứu nhà nước và pháp luật phải  
xuất phát từ hai quan điểm sau:  
- Quan điểm duy vật: nhà nước và pháp luật phải được nghiên cứu trong mối liên  
hệ với đời sống vật chất của hội, coi đó nguồn gốc sâu xa của sự xuất hiện, tồn tại  
và phát triển của nhà nước và pháp luật.  
- Quan điểm biện chứng: nghiên cứu nhà nước và pháp luật phải đặt trong sự vận  
động, phát triển, biến đổi, trong những mối liên hệ biện chứng những mâu thuẫn vốn  
của nó.  
Những yêu cầu cơ bản của phương pháp luận Mác - xít đòi hỏi:  
-Thứ nhất, nghiên cứu nhà nước và pháp luật phải ở trong sự phát triển lịch sử cụ  
thể. Nhà nước tổ chức quyền lực chính trị của một quốc gia trong một giai đoạn lịch sử  
cụ thể. Pháp luật hệ thống quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung do nhà nước ban hành  
hoặc thừa nhận trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể. thế, việc nghiên cứu chúng phải  
gắn với các điều kiện lịch sử cụ thể, tức phải cân nhắc tất cả những đặc điểm điều  
kiện đặc thù của sự tồn tại, phát triển của thực tiễn lịch sử cụ thể trong giai đoạn phát  
triển của nhà nước, của các quan hệ hội, chống giáo điều, rập khuôn, máy móc.  
-Thứ hai, nghiên cứu nhà nước và pháp luật phải trong mối liên hệ biện chứng với  
các yếu tố quy định chúng. Nhà nước và pháp luật những yếu tố thuộc kiến trúc thượng  
tầng của hội, bởi thế phải được xem xét trong mối quan hệ với cơ sở kinh tế - yếu  
tố quy định nó. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường như hiện nay, càng cần phải chú ý  
tới mối quan hệ không tách rời giữa nhà nước và pháp luật với các quan hệ kinh tế, quan  
hệ sở hữu. Mặt khác, vấn đề quan hệ giữa các giai cấp, các giai tầng và các nhóm xã hội  
cũng những nhân tố tác động mạnh mẽ tới nhà nước và pháp luật. Bên cạnh đó, các yếu  
tố truyền thống dân tộc, tình hình quốc tế, hoàn cảnh tự nhiên cũng những tác động  
nhất định tới sự tồn tại và phát triển của nhà nước và pháp luật. Do đó, khi nghiên cứu  
nhà nước và pháp luật chúng ta cần chú ý tới tất cả các yếu tố đó.  
Thứ ba, nghiên cứu nhà nước và pháp luật phải trong trạng thái “động”, tức là  
phải đặt nhà nước và pháp luật trong trạng thái vận động và phát triển của môi trường xã  
hội mà nó tồn tại. Thực tế đời sống hội thực tế đời sống pháp lý đóng vai trò quan  
trọng trong việc nghiên cứu nhà nước và pháp luật. Phải từ thực tiễn thực hiện quyền lực  
nhà nước, hoạt động sáng tạo pháp luật, bảo vệ và áp dụng pháp luật của cơ quan nhà  
nước để hình thành, bổ sung và phát triển hệ thống các khái niệm, phạm trù lý luận  
chung, chỉ đạo hoạt động thực tiễn. Tính đúng đắn của các lý thuyết khoa học về nhà  
nước và pháp luật phải được kiểm nghiệm trong đời sống thực tế.  
Trên cơ sở phương pháp luận đã nêu trên, khoa học luận chung về nhà nước  
và pháp luật sử dụng hệ thống các phương pháp nghiên cứu gồm: trừu tượng khoa học,  
phân tích và tổng hợp, quy nạp diễn dịch, hội học cụ thể, phân tích quy phạm, so  
sánh pháp luật .v.v...  
- Phương pháp trừu tượng khoa học có vai trò rất quan trọng trong nghiên cứu  
nhà nước và pháp luật. Trừu tượng khoa học phương pháp duy trên cơ sở tách cái  
chung khỏi các riêng, tạm thời gạt bỏ cái riêng, giữ lấy cái chung. Bằng cách trừu tượng  
hoá, gạt bỏ những cái ngẫu nhiên, thoáng qua, không ổn định để đi vào cái chung, cái tất  
yếu, ổn định, bản chất, tức là quy luật của khách thể. luận chung về nhà nước và pháp  
luật một khoa học luận, nên để tạo nên một hệ thống kiến thức có tính khái quát, tất  
yếu phải sử dụng phương pháp trừu tượng khoa học.  
- Phương pháp phân tích và tổng hợp được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu nhà  
nước và pháp luật. Phân tích là phương pháp phân chia cái toàn thể hay hiện tượng phức  
tạp ra thành những bộ phận hoặc những mặt, những yếu tố cấu thành đơn giản hơn. Nhờ  
phương pháp phân tích mà nhận thức một cách sâu sắc từng góc cạnh của hiện tượng nhà  
nước và pháp luật. Tổng hợp phương pháp liên kết, thống nhất lại các bộ phận, các yếu  
tố, các mặt đã được phân tích, vạch ra mối liên hệ của chúng nhằm nhận thức sự vật hiện  
tượng trong tính tổng thể.  
- Phương pháp quy nạp đi từ nhận thức những sự vật riêng lẻ, từ những kinh  
nghiệm đến những nguyên lý chung, tức phương pháp đi từ cái riêng đến cái chung;  
diễn dịch phương pháp đi từ những tri thức chung đến tri thức về cái riêng.  
- Phương pháp phân tích thuần tuý quy phạm: nghiên cứu các hiện tượng pháp lý,  
phân loại, xử lý làm sáng tỏ cấu trúc pháp lý của chúng, làm rõ mối quan hệ lô gích của  
các quy phạm pháp luật, qua đó khắc phục các mâu thuẫn.  
- Phương pháp so sánh pháp luật: trên cơ sở của phương pháp này, các hiện  
tượng pháp lý, sự kiện pháp lý được nghiên cứu trong mối quan hệ so sánh với nhau.  
Việc so sánh có thể được tiến hành các mức độ khác nhau, từ việc so sánh hệ thống  
pháp luật với hệ thống pháp luật, ngành luật với ngành luật... trên cơ sở đó rút ra những  
nét giống nhau, khác nhau, đặc thù của các hiện tượng được nghiên cứu.  
Tóm lại, khi nghiên cứu nhà nước và pháp luật, luận về nhà nước và pháp luật  
phải dựa trên cơ sở của phương pháp luận Mác - Lênin và cần sử dụng tổng thể các  
phương pháp nghiên cứu.  
IV. MÔN HỌC LUẬN VỀ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
Trước hết cần phân biệt luận về nhà nước và pháp luật với tư cách là một ngành  
khoa học và lý luận về nhà nước và pháp luật với tư cách là một môn học. Khái niệm  
“môn học” hẹp hơn khái niệm “khoa học”. Môn học luận về nhà nước và pháp luật  
không bao gồm tất cả kiến thức luận về nhà nước và pháp luật, chỉ bao gồm hệ  
thống kiến thức của luận về nhà nước và pháp luật này được sắp xếp theo một chương  
trình cụ thể phù hợp với một đối tượng học viên, cán bộ nghiên cứu thực tiễn nhất  
định.  
luận về nhà nước và pháp luật một môn học pháp lý cơ sở. Môn học này bao  
gồm hệ thống tri thức chung, sâu sắc và toàn diện về nhà nước và pháp luật, cơ sở lý  
luận để hình thành quan điểm hệ thống khi tiếp cận nghiên cứu các môn học pháp lý cụ  
thể khác. Do vậy, cần phải nắm chắc những kiến thức của luận trước khi nghiên cứu  
các vấn đề khác của khoa học pháp lý. Môn học luận về nhà nước và pháp luật đóng  
vai trò quan trọng là khâu khai thông, định hướng cho việc nhận thức các môn học pháp  
lý chuyên ngành.  
CÂU HỎI ÔN TẬP  
1. Tại sao Khoa học luận chung về nhà nước và pháp luật lại một ngành khoa  
học hội?  
2. Phân tích đối tượng nghiên cứu của khoa học luận chung về nhà nước và  
pháp luật?  
3. Phân tích phương pháp luận phương pháp so sánh của khoa học luận  
chung về nhà nước và pháp luật?  
4. Phân tích vị trí của khoa học luận chung về nhà nước và pháp luật trong hệ  
thống các khoa học pháp lý?  
5. Phân biệt khoa học luận chung về nhà nước và pháp luật và môn học luận  
chung về nhà nước và pháp luật.  
PHẦN 1  
LUẬN VỀ NHÀ NƯỚC  
CHƯƠNG II  
NGUỒN GỐC BẢN CHẤT CỦA NHÀ NƯỚC  
I. MỘT SỐ QUAN ĐIỂM PHI MÁC XÍT VỀ NGUỒN GỐC BẢN  
CHẤT NHÀ NƯỚC  
Nhà nước một hiện tượng hội phức tạp, liên quan chặt chẽ tới lợi ích của giai  
cấp, tầng lợp và dân tộc. Để nhận thức đúng đắn hiện tượng nhà nước cần phải làm sáng  
tỏ hàng loạt vấn đề liên quan như: nguồn gốc xuất hiện nhà nước, bản chất của nhà nước  
.v.v...  
Trong lịch sử chính trị - pháp lý, ngay từ thời kỳ cổ đại, trung đại cận đại đã có  
nhiều nhà tư tưởng đề cập tới vấn đề nguồn gốc của nhà nước. Xuất phát từ các góc độ  
khác nhau, các nhà tư tưởng trong lịch sử đã những giải khác nhau về vấn đề nguồn  
gốc của nhà nước.  
Những nhà tư tưởng theo thuyết thần học (đại diện thời trung cổ Ph. Ácvin, thời kỳ  
tư sản có: Masiten, Koct...) cho rằng: Thượng đế người sắp đặt mọi trật tự trong xã hội,  
nhà nước là do thượng đế sáng tạo ra để bảo vệ trật tự chung xã hội. Nhà nước là do đấng  
tối cao sinh ra, là sự thể hiện ý chí của chúa trời. Do vậy, quyền lực của nhà nước hiện  
thân quyền lực của chúa, vì thế vĩnh cửu.  
Những người theo thuyết gia trưởng (Arixtôt, philmer, Mikhailốp, Merđoóc.v.v...)  
cho rằng nhà nước ra đời kết quả của sự phát triển gia đình, là hình thức tổ chức tự  
nhiên của cuộc sống con người, vậy, cũng như gia đình, nhà nước tồn tại trong mọi xã  
hội, quyền lực nhà nước, về thực chất cũng giống như quyền lực của người đứng đầu  
trong gia đình, chỉ sự tiếp tục của quyền lực của người gia trưởng trong gia đình.  
Vào thế kỷ XVI, XVII, XVIII, cùng với trào lưu cách mạng tư sản, trong lịch sử tư  
tưởng chính trị -- pháp lý đã xuất hiện nhiều quan điểm mới về nhà nước nói chung và về  
nguồn gốc của nó. Thuyết khế ước hội được hình thành trong điều kiện như vậy.  
Thuyết khế ước hội (đại diện tiêu biểu có: Grooxi, Xpirôza, gốp, Lôre, Rút xô .v.v...)  
cho rằng nhà nước ra đời kết quả của một bản hợp đồng (khế ước) được kết giữa  
các thành viên sống trong trạng thái tự nhiên không có nhà nước. Về bản chất, nhà nước  
phản ánh lợi ích của các thành viên sống trong xã hội, lợi ích của mỗi thành viên đều  
được nhà nước ghi nhận bảo vệ.  
Với sự ra đời của thuyết khế ước hội đánh dấu một bước tiến trong nhận thức  
của con người về nguồn gốc nhà nước, đó một đánh mạnh vào thành trì xã hội  
phong kiến, chống lại sự chuyên quyền, độc đoán của chế độ phong kiến. Theo học  
thuyết, chủ quyền trong nhà nước thuộc về nhân dân, và trong trường hợp nhà nước  
không làm tròn vai trò của mình, các quyền tự nhiên bị vi phạm thì khế ước sẽ bị mất  
hiệu lực, nhân dân có quyền lật đổ nhà nước và ký kết khế ước mới. Về mặt lịch sử,  
thuyết khế ước hội về nguồn gốc nhà nước có tính cách mạng và giá trị lịch sử to lớn,  
chứa đựng những yếu tố tiến bộ hội, coi nhà nước quyền lực nhà nước sản  
phẩm của sự vận động hội loài người. Tuy nhiên, thuyết khế ước hội vẫn những  
hạn chế nhất định, về căn bản các nhà tư tưởng vẫn đứng trên lập trường quan điểm của  
chủ nghĩa duy tâm để giải thích sự xuất hiện của nhà nước, bản chất của nhà nước sự  
thay thế nhà nước. chưa giải được nguồn gốc vật chất bản chất giai cấp của nhà  
nước.  
Ngày nay, trước những căn cứ khoa học sự thật lịch sử, ngày càng có nhiều nhà  
tư tưởng tư sản thừa nhận nhà nước sản phẩm của đấu trang giai cấp, tổ chức quyền  
lực của hội có giai cấp, nhưng mặt khác họ vẫn không chịu thừa nhận bản chất giai  
cấp của nhà nước mà coi nhà nước vẫn là công cụ đứng ngoài bản chất giai cấp, không  
mang tính giai cấp, quan trọng tài để điều hoà mâu thuẫn giai cấp. thế, trong lịch  
sử tư tưởng chính trị - pháp lý hiện một số học thuyết khác của các nhà tư tưởng tư sản về  
nguồn gốc nhà nước như : thuyết bạo lực, thuyết tâm lý xã hội. Thuyết bạo lực cho rằng:  
nhà nước xuất hiện trực tiếp từ việc sử dụng bạo lực của thị tộ này với thị tộc khác, thị  
tộc chiến thắng đã lập ra bộ máy đặc biệt (nhà nước) để dịch thị tộc chiến bại (đại diện  
cho những nhà tư tưởng theo học thuyết này là Gumplôvích, E. Đuyrinh, Kauxky).  
Thuyết tâm lý lại cho rằng: nhà nước xuất hiện do nhu cầu về tâm lý của con người  
nguyên thuỷ luôn muốn phụ thuộc vào các thủ lĩnh, giáo sỹ... vậy, nhà nước tổ chức  
của những siêu nhân có sự mạng lãnh đạo hội (đại diện cho những nhà tư tưởng theo  
học thuyết này là L.Petơrazitki, Phơređơ...).  
Nhìn chung, tất cả các quan điểm trên hoặc do hạn chế về mặt lịch sử, hoặc do nhận  
thức còn thấp kém, hoặc do bị chi phối bởi lợi ích của giai cấp đã giải thích sai lệch  
nguyên nhân dẫn đến sự xuất hiện của nhà nước. Các học thuyết đều gặp nhau ở điểm  
chung là xem xét nhà nước trong sự lập với những điều kiện chi phối nó, đặc biệt là  
không gắn với điều kiện vật chất đã sản sinh ra nó. Chính vì vậy, họ đều cho rằng nhà  
nước vĩnh hằng, của tất cả mọi người, không mang bản chất giai cấp, là công cụ để  
duy trì trật tự hội trong tình trạng ổn định, pháp triển phồn vinh.  
II. NGUỒN GỐC NHÀ NƯỚC  
Các nhà kinh điển của Chủ nghĩa Mác - Lênin đã kế thừa chọn lọc những hạt  
nhân hợp của các nhà tư tưởng trước đó, lần đầu tiên đã giải thích đúng đắn nguồn gốc  
xuất hiện nhà nước. Dựa trên quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử đã chứng  
minh nhà nước không phải hiện tượng vĩnh cửu, bất biến. Nhà nước phạm trù lịch  
sử, có quá trình phát sinh, phát triển, tiêu vong. Nhà nước chỉ xuất hiện khi xã hội loài  
người phát triển đến một giai đoạn nhất định sẽ tiêu vong khi những điều kiện khách  
quan cho sự tồn tại của mất đi.  
1. Chế độ cộng sản nguyên thuỷ, tổ chức thị tộc - bộ lạc quyền lực hội  
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, chế độ cộng sản nguyên thuỷ là hình  
thái kinh tế - xã hội đầu tiên của hội loài người. Trong xã hội chưa phân chia giai cấp,  
chưa có nhà nước. Nhưng trong xã hội này lại chứa đựng những nguyên nhân làm xuất  
hiện nhà nước. Bởi vậy, việc nghiên cứu những đặc điểm của hội cộng sản nguyên  
thuỷ làm tiền đề cần thiết cho việc giải nguyên nhân xuất hiện của nhà nước hiểu rõ  
bản chất của nó là hết sức cần thiết.  
Nghiên cứu đặc điểm của hội cộng sản nguyên thuỷ phải xuất phát từ cơ sở kinh  
tế của nó. Xã hội cộng sản nguyên thuỷ được xây dựng trên nền tảng của phương thức  
sản xuất cộng sản nguyên thuỷ đặc trưng chế độ công hữu về tư liệu sản xuất và  
phân phối bình đẳng của cải. Trong chế độ cộng sản nguyên thuỷ, do trình độ phát triển  
của lực lượng sản xuất còn thấp kém, công cụ lao động còn thô sơ, sự hiểu biết về thế  
giới tự nhiên của người lao động còn lạc hậu, thế con người để kiếm sống bảo vệ  
mình phải dựa vào nhau cùng chung sống, cùng lao động, cùng hưởng thành quả của lao  
động chung. Trong điều kiện đó nên không ai có tài sản riêng, không có người giàu,  
người nghèo, xã hội chưa phân chia thành giai cấp và không có đấu tranh giai cấp.  
Từ chế độ kinh tế như vậy đã quyết định tổ chức hội của hội cộng sản nguyên  
thuỷ. Hình thức tổ chức hội và cách thức quản của hội cộng sản nguyên thuỷ rất  
đơn giản. Tế bào của hội cộng sản nguyên thuỷ thị tộc. Thị tộc kết quả của quá  
trình tiến hoá lâu dài của hội loài người, được xuất hiện khi xã hội đã phát triển tới  
một trình độ nhất định. Với tư cách là hình thức tổ chức quản lý xã hội, thị tộc một  
tổ chức lao động sản xuất, một bộ máy kinh tế hội. Thị tộc được tổ chức trên cơ sở  
huyết thống, ở giai đoạn đầu do những điều kiện về kinh tế, hôn nhân chi phối, thế thị  
tộc được tổ chức theo chế độ mẫu hệ. Dần dần cùng với sự phát triển của kinh tế, sự thay  
đổi của hội và hôn nhân, chế độ mẫu hệ được thay thế bởi chế độ phụ hệ.  
Trong thị tộc mọi thành viên đều tự do, bình đẳng, không một ai có đặc quyền, đặc  
lợi gì. Mặc dù trong xã hội cũng đã sự phân chia lao động nhưng đó sự phân chia  
trên cơ sở tự nhiên, theo giới tính hoặc lứa tuổi chứ chưa mang tính xã hội.  
Thị tộc là hình thức tự quản đầu tiên trong xã hội. Để tổ chức điều hành hoạt  
động chung của hội, thị tộc cũng đã quyền lực một hệ thống quản lý công việc  
của thị tộc. Quyền lực trong chế độ cộng sản nguyên thuỷ mới chỉ quyền lực hội do  
toà xã hội tổ chức ra và phục vụ cho lợi ích của cả cộng đồng.  
Hệ thống quản lý các công việc của thị tộc bao gồm:  
Hội đồng thị tộc tổ chức quyền lực tổ chức quyền lực cao nhất của thị tộc gồm  
những thành viên lớn tuổi của thị tộc. Hội đồng thị tộc quyết định tất cả các vấn đề quan  
trọng của thị tộc như tổ chức lao động sản xuất, giải quyết các tranh chấp nội bộ, tiến  
hành chiến tranh... Những quyết định của Hội đồng thị tộc bắt buộc đối với tất cả mọi  
người.  
Hội đồng thị tộc bầu ra người đứng đầu thị tộc như trưởng, thủ lĩnh quân sự để  
thực hiện quyền lực, quản lý các công việc chung. Những người đứng đầu thị tộc có  
quyền lực rất lớn, quyền lực này được tạo trên cơ sở uy tín cá nhân, họ thể bị bãi miễn  
bất kỳ lúc nào nếu không còn uy tín và không được tập thể cộng đồng ủng hộ nữa. Những  
trưởng thủ lĩnh quân sự không có bất kỳ một đặc quyền đặc lợi nào so với các  
thành viên khác trong thị tộc.  
Như vậy, trong xã hội cộng sản nguyên thuỷ đã tồn tại quyền lực, nhưng quyền lực  
này không phải quyền lực đặc biệt do một giai cấp hay một cá nhân tổ chức ra, mà đó  
quyền lực hội được tổ chức thực hiện trên cơ sở dân chủ thực sự, quyền lực này  
xuất phát từ hội phục vụ lợi ích của cả cộng đồng.  
Cùng với tiến trình phát triển của hội, do sự thay đổi của các hình thức hôn nhân  
với sự cấm đoán hôn nhân trong nội bộ thị tộc đã hình thành nên chế độ hôn nhân ngoại  
tộc. Các thị tộc giữa chúng có quan hệ hôn nhân với nhau đã hợp thành bào tộc. Cùng  
với hôn nhân, nhiều yếu tố khác tác động đã làm cho một số bào tộc liên kết với nhau  
thành bộ lạc đến giai đoạn cuối của chế độ cộng sản nguyên thuỷ thì các liên minh bộ  
lạc đã hình thành. Về cơ bản, tính chất của quyền lực, cách thức tổ chức quyền lực trong  
bào tộc, bộ lạc, liên minh bộ lạc vẫn dựa trên cơ sở những nguyên tắc tổ chức quyền lực  
trong xã hội thị tộc, tuy nhiên, đến thời điểm này, ở mức độ nhất định, sự tập trung quyền  
lực đã cao hơn.  
2. Sự tan rã của tổ chức thị tộc sự xuất hiện nhà nước  
hội cộng sản nguyên thuỷ chưa biết đến nhà nước, nhưng chính trong lòng xã  
hội đó đã nảy sinh những tiền đề vật chất cho sự ra đời của nhà nước. Những nguyên  
nhân làm chế độ hội cộng sản nguyên thuỷ tan rã đồng thời cũng những nguyên  
nhân xuất hiện nhà nước. Đóng vai trò quan trọng trong việc làm tan rã chế độ cộng sản  
nguyên thuỷ chuyển chế độ cộng sản nguyên thuỷ lên một hình thái kinh tế hội mới  
cao hơn đó sự phân công lao động hội. Lịch sử hội cổ đại đã trải qua ba lần phân  
công lao động hội, đó là: 1, chăn nuôi tách khỏi trồng trọt; 2, thủ công nghiệp tách  
khỏi nông nghiệp; 3, thương nghiệp xuất hiện.  
Việc con người thuần dưỡng được động vật đã làm hình thành một ngành nghề  
mới, ở những nơi điều kiện tốt cho chăn nuôi những đàn gia súc được phát triển đông  
đảo. Với sự phát triển mạnh nghề chăn nuôi đã tách khỏi trồng trọt.  
Sau lần phân công lao động đầu tiên, cả chăn nuôi và trồng trọt đều phát triển với  
sự ứng dụng của chăn nuôi vào trồng trọt. Sản xuất phát triển kéo theo nhu cầu về sức lao  
động, để đáp ứng nhu cầu này, thay vì việc giết tù binh trong chiến tranh như trước kia,  
bây giờ tù binh đã được giữ lại để biến thành nô lệ.  
Như vậy, sau lần phân công lao động đầu tiên, xã hội đã những xáo trộn đáng  
kể, xuất hiện chế độ tư hữu, hội phân chia thành giai cấp chủ nô và nô lệ. Sự xuất hiện  
chế độ tư hữu còn làm thay đổi đáng kể quan hệ hôn nhân: hôn nhân một vợ một chồng  
đã thay thế hôn nhân đối ngẫu. Chế độ phụ hệ thay cho chế độ mẫu hệ.  
Việc tìm ra kim loại chế tạo công cụ bằng kim loại tạo khả năng tăng năng suất  
lao động. Nghề chế tạo kim loại, nghề dệt, nghề làm đồ gốm, chế biến sản phẩm nông  
nghiệp.v.v... này càng phát triển. Điều này đã dẫn đến việc thủ công nghiệp tách khỏi  
trồng trọt thành một nghề độc lập. Hậu quả của lần phân công lao động thứ hai này đã  
làm xã hội hoá lực lượng lệ. Quá trình phân hoá xã hội đẩy nhanh, sự phân biệt giàu  
nghèo, mâu thuẫn giai cấp ngày càng trở nên sâu sắc.  
Với việc xuất hiện nhiều ngành nghề chuyên môn trong sản xuất đã làm phát sinh  
nhu cầu trao đổi hàng hoá trong xã hội. Sự phát triển nền sản xuất hàng hoá dẫn đến sự  
phát triển của thương nghiệp thương nghiệp đã tách ra thành một ngành hoạt động độc  
lập. Lần phân công lao động này đã làm thay đổi sâu sắc hội, với sự ra đời của tầng  
lớp thương nhân mặc họ những người không trực tiếp tiến hành lao động sản xuất  
nhưng lại chi phối toàn bộ đời sống sản xuất của hội, bắt những người lao động, sản  
xuất lệ thuộc vào mình.  
Qua ba lần phân công lao động hội đã làm cho nền kinh tế hội sự biến  
chuyển sâu sắc, sản phẩm làm ra ngày càng nhiều, xuất hiện sản phẩm dư thừa, thế kéo  
theo hiện tượng chiếm của cải dư thừa làm của riêng. Quá trình phân hoá tài sản làm xuất  
hiện chế độ tư hữu và kéo theo là sự phân chia giai cấp trong xã hội.  
Tất cả những yếu tố trên đã làm đảo lộn đời sống thị tộc, phá vỡ tính khép kín  
của thị tộc. Tổ chức thị tộc với hệ thống quản trước đây trở nên bất lực trước tình hình  
mới. Để điều hành xã hội mới cần phải một tổ chức mới khác về chất. Tổ chức đó phải  
do những điều kiện nội tại của nó quy định, phải là công cụ quyền lực của giai cấp  
nắm ưu thế về kinh tế nhằm thực hiện sự thống trị giai cấp, dập tắt các xung đột giai  
cấp, giữ cho các xung đột đó nằm trong vòng trật tự, đó chính là nhà nước.  
Như vậy, nhà nước xuất hiện trực tiếp từ sự tan rã của chế độ cộng sản nguyên  
thuỷ. Tiền đề kinh tế cho sự xuất hiện nhà nước sự xuất hiện chế độ tư hữu về tài sản  
trong xã hội. Tiền đề kinh tế cơ sở vật chất tạo ra tiền đề hội cho sự ra đời của nhà  
nước - đó sự phân chia xã hội thành các giai cấp lợi ích cơ bản giữa các giai cấp và  
các tầng lớp này là đối kháng với nhau đến mức không thể điều hoà được.  
Ngoài các yếu tố chung nói trên, sự xuất hiện nhà nước ở các vùng và của các dân  
tộc khác nhau cũng những đặc điểm khác nhau do có các điều kiện kinh tế, hội và  
ngoại cảnh khác nhau. Theo Ph. Ăngghen có ba hình thức xuất hiện nhà nước điển hình.  
1. Nhà nước Aten: Đây là hình thức nhà nước thuần tuý cổ điển nhất. Nguyên  
nhân dẫn đến sự ra đời của Nhà nước Aten chủ yếu trên cơ sở phân hoá nội bộ hội thị  
tộc do sự phát triển của kinh tế sự xuất hiện mâu thuẫn giai cấp đối kháng.  
2. Nhà nước La Mã: Nhà nước này ra đời trên cơ sở kết quả đấu tranh giữa giới  
bình dân chống lại giới quý tộc với chiến thắng của giới bình dân.  
3. Nhà nước Giéc Manh: Đây là hình thức nhà nước được thiết lập sau chiến  
thắng của người Giéc Manh đối với đế quốc La Mã cổ đại. Nó ra đời do nhu cầu phải  
thực hiện sự quản lý trên lãnh thổ La Mã mà người Giéc Manh đã xâm chiếm được chứ  
không phải do đòi hỏi bức thiết của cuộc đấu tranh giai cấp trong nội bộ hội của người  
Giéc Manh.  
Ơ các nước phương Đông, nhà nước xuất hiện khá sớm, khi chế độ tư hữu sự  
phân chia giai cấp trong xã hội chưa ở mức cao. Nguyên nhân thúc đẩy sự ra đời của các  
nhà nước phương Đông là do nhu cầu trị thuỷ chống giặc ngoại xâm.  
Ở Việt Nam, nhà nước xuất hiện khoảng thiên niên kỷ 2 trước công nguyên.  
Cũng như các nhà nước phương Đông khác, sự phân chia giai cấp trong xã hội cổ Việt  
Nam chưa đến mức gay gắt. Trong bối cảnh hội lúc bấy giờ, nhu cầu xây dựng, quản  
những công trình trị thuỷ đảm bảo nền sản xuất nông nghiệp tổ chức lực lượng  
chống giặc ngoại xâm đã thúc đẩy quá trình liên kết các tộc người và hoàn thiện bộ máy  
quản lý. Kết quả này đã cho ra đời nhà nước Việt Nam đầu tiên - Nhà nước Văn lang của  
các Vua Hùng.  
III. BẢN CHẤT CỦA NHÀ NƯỚC  
Nhà nước sản phẩm của hội có giai cấp và là sự biểu hiện của sự không thể  
điều hoà được của các mâu thuẫn giai cấp đối kháng. Nhà nước tổ chức quyền lực  
chính trị đặc biệt.  
Để làm rõ bản chất của nhà nước cần phải xác định nhà nước đó của ai? Do giai  
cấp nào tổ chức nên và lãnh đạo? Phục vụ trước tiên cho lợi ích của giai cấp nào?  
Trong xã hội đối kháng giai cấp, sự thống trị của giai cấp này đối với giai cấp  
khác được thể hiện dưới ba hình thức: kinh tế, chính trị tư tưởng. Trong ba quyền lực,  
quyền lực kinh tế đóng vai trò chủ đạo, cơ sở để đảm bảo cho sự thống trị giai cấp.  
Quyền lực kinh tế tạo ra cho chủ sở hữu khả năng bắt những người khác phụ thuộc vào  
mình về mặt kinh tế. Tuy nhiên, bản thân quyền lực kinh tế lại không có khả năng duy trì  
quan hệ bóc lột, thế để bảo đảm cho quan hệ bóc lột, giai cấp nắm quyền lực kinh tế  
phải thông qua quyền lực chính trị.  
Quyền lực chính trị xét về mặt bản chất bạo lực tổ chức của một giai cấp  
nhằm trấn áp các giai cấp khác trong xã hội. Thông qua nhà nước, giai cấp thống trị về  
kinh tế đã trở thành chủ thể của quyền lực chính trị. Nhờ nắm trong tay nhà nước, giai  
cấp thống trị đã tổ chức thực hiện quyền lực chính trị của mình, hợp pháp hoá ý chí  
của giai cấp mình thành ý chí nhà nước như vậy buộc các giai cấp khác phải tuân theo  
trật tự phù hợp với lợi ích của giai cấp thống trị. Bằng cách đó giai cấp thống trị đã thực  
hiện sự chuyên chính của giai cấp mình đối với các giai cấp khác.  
Để thực hiện sự chuyên chính giai cấp, giai cấp thống trị không đơn thuần chỉ sử  
dụng bạo lực cưỡng chế mà còn thông qua sự tác động về tư tưởng. Chính vì vậy, khi  
nắm trong tay quyền lực kinh tế quyền lực chính trị, giai cấp thống trị còn thông qua  
nhà nước xây dựng hệ tư tưởng của giai cấp mình thành hệ tư tưởng thống trị trong xã  
hội, buộc các giai cấp khác phải lệ thuộc vào mình về mặt tư tưởng.  
Như vậy, nhà nước là công cụ sắc bén thể hiện thực hiện ý chí của giai cấp  
cầm quyền, bảo vệ trước tiên lợi ích của giai cấp thống trị trong xã hội.  
Các nhà nước tuy khác nhau về bản chất giai cấp, điều này đã được các nhà kinh  
điển của Chủ nghĩa Mác - Lênin đã chỉ ra rằng: nhà nước một hiện tượng thuộc kiến  
trúc thượng tầng trên một cơ sở kinh tế nhất định, đó là công cụ để duy trì sự thống trị  
của giai cấp này đối với giai cấp khác. Về bản chất giai cấp của nhà nước, V.I Lênin đã  
nhận định: ”nhà nước bộ máy để giai cấp này áp bức giai cấp khác, một bộ máy để duy  
trì dưới sự thống trị của một giai cấp tất cả các giai cấp bị lệ thuộc khác”.(1)  
Khi xem xét bản chất của nhà nước, nếu chỉ đề cập đến bản chất giai cấp của nhà  
nước phiến diện, bởi nhà nước còn mang trong mình một vai trò xã hội to lớn. Thực  
tiễn lịch sử đã chỉ ra rằng, một nhà nước không thể tồn tại nếu chỉ phục vụ lợi ích của  
giai cấp thống trị mà không tính đến lợi ích các giai cấp, tầng lớp khác trong xã hội. Vì  
vậy, ngoài cách là công cụ bảo vệ, duy trì sự thống trị giai cấp, nhà nước còn là tổ  
chức chính trị - xã hội rộng lớn, bảo đảm lợi ích chung của hội. Trên thực tế, nhà nước  
nào cũng đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết những vấn đề nảy sinh trong xã  
hội, bảo đảm cho xã hội được trật tự ổn định và phát triển, thực hiện một số chức năng  
phù hợp với yêu cầu chung của toàn xã hội bảo đảm những lợi ích nhất định của các  
giai cấp và giai tầng khác trong chừng mực những lợi ích đó không mâu thuẫn gay gắt  
với lợi ích của giai cấp thống trị.  
Qua những điều đã phân tích trên cho thấy rằng khi xác định bản chất của nhà  
nước phải dựa trên cơ sở đánh giá cơ cấu của hội, quan hệ giữa các giai cấp trong từng  
giai đoạn lịch sử cụ thể. Trong mỗi hình thái kinh tế - xã hội khác nhau, nhà nước bản  
chất khác nhau.  
Mặc dù có sự khác nhau về bản chất nhưng tất cả các nhà nước đều có chung các  
dấu hiệu. Những dấu hiệu đó là:  
Thứ nhất, nhà nước phân chia dân theo các đơn vị hành chính lãnh thổ.  
Nếu trong xã hội cộng sản nguyên thuỷ, tổ chức thị tộc tập hợp các thành viên của  
mình theo dấu hiệu huyết thống thì nhà nước lại phân chia dân theo các đơn vị hành  
chính lãnh thổ không phụ thuộc vào huyết thống, nghề nghiệp hoặc giới tính. Việc phân  
chia này dẫn đến việc hình thành các quan quản lý trên từng đơn vị hành chính lãnh  
thổ. Lãnh thổ dấu hiệu đặc trưng riêng có của nhà nước, nhà nước thực thi quyền lực  
thống trị trên phạm vi toàn bộ lãnh thổ. Nhà nước nào cũng có lãnh thổ riêng, trên lãnh  
thổ đó được phân thành các đơn vị hành chính như tỉnh, huyện, xã... Do có dấu hiệu lãnh  
thổ xuất hiện chế độ quốc tịch- chế định quy định mối quan hệ giữa nhà nước với  
công dân.  
Thứ hai, nhà nước thiết lập quyền lực công.  
Nhà nước tổ chức công quyền thiết lập một quyền lực đặc biệt không còn hoà  
nhập với dân cư như trong xã hội thị tộc “dường như” tách rời đứng lên trên xã  
hội. Quyền lực này mang tính chính trị, giai cấp, được thực hiện bởi bộ máy cai trị, quân  
đội, toà án, cảnh sát... Như vậy, để thực hiện quyền lực, để quản lý xã hội, nhà nước có  
một tầng lớp người đặc biệt chuyên làm nhiệm vụ quản lý. Lớp người này được tổ chức  
thành các quan nhà nước và hình thành một bộ máy thống trị sức mạnh cưỡng chế  
để duy trì địa vị của giai cấp thống trị, bắt các giai cấp, tầng lớp khác phải phục tùng theo  
ý chí của mình.  
Thứ ba, nhà nước chủ quyền quốc gia.  
(1) V.I Lênin: Toàn tập, NXB. Tiến bộ , M.1977(bản tiếng Việt). Tập 33, tr 87  
Nhà nước một tổ chức quyền lực chủ quyền. Chủ quyền quốc gia mang nội  
dung chính trị - pháp lý, thể hiện quyền tự quyết của nhà nước về mọi chính sách đối nội  
đối ngoại, không phụ thuộc vào bất kỳ một yếu tố bên ngoài nào. Chủ quyền quốc gia  
thuộc tính gắn liền với nhà nước. Chủ quyền quốc gia có tính tối cao. Tính tối cao của  
chủ quyền nhà nước thể hiện ở chỗ quyền lực của nhà nước phổ biến trên toàn bộ đất  
nước đối với tất cả dân và các tổ chức hội. Dấu hiệu chủ quyền nhà nước thể hiện  
sự độc lập, bình đẳng giữa các quốc gia với nhau không phân biệt quốc gia lớn hay nhỏ.  
Thứ tư, nhà nước ban hành pháp luật buộc mọi thành viên xã hội phải thực  
hiện.  
Nhà nước người đại diện chính thống cho mọi thành viên trong xã hội, để thực  
hiện được sự quản đối với các thành viên, nhà nước ban hành pháp luật bảo đảm  
thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế. Tất cả các quy định của nhà nước đối với mọi công  
dân được thể hiện trong pháp luật do nhà nước ban hành. Nhà nước và pháp luật mối  
liên hệ chặt chẽ, tác động qua lại phụ thuộc lẫn nhau; nhà nước không thể thực hiện  
được vai trò là người quản lý xã hội nếu không có pháp luật, ngược lại pháp luật phải  
thông qua nhà nước để ra đời. Trong xã hội có nhà nước chỉ có nhà nước mới quyền  
ban hành pháp luật.  
Thứ năm, nhà nước quy định tiến hành thu các loại thuế.  
Để nuôi dưỡng bộ máy nhà nước tiến hành các hoạt động quản đất nước,  
mọi nhà nước đều quy định tiến hành thu các loại thuế bắt buộc đối với các dân cư của  
mình.  
Trong xã hội có nhà nước không một thiết chế chính trị nào ngoài nhà nước có  
quyền quy định về thuế và thu các loại thuế.  
Từ những phân tích trên về nguồn gốc, bản chất những dấu hiệu của nhà  
nước, thể đi đến một định nghĩa chung về nhà nước như sau: nhà nước một tổ chức  
đặc biệt của quyền lực chính trị, bộ máy chuyên làm nhiệm vụ cưỡng chế thực hiện  
chức năng quản lý xã hội nhằm thể hiện bảo vệ trước hết lợi ích của giai cấp thống trị  
trong xã hội có giai cấp đối kháng (của giai cấp công nhân và nhân dân lao động dưới  
sự lãnh đạo của Đảng cộng sản trong xã hội hội chủ nghĩa).  
IV. VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG XÃ HỘI CÓ GIAI CẤP  
Nhà nước và xã hội có giai cấp là hai hiện tượng có quan hệ biện chứng với nhau,  
giữa chúng vừa sự thống nhất lại vừa sự khác biệt với nhau. Tính thống nhất của nó  
được thể hiện ở chỗ trong xã hội có giai cấp thì không thể thiếu nhà nước, đồng thời nhà  
nước chỉ xuất hiện, tồn tại và phát triển trong xã hội có giai cấp. Tuy nhiên, mặc dù có sự  
đồng nhất như đã nêu trên thì nhà nước và xã hội vẫn là hai hiện tượng khác biệt. Về mặt  
cơ cấu hội được hình thành từ những giai cấp đẳng cấp khác nhau, còn nhà nước lại  
được cấu thành từ những thể chế pháp lý. Trong mối quan hệ qua lại giữa chúng, xã hội  
giữ vai trò quyết định, hội cơ sở cho sự tồn tại và phát triển của nhà nước . Mọi sự  
biến đổi của hội sớm hay muộn cũng sẽ dẫn tới sự thay đổi tương ứng của nhà nước.  
Ngược lại, nhà nước cũng sự tác động to lớn dến sự phát triển mọi mặt của hội.  
Nhà nước một bộ phận thuộc kiến trúc thượng tầng của hội nó có mối quan  
hệ mật thiết với các yếu tố khác thuộc kiến trúc thượng tầng ở đây đóng vai trò  
trung tâm. Với tư cách là một bộ phận trong kiến trúc thượng tầng của hội nhà nước có  
quan hệ với cơ sở kinh tế - cơ sở hạ tầng của hội.  
Trong mối quan hệ với cơ sở kinh tế, một yếu tố thuộc kiến túc thượng tầng  
nên nhà nước được quy định bởi cơ sở kinh tế. Kinh tế quyết định từ sự xuất hiện của nhà  
nước, bản chất, chức năng, kiểu, hình thức bộ máy nhà nước. Tuy vậy, nhà nước  
không phải bao giờ cũng phụ thuộc vào cơ sở kinh tế một cách tuyệt đối, mà nó có tính  
độc lập tương đối trong quan hệ với cơ sở kinh tế. Điều này được thể hiện: Hoặc nhà  
nước có tác động tích cực đến sự phát triển của cơ sở kinh tế, hoặc nhà nước thể đóng  
vai trò tiêu cực, cản trở sự phát triển kinh tế.  
Trong xã hội có giai cấp, ngoài nhà nước trong xã hội còn có nhiều thiết chế  
chính trị khác như: các đảng phái chính trị, các tổ chức hội, các thiết chế này hợp lại  
cùng với nhà nước tạo nên hệ thống chính trị. Trong hệ thống này nhà nước đóng vai trò  
trung tâm, vì rằng:  
- Nhà nước người đại diện chính thức cho tất cả các giai cấp tầng lớp trong  
hội, thế nhà nước cơ sở hội rộng nhất, tạo sự dễ dàng trong việc triển khai các  
quyết định tới từng công dân trong xã hội.  
- Nhà nước tổ chức quyền lực chính trị công cộng đặc biệt, tổ chức quyền  
lực của nó có tính bắt buộc đối với mọi người thông qua công cụ pháp luật.  
- Nhà nước là công cụ sắc bén nhất của quyền lực chính trị, tổ chức sức  
mạnh cưỡng chế thực hiện những nhiệm vụ mà không có một tổ chức chính trị nào khác  
ngoài nhà nước thể thực hiện được, vì nhà nước bộ máy cưỡng chế như: quân đội,  
cảnh sát, nhà tù, nắm trong tay các phương tiện vật chất cần thiết.  
- Nhà nước một tổ chức chính trị độc lập chủ quyền, biểu hiện cao nhất ở  
quyền tự quyết. Chỉ có nhà nước mới quyền quyết định các công việc đối nội đối  
ngoại một cách độc lập không phụ thuộc vào bất kỳ quyền lực nào khác.  
một bộ phận của kiến trúc thượng tầng, nhà nước mối quan hệ qua lại chặt  
chẽ với các bộ phận khác của kiến trúc thượng tầng như chính trị, pháp luật , khoa học,  
nghệ thuật, đạo đức, tôn giáo...  
Câu hỏi ôn tập  
1. Phân tích nội dung cac học thuyết phi Mác xít bàn về nguồn gốc bản chất  
nhà nước.  
2. Trình bày nguồn gốc ra đời của nhà nước.  
3. Phân tích bản chất của nhà nước.  
4. Phân tích vị trí, vai trò của nhà nước trong xã hội có giai cấp.  
CHƯƠNG III  
CÁC KIỂU, HÌNH THỨC, CHỨC NĂNG BỘ MÁY NHÀ NƯỚC  
I. CÁC KIỂU NHÀ NƯỚC TRONG LỊCH SỬ  
1. Khái niệm kiểu nhà nước  
Kiểu nhà nước một trong những khái niệm cơ bản của khoa học luận chung  
về nhà nước và pháp luật. Thông qua khái niệm kiểu nhà nước chúng ta có thể nhận thức  
sâu sắc và lô gích về bản chất và ý nghĩa hội của các nhà nước được xếp vào cùng một  
kiểu.  
Nói tới kiểu nhà nước nghĩa đề cập tới nhà nước bộ máy thống trị của giai  
cấp nào, tồn tại trên cơ sở nền tảng kinh tế nào, tương ứng với hình thái kinh tế hội  
nào.  
Học thuyết Mác - Lênin về hình thái kinh tế - xã hội cơ sở khoa học để phân  
chia các nhà nước trong lịch sử thành các kiểu. Các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin  
đã coi sự thay thế một hình thái kinh tế - xã hội này bằng một hình thái kinh tế - xã hội  
khác là quá trình lịch sử tự nhiên. Trong lịch sử nhân loại từ khi xuất hiện hội có giai  
cấp đã tồn tại bốn hình thái kinh tế - xã hội: Chiếm hữu lệ, Phong kiến, Tư sản và xã  
hội chủ nghĩa. Tương ứng với bốn hình thái kinh tế hội đó, bốn kiểu nhà nước, đó  
là:  
-
-
-
-
Kiểu nhà nước chủ nô  
Kiểu nhà nước phong kiến  
Kiểu nhà nước tư sản  
Kiểu nhà nước hội chủ nghĩa  
Các kiểu nhà nước: chủ nô, phong kiến tư sản tuy có những đặc điểm riêng về  
bản chất, chức năng, vai trò xã hội nhưng đều là nhà nước bóc lột được xây dựng trên nền  
tảng của chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, là công cụ để duy trì và bảo vệ sự thống trị của  
giai cấp bóc lột đối với đông đảo nhân dân lao động trong xã hội, là nhà nước của thiểu  
số giai cấp bóc lột. Nhà nước hội chủ nghĩa kiểu nhà nước mới và là kiểu nhà nước  
cuối cùng trong lịch sử hội loài người, sứ mệnh lịch sử hạn chế dần đi đến xoá  
bỏ chế độ bóc lột giữa người với người, là nhà nước của đông đảo nhân dân lao động  
trong xã hội, tiến tới xây dựng một hội công bằng, bình đẳng không có áp bức, bóc lột.  
Như vậy, các khái niệm chung về nhà nước được cụ thể hoá qua khái niệm kiểu  
nhà nước, được áp dụng đối với nhà nước của một hình thái kinh tế - xã hội nhất định.  
Khái niệm kiểu nhà nước thể hiện sự thống nhất các đặc trưng cơ bản của các nhà nước  
có cùng chung bản chất giai cấp và vai trò xã hội cũng như điều kiện tồn tại tương tự của  
chúng.  
Tóm lại: kiểu nhà nước tổng thể các đặc trưng (dấu hiệu) cơ bản của nhà  
nước, thể hiện bản chất giai cấp, vai trò xã hội những điều kiện phát triển của nhà  
nước trong một hình thái kinh tế - xã hội nhất định.  
Phạm trù kiểu nhà nước một phạm trù tổng hợp, cho phép chúng ta nhận thức  
bản chất, vai trò xã hội, chức năng của nhà nước trong các hình thái kinh tế - xã hội khác  
nhau, thấy được điều kiện tồn tại và xu hướng phát triển của nhà nước trong lịch sử.  
2. Sự thay thế các kiểu nhà nước  
Tính tất yếu khách quan của sự thay thế kiểu nhà nước bằng kiểu nhà nước khác  
trong kiến trúc thượng tầng chính trị - pháp lý là một biểu hiện quan trọng của quy luật  
phát triển và thay thế các hình thái kinh tế - xã hội do C.Mác và Ph.Ăngghen phát hiện.  
Quy luật này gắn liền với quy luật phát triển và thay thế của kiểu nhà nước bằng kiểu nhà  
nước khác: “tới một giai đoạn phát triển nào đó của chúng, các lực lượng sản xuất vật  
chất của hội sẽ mâu thuẫn với những quan hệ sản xuất đó, - mâu thuẫn với những  
quan hệ sở hữu, trong đó từ trước đến nay các lực lượng sản xuất vẫn phát triển. Từ chỗ  
những hình thức phát triển của các lực lượng sản xuất, những quan hệ ấy trở thành  
những xiềng xích của lực lượng sản xuất. Khi đó bắt đầu một thời đại của một cuộc cách  
mạng hội. Cơ sở kinh tế thay đổi thì tất cả các kiến trúc thượng tầng đồ sộ cũng bị đảo  
lộn ít nhiều nhanh chóng”1.  
Kiểu nhà nước cũ bị thay thế bằng một kiểu nhà nước mới thông qua một cuộc  
cách mạng hội, bởi lẽ giai cấp thống trị cũ đại diện cho quan hệ sản xuất cũ không bao  
giờ tự nguyện rời bỏ những đặc quyền, đặc lợi mà mình đang có, vì thế giai cấp đại diện  
cho phương thức sản xuất mới tiến bộ phải tập trung lực lượng tiến hành cách mạng xã  
hội đấu tranh với các giai cấp thống trị trước đó. Kiểu nhà nước mới ra đời nghĩa là  
quyền lực nhà nước đã chuyển giao từ giai tay giai cấp này qua tay giai cấp khác, và do  
vậy bản chất, vai trò xã hội của nhà nước mới cũng thay đổi so với nhà nước cũ trước đó.  
Kiểu nhà nước mới theo quy luật bao giờ cũng tiến bộ hơn so với kiểu nhà nước  
cũ bởi được xây dựng trên một phương thức mới tiến bộ hơn.  
Sự thay thế kiểu nhà nước cũ bằng một kiểu nhà nước mới không phải đều diễn ra  
giống nhau ở mọi nơi, không diễn ra tuần tự, hết kiểu nhà nước này rồi đến kiểu nhà nước  
khác, mà có thể bỏ qua những kiểu nhà nước nhất định. Điều này do nhiều yếu tố như:  
hoàn cảnh lịch sử cụ thể của mỗi quốc gia, bối cảnh quốc tế ... chẳng hạn như nước ta đi  
lên chủ nghĩa hội bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, thế kiểu nhà nước tư  
sản không tồn tại ở Việt Nam.  
II. CHỨC NĂNG CỦA NHÀ NƯỚC  
Bản chất, vai trò của nhà nước được thể hiện trực tiếp trong nhiệm vụ chức  
năng của nhà nước, thế khi tìm hiểu bản chất của nhà nước, vai trò xã hội của nhà nước  
phải thông qua việc xem xét các nhiệm vụ chức năng của nhà nước.  
Nhiệm vụ của nhà nước mục tiêu mà nhà nước hướng tới, những vấn đề đặt  
ra mà nhà nước cần giải quyết. Nhiệm vụ của nhà nước tuỳ thuộc vào bản chất và vai trò  
hội của nhà nước, vào điều kiện lịch sử của mỗi quốc gia qua từng giai đoạn cụ thể.  
Nhiệm vụ của nhà nước tuỳ thuộc vào nội dung tính chất được chia thành: nhiệm  
vụ chiến lược lâu dài, nhiệm vụ này hướng tới các mục đích chung, cơ bản: nhiệm vụ xây  
dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Để thực hiện nhiệm vụ chiến  
lược, lâu dài cần phải những nhiệm vụ cụ thể trong những khoảng thời gian nhất định,  
chẳng hạn nhiệm vụ công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước phục vụ cho công cuộc xây  
dựng nhà nước pháp quyền hội chủ nghĩa.  
Chức năng của nhà nước những phương diện, loại hoạt động cơ bản của nhà  
nước nhằm thực hiện những nhiệm vụ đặt ra trước nhà nước.  
Chức năng nhiệm vụ của nhà nước mối quan hệ chặt chẽ, mật thiết với  
nhau. Một nhiệm vụ của nhà nước làm phát sinh một hoặc nhiều chức năng ngược lại  
một chức năng của nhà nước thể nhằm thực hiện một hoặc nhiều nhiệm vụ.  
1 C.Mác - Ph.Ăngghen. Tuyển tập, tập II. NXB Sự thật, Nội, 1981, Tr 637- 638  
Chức năng của nhà nước được quy định bởi bản chất của nhà nước. Chức năng  
của nhà nước hội chủ nghĩa khác với chức năng của các nhà nước bóc lột ở nội dung  
và hình thức thực hiện.  
Chức năng của nhà nước được thực hiện bởi bộ máy nhà nước. Do đó, khi nghiên  
cứu về vấn đề này cần phân biệt giữa chức năng của nhà nước chức năng của cơ quan  
nhà nước. Chức năng của nhà nước như đã nêu, là những phương diện hoạt động cơ bản  
của nhà nước mỗi cơ quan nhà nước đều phải tham gia thực hiện ở những mức độ  
khác nhau. Chức năng của cơ quan nhà nước chỉ những phương diện hoạt động của cơ  
quan đó nhằm góp phần thực hiện chức năng chung của nhà nước.  
Chức năng của nhà nước nhiều cách phân loại khác nhau. Có thể phân loại  
chức năng của nhà nước thành: các chức năng đối nội và các chức năng đối ngoại; hoặc  
thành chức năng cơ bản và các chức năng không cơ bản; hoặc thành các chức năng lâu  
dài và chức năng tạm thời... Mỗi cách phân loại chức năng một ý nghĩa luận thực  
tiễn khác nhau, tuy nhiên trong số các cách phân loại đã nêu trên thì thông dụng nhất  
vẫn là cách phân chức năng nhà nước thành chức năng đối nội chức năng đối ngoại  
căn cứ trên cơ sở đối tượng tác động của chức năng.  
Chức năng đối nội của nhà nước những phương diện hoạt động cơ bản của nhà  
nước trong nội bộ của đất nước.  
Chức năng đối ngoại của nhà nước những hoạt động cơ bản của đất nước với  
các quốc gia khác, dân tộc khác. Hai nhóm chức năng này có quan hệ mật thiết với nhau,  
thực hiện tốt các chức năng đối nội ảnh hưởng tốt chức năng đối ngoại, ngược lại, nếu  
thực hiện tốt chức năng đối ngoại cũng sẽ ảnh hưởng tốt tới việc thực hiện các chức năng  
đối nội, cả hai đều hướng tới việc thực hiện những nhiệm vụ của đất nước.  
Các chức năng của nhà nước được thực hiện bằng những hình thức phương  
pháp nhất định. Nội dung những hình thức phương pháp ấy bắt nguồn trực tiếp thể  
hiện bản chất cũng như mục tiêu của nhà nước.  
Các hình thức pháp lý cơ bản để thực hiện chức năng của nhà nước bao gồm: hoạt  
động lập pháp, hoạt động chấp hành pháp luật hoạt động xây dựng pháp luật.  
Các phương pháp cơ bản để thực hiện chức năng của nhà nước phương pháp  
giáo dục, thuyết phục phương pháp cưỡng chế. Tuỳ thuộc bản chất của nhà nước  
phương pháp nào được ưu tiên sử dụng, dụ: trong nhà nước hội chủ nghĩa  
phương pháp thuyết phục, giáo dục được ưu tiên sử dụng, ngược lại trong các nhà nước  
bóc lột, phương pháp cưỡng chế được áp dụng phổ biến, rộng rãi.  
III. BỘ MÁY NHÀ NƯỚC  
Bộ máy nhà nước chủ thể thực hiện các chức năng nhiệm vụ của nhà nước.  
Bộ máy nhà nước hệ thống các quan nhà nước từ trung ương xuống đến địa phương,  
tổ chức hoạt động trên những nguyên tắc chung thống nhất, tạo thành một cơ chế đồng  
bộ để thực hiện các chức năng nhiệm vụ của nhà nước.  
Các yếu tố hợp thành bộ máy nhà nước quan nhà nước. Các quan nhà  
nước rất đa dạng. Tuy nhiên, thông thường cơ quan nhà nước bao gồm 3 loại: cơ quan lập  
pháp, quan hành pháp và quan pháp.  
Tất cả các quan nhà nước tạo thành bộ máy nhà nước, nhưng bộ máy nhà nước  
không phải tập hợp đơn giản các quan nhà nước, mà là hệ thống thống nhất các cơ  
quan nhà nước. Yếu tố tạo nên sự thống nhất trong bộ máy nhà nước hệ thống các  
nguyên tắc tổ chức hoạt động của các quan nhà nước.  
quan nhà nước một tổ chức có tính độc lập tương đối về mặt tổ chức - cơ  
cấu, bao gồm những cán bộ, công chức được giao những quyền hạn nhất định để thực  
hiện chức năng nhiệm vụ của cơ quan đó trong phạm vi do pháp luật quy định.  
quan nhà nước có các đặc điểm sau:  
- quan nhà nước một tổ chức công quyền, có tính độc lập tương đối với các  
quan nhà nước khác, một tổ chức cơ cấu bao gồm những cán bộ, công chức được giao  
những nhiệm vụ quyền hạn nhất định để thực hiện nhiệm vụ chức năng của nhà  
nước theo quy định của pháp luật.  
- quan nhà nước mang quyền lực nhà nước. Đây đặc điểm làm cho quan  
nhà nước khác hẳn với các tổ chức khác. Chỉ quan nhà nước mới quyền nhân  
danh nhà nước thực hiện quyền lực nhà nước, giải quyết những vấn đề quan hệ với công  
dân. Mỗi cơ quan nhà nước đều thẩm quyền do pháp luật quy định, đó tổng thể các  
quyền nghĩa vụ pháp lý mà nhà nước trao cho để thực hiện các chức năng nhiệm  
vụ. Yếu tố cơ bản của thẩm quyền quyền ban hành những văn bản pháp luật có tính  
bắt buộc chung phải thực hiện đối với những chủ thể liên quan.  
- Thẩm quyền của cơ quan nhà nước những giới hạn về không gian, thời gian  
đối tượng chịu sự tác động. Giới hạn này mang tính pháp lý vì nó được pháp luật quy  
định.  
- Mỗi cơ quan nhà nước có hình thức phương pháp hoạt động riêng do pháp  
luật quy định.  
- quan nhà nước chỉ hoạt động trong phạm vi thẩm quyền của mình và trong  
phạm vi đó, hoạt động độc lập, chủ động chịu trách nhiệm về hoạt động của mình.  
quan nhà nước quyền đồng thời nghĩa vụ phải thực hiện các quyền của mình.  
Khi quan nhà nước không thực hiện quyền hoặc từ chối không thực hiện quyền được  
pháp luật quy định là vi phạm pháp luật.  
Mỗi nhà nước, phụ thuộc vào kiểu nhà nước, hình thức chính thể ... nên có cách tổ  
chức bộ máy nhà nước khác nhau. Bộ máy nhà nước được tổ chức rất đa dạng, phong phú  
trên thực tế.  
IV. HÌNH THỨC NHÀ NƯỚC  
Hình thức nhà nước một trong những vấn đề cơ bản của luận về nhà nước.  
Hình thức nhà nước yếu tố quan trọng quyết định kết quả thống trị chính trị của giai  
cấp thống trị.  
Hình thức nhà nước là cách thức tổ chức quyền lực nhà nước những biện pháp  
để tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước. Hình thức nhà nước một khái niệm chung  
được hình thành từ 3 yếu tố: hình thức chính thể, hình thức cấu trúc nhà nước chế độ  
chính trị.  
1. Hình thức chính thể  
Hình thức chính thể là cách thức tổ chức các quan quyền lực tối cao của nhà  
nước, cơ cấu, trình tự thành lập mối liên hệ giữa chúng và mức độ tham gia của nhân  
dân vào việc thiết lập các quan này.  
Hình thức chính thể có hai dạng cơ bản là chính thể quân chủ và chính thể cộng  
hoà.  
Chính thể quân chủ là hình thức trong đó quyền lực tối cao của nhà nước tập  
trung toàn bộ (hay một phần) vào trong tay người đứng đầu nhà nước theo nguyên tắc  
thừa kế.  
Với việc tập trung quyền lực tối cao của nhà nước một phần hay toàn bộ vào trong  
tay người đứng đầu nhà nước theo nguyên tắc truyền ngôi mà chính thể quân chủ có hai  
biến dạng: quân chủ tuyệt đối và quân chủ hạn chế. Ở các quốc gia có hình thức chính thể  
quân chủ tuyệt đối, vua (hoàng đế...) quyền lực hạn, các quyền lập pháp, hành pháp  
pháp tối cao đều nằm trong tay người đứng đầu nhà nước. Hình thức này chủ yếu  
tồn tại trong hai kiểu nhà nước đầu tiên là nhà nước chủ nô và nhà nước phong kiến, ví  
dụ như Nhà nước phong kiến Việt Nam. Trong nhà nước có chính thể quân chủ hạn chế,  
người đứng đầu nhà nước hình thành bằng con đường truyền ngôi chỉ nắm một phần  
quyền lực nhà nước tối cao, bên cạnh họ có các quan nhà nước hình thành bằng con  
đường bầu cử chia sẻ quyền lực nhà nước với họ; dụ Nghị viện trong các nhà nước tư  
sản có chính thể quân chủ nắm quyền lập pháp, Chính phủ tư sản nắm quyền hành pháp  
quyền tư pháp thuộc về Toà án tư sản còn nữ hoàng hay quốc vương thông thường chỉ  
đại diện cho truyền thống và tình đoàn kết dân tộc.  
Chính thể cộng hoà là hình hức chính thể trong đó quyền lực tối cao của nhà nước  
thuộc về những cơ quan đại diện được bầu ra trong một thời hạn nhất định. Chính thể  
cộng hoà cũng có hai biến dạng cộng hoà dân chủ cộng hoà quý tộc. Trong những  
quốc gia có chính thể cộng hoà dân chủ, quyền tham gia bầu cử để thành lập các quan  
đại diện được quy định dành cho mọi công dân. Tuy nhiên, để thể hiểu đúng bản chất  
của vấn đề cần phải xem xét điều kiện cụ thể để tham gia bầu cử trong từng nhà nước,  
chẳng hạn như trong nhà nước dân chủ chủ nô, chỉ có giai cấp chủ với quyền công  
dân, các tầng lớp nhân dân khác, đặc biệt là nô lệ không được công nhận quyền công  
dân trong xã hội (Nhà nước ATen). Trong thực tế, giai cấp thống trị của các nhà nước  
bóc lột thường đặt ra nhiều quy định để hạn chế quyền bầu cử của nhân dân lao động.  
Trong các quốc gia có hình thức chính thể cộng hoà quý tộc, quyền bầu cử hình thành các  
quan đại diện chỉ dành cho giai cấp quý tộc (Nhà nước Spác, Nhà nước Lamã ).  
Trong mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể, do ảnh hưởng của nhiều yếu tố như: tương  
quan giai cấp, truyền thống dân tộc, quan điểm pháp lý, đặc điểm kinh tế - xã hội ... Với  
sự tác động của các yếu tố này đã làm cho hình thức chính thể của mỗi nhà nước có  
những điểm khác biệt nhau. Vì thế khi xem xét hình thức chính thể trong một quốc gia cụ  
thể cần phải xem xét nó một cách toàn diện tất cả những yếu tố ảnh hưởng đến nó.  
2. Hình thức cấu trúc nhà nước  
Hình thức cấu trúc nhà nước sự tổ chức nhà nước thành các đơn vị hành chính  
lãnh thổ, đặc điểm của mối quan hệ qua lại giữa các bộ phận cấu thành của nó, giữa cơ  
quan nhà nước trung ương với cơ quan nhà nước địa phương.  
Có hai hình thức cấu trúc nhà nước cơ bản cấu trúc nhà nước đơn nhất cấu  
trúc nhà nước liên bang.  
Hình thức cấu trúc nhà nước đơn nhất là hình thức trong đó lãnh thổ của nhà nước  
là toàn vẹn, thống nhất, nhà nước được chia thành các đơn vị hành chính - lãnh thổ không  
chủ quyền quốc gia, có hệ thống các quan nhà nước thống nhất từ trung ương  
xuống đến địa phương. dụ: Trung Quốc, Việt Nam, Campuchia, Lào, Pháp... là những  
nhà nước đơn nhất.  
Nhà nước liên bang là những nhà nước từ hai hay nhiều nước thành viên hợp  
lại. Trong nhà nước liên bang không chỉ có liên bang có dấu hiệu chủ quyền quốc gia mà  
trong từng bang thành viên đều dấu hiệu chủ quyền, dụ: Ấn Độ và Liên Xô trước  
đây... Ở nhà nước liên bang có hai hệ thống cơ quan quyền lực và hai hệ thống cơ quan  
quản lý: một hệ thống chung cho toàn liên bang và một cho từng nhà nước thành viên.  
Tải về để xem bản đầy đủ
doc 147 trang Mãnh Khiết 11/01/2024 3360
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Nhập môn Lý luận nhà nước và pháp luật", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • docnhap_mon_ly_luan_nha_nuoc_va_phap_luat.doc