Nghiên cứu biến tính ZnO bằng Graphen ứng dụng xử lý phẩm màu DB 71 trong môi trường nước

Nghiên cứu khoa học công nghệ  
NGHIÊN CỨU BIẾN TÍNH ZnO BẰNG GRAPHEN ỨNG DỤNG  
XỬ LÝ PHẨM MÀU DB 71 TRONG MÔI TRƯỜNG NƯỚC  
Nguyễn Mạnh Tường*  
Tóm tắt: Graphen được tạo thành bằng phương pháp lắng đọng hóa học pha hơi  
(CVD) trên ZnO dạng phiến mỏng ở 550oC trong các khoảng thời gian 5,10 và 30  
phút. ZnO được điều chế bằng phương pháp thuỷ nhiệt ở 125oC trong 10 giờ. Cấu  
trúc và tính chất của vật liệu được xác định bằng các phương pháp XRD, TEM,  
SEM và TGA. ZnO tổng hợp được có cấu trúc phiến mỏng, đồng đều. Graphen trên  
nền ZnO có trọng lượng 5-15% và được sử dụng trực tiếp làm vật liệu xúc tác  
quang xử lý các chất hữu cơ độc hại bền trong môi trường nước. Kết quả khảo sát  
trực tiếp trên phẩm xanh DB71 cho thấy khả năng xử lý màu của vật liệu là rất tốt.  
Kết quả khảo sát cũng chỉ ra rằng thời gian tổng hợp vật liệu có ảnh hưởng tới tỉ lệ  
của Graphen/ZnO cũng như khả năng xử lý màu của phẩm xanh DB71. Vật liệu  
Graphen/ZnO được tổng hợp trong thời gian 5 phút mang lại hiệu quả xử lý tốt  
nhất, đạt đến hiệu quả xử lý hơn 97% sau khoảng thời gian 30 phút trong điều kiện  
chiếu tia UV.  
Từ khóa: Vật liệu xúc tác quang, Hiệu suất xử lý, G/ZnO, CVD.  
1. MỞ ĐẦU  
Kẽm oxit (ZnO) là một chất bán dẫn quan trọng có năng lượng vùng cấm  
3.37eV ở nhiệt độ phòng, có lực liên kết lớn và nhiệt độ nóng chảy cao [1]. Độ linh  
động điện tử của ZnO khá cao và phụ thuộc vào nhiệt độ (2000 cm2/(V·s) ở 80 K)  
[2], do đó, sự tái kết hợp của electron quang sinh và lỗ trống diễn ra nhanh, hơn  
nữa khả năng tái sử dụng của ZnO thấp do bị ăn mòn quang học khi bị chiếu sáng.  
Những lí do này làm giảm khả năng quang xúc tác của nano ZnO.  
Graphen đang là vật liệu nhận được nhiều sự chú ý và quan tâm của nhiều nhà  
khoa học do những tính chất ưu việt và ứng dụng đặc biệt của nó. Graphen có cấu  
trúc phẳng, độ dày bằng một lớp nguyên tử, các nguyên tử cacbon lai hóa sp2 tạo  
thành dạng tinh thể hình tổ ong. Do tính dẫn điện tốt, diện tích bề mặt riêng lớn và  
bền hóa học nên graphen được dùng để chế tạo vật liệu tổ hợp với oxit kim loại  
ứng dụng xử lý các hợp chất hữu cơ trong môi trường nước.  
Gần đây, các nhà khoa học đã nghiên cứu thành công vật liệu composit G/ZnO  
và mang lại hiệu quả xúc tác quang cao. Fan và cộng sự đã tổng hợp G/ZnO bằng  
phương pháp thủy nhiệt từ bột GO và dung dịch có chứa huyền phù ZnO [5]. Dưới  
điều kiện chiếu UV, composit thể hiện khả năng xúc tác quang tốt hơn thông  
thường. Hossain và cộng sự [3] tổng hợp trong dung môi, đi từ kẽm axetat và  
graphit trong 1-metyl-2-pyrrolidinone được đun hồi lưu trong 2 giờ ở 150oC. Khả  
năng phân hủy phẩm và tái sử dụng của vật liệu tổ hợp là rất cao. Yang và cộng sự  
tổng hợp vật liệu G/ZnO bằng phương pháp bốc bay nhiệt [6,7]. Trong phương  
pháp này các hạt ZnO được gắn vào bề mặt và các cạnh của màng graphen, ngăn  
cản sự co cụm lại của các màng này. Sau đó G/ZnO có thể được hình thành trực  
tiếp từ sự khử của graphen oxit [4].  
Phẩm màu DB71 thuộc nhóm azo hay thuốc nhuộm trực tiếp được gọi là Direct  
Blue 71 (DB-71), có công thức C40H23N7Na4O13S4), cấu trúc nêu ở hình 1. Loại  
phẩm màu này được dùng phổ biến trong ngành dệt nhuộm.  
163  
Tạp chí Nghiên cứu KH&CN quân sự, Số 48, 04 - 2017  
Hóa học & Kỹ thuật môi trường  
Hình 1. Cấu trúc thuốc nhuộm DB 71.  
Trong bài báo này, chúng tôi đã biến tính ZnO bằng cách tạo ra graphen trực  
tiếp trên bề mặt của ZnO dạng phiến bằng phương pháp lắng đọng hơi hóa học  
(CVD) đi từ cyclohexan và sử dụng trực tiếp làm vật liệu xúc tác quang xử lý  
phẩm xanh DB 71. Phương pháp này đơn giản, dễ thực hiện và có thể áp dụng ở  
quy mô công nghiệp.  
2. THỰC NGHIỆM  
2.1. Hóa chất và thiết bị  
Các hoá chất được sử dụng trong nghiên cứu là: kẽm sunfat, natri hidroxit,  
xyclo hexan, phẩm màu DB 71 và một số khí trơ.  
Kính hiển vi điện tử truyền qua JEOL TEM 5410 có điện thế 40-100kV, độ  
phân giải với điểm ảnh là 0,2 nm, đối với ảnh mạng tinh thể là 0,15, độ phóng đại  
từ 20-500.000 lần. Các mẫu SEM được chụp trên kính hiển vi điện tử quét SEM  
Jeol JSM – 7500F. Máy phân tích nhiệt trọng lượng (TGA) ghi lại sự mất khối  
lượng theo nhiệt độ. Thiết bị ghi phổ nhiễu xạ XRD xác định cấu trúc tinh thể của  
mẫu. Máy UV-vis mẫu rắn ghi lại bước sóng hấp phụ quang của vật liệu, xác định  
năng lượng vùng cấm.  
2.2. Biến tính ZnO  
Biến tính ZnO được tiến hành thông qua hai bước: bước thứ nhất chế tạo ZnO  
dạng phiến mỏng; bước thứ hai nhiệt phân khí xyclohexan trên ZnO dạng phiến ở  
nhiệt độ 550oC, thời gian 5-30 phút.  
2.2.1. Tổng hợp ZnO dạng phiến  
o
Cân 28,7g ZnSO4.7H2O, phân tán vào 400 ml nước cất, gia nhiệt đến 70 C và  
khuấy liên tục trên bếp từ. Sau đó, cho từ từ 52 ml dung dịch NaOH 0.4M và duy  
o
trì nhiệt độ phản ứng ở 70 C trong 2 giờ. Hỗn hợp sản phẩm thu được được để  
lắng, gạn rửa và li tâm 3-4 lần cho tới khi đạt môi trường pH trung tính. Kết tủa  
o
trắng Zn(OH)2 được cho vào bình Teflon thủy nhiệt ở 125 C trong 10 giờ (bình  
thủy nhiệt có thể tích 100 ml, chịu được áp suất 25 atmosphere). Sản phẩm được  
o
đem ly tâm, rửa với etanol và sấy ở 60 C trong không khí. Cuối cùng, nung sản  
phẩm ở 550 oC để loại hoàn toàn nước, thu được xúc tác ZnO.  
2.2.2. Tổng hợp nanocomposit G/ZnO  
Graphen được hình thành trên ZnO dạng phiến sử dụng khí nhiệt phân khí  
hydrocacbon (C6H6) trên xúc tác ZnO có hình dạng hexagol được tổng hợp theo  
phương pháp thủy nhiệt trên. Phản ứng được diễn ra ở 5500C trong thời gian 5-30  
phút (thiết bị CVD kiểu lò ngang theo phương pháp giàn đoạn). Khí hydro cacbon  
không phản ứng hết được đốt cháy tránh hiện tượng ô nhiễm môi trường. Sản  
164  
Nguyễn Mạnh Tường, “Nghiên cứu biến tính ZnO bằng Graphen… môi trường nước.”  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
phẩm tạo thành là hỗn hợp của G/ZnO và được sử dụng trực tiếp để khảo sát khả  
năng phân hủy phẩm màu DB71.  
2.3. Khảo sát khả năng quang xúc tác của vật liệu  
Khả năng xúc tác quang của vật liệu được tiến hành trong 50 ml dung dịch  
DB71, nồng độ 20 ppm trong 60 phút, hàm lượng xúc tác (ZnO, G/ZnO-5 phút,  
G/ZO-10 phút, G/ZnO-30 phút) là 200 mg, thực hiện ở nhiệt độ phòng, trong ánh  
sáng tử ngoại. Sau các khoảng thời gian 15, 30, 45 và 60 phút, lấy mẫu lọc, li tâm  
và đo quang, xác định khả năng xử lý.  
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN  
3.1. Khảo sát cấu trúc vật liệu  
Giản đồ nhiễu xạ tia X của ZnO được chỉ ra ở hình 2 và bảng 1.  
Hình 2. Giản đồ nhiễu xạ tia X của ZnO.  
Bảng 1. Các pic đặc trưng phổ nhiễu xạ tia X của ZnO.  
Góc nhiễu xạ 2Ө 31.7 34.4 36.2 47.5 56.6 62.9 66.3 67.9 69.2 77.0  
Mặt  
(1 0 0) (0 0 2) (1 0 1) (1 0 2) (1 1 0) (1 0 3) (2 0 0) (1 1 2) (2 0 1) (2 0 2)  
Các góc nhiêu xạ 2Ө tương đương với các mặt của cấu trúc lục lăng của tinh thể  
ZnO. Điều này chứng tỏ đã tổng hợp thành công tinh thể wurtzite của ZnO.  
3.2. Hình thái học vật liệu tổ hợp  
Hình 3 cho thấy hình thái học của vật liệu ZnO và G/ZnO 5 phút. ZnO thu  
được tồn tại ở dạng phiến mỏng, bề mặt nhẵn mịn, và có kích thước khá đồng  
đều, dao động từ 20 đến 100 nm. Hình 3(b) chỉ ra rằng graphen đã được hình  
thành trên bề mặt của các hạt ZnO. Để khảo sát một cách chính xác độ dày cũng  
như số lớp của graphen thì cần sử dụng một số phương pháp phân tích khác và  
đòi hỏi việc chuẩn bị mẫu cũng rất công phu. Tuy nhiên, trong phạm vi của  
165  
Tạp chí Nghiên cứu KH&CN quân sự, Số 48, 04 - 2017  
Hóa học & Kỹ thuật môi trường  
nghiên cứu này chỉ khảo sát đến khả năng hình thành graphen trên ZnO. Với kết  
quả phân tích nhiệt, và chụp ảnh bề mặt TEM khảng định ZnO đã được biến tính  
bằng graphen theo phương pháp CVD.  
(b)  
(a)  
Hình 3. Ảnh TEM của ZnO (a) và G/ZnO 5 phút (b).  
3.3. Tính chất nhiệt và tỉ lệ của graphen trong vật liệu composit  
Để xác định tỉ lệ của graphen trong vật liệu, chúng tôi tiến hành đo nhiệt trọng  
lượng (TGA) của vật liệu. Kết quả chỉ ra trong bảng 2. Tỉ lệ của graphen trong vật  
o
liệu chính là sự mất khối lượng ở xung quanh nhiệt độ 600 C, tỷ lệ này tăng khi  
tăng thời gian của xúc tác trong hệ thiết bị CVD.  
Bảng 2. Tỉ lệ phần trăm của cacbon trong composit.  
Thời gian nhiệt phân (phút)  
5
10  
30  
% Graphen  
% ZnO  
4.8  
9.07  
15  
85  
95,2  
90,93  
Figure:  
Experiment:10' G-ZnO  
Crucible:PT 100 µl  
Atmosphere:Air  
08/11/2015 Procedure: RT ----> 800C (10 C.min-1) (Zone 2)  
Mass (mg): 32.84  
Labsys TG  
TG/%  
HeatFlow/µV  
Exo  
Peak :649.38 °C  
8
20  
6
4
10  
2
0
0
-2  
-4  
-6  
-8  
-10  
-20  
Mass variation: -9.07 %  
0
100  
200  
300  
400  
500  
600  
700  
Furnace temperature /°C  
Hình 4. Giản đồ phân tích nhiệt của G/ZnO 10 phút.  
Ngoài ra, giản đồ nhiệt cũng chỉ ra độ bền nhiệt của vật liệu khá cao, ở nhiệt độ  
khoảng từ 550oC vật liệu mới bắt đầu bị phân hủy.  
3.4. Phổ UV-Vis của vật liệu  
166  
Nguyễn Mạnh Tường, “Nghiên cứu biến tính ZnO bằng Graphen… môi trường nước.”  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
Hình 5. Phổ UV-Vis của vật liệu.  
Phổ UV-Vis của mẫu vật liệu chỉ ra rằng bước sóng hấp phụ của vật liệu G/ZnO  
gần với bước sóng hấp phụ của ZnO (xấp xỉ 370nm), nhưng bước sóng hấp phụ  
của G/ZnO – 10 min dịch chuyển sang bên phải, nên vật liệu này có hoạt tính xúc  
tác tốt hơn trong vùng khả kiến.  
3.5. Kết quả khảo sát khả năng xúc tác quang  
Thí nghiệm khảo sát khả năng xúc tác quang của vật liệu đối với phẩm xanh  
DB71 trong điều kiện chiếu tia UV được chỉ ra trong bảng 3 và hình 6, 7.  
Hình 6. Đường cong chuẩn của DB71.  
Bảng 3. Khả năng xử lý DB 71 của vật liệu.  
Khả năng xử lý (%)  
Vật liệu  
15 phút  
30 phút  
45 phút  
60 phút  
ZnO  
96.1  
97.3  
97.6  
92.5  
G-ZnO 5 phút  
G-ZnO 10 phút  
99.1  
98.9  
99.5  
98.9  
99.6  
98.9  
99.0  
99.0  
G-ZnO 30 phút  
80.5  
84.0  
87.1  
76.9  
167  
Tạp chí Nghiên cứu KH&CN quân sự, Số 48, 04 - 2017  
Hóa học & Kỹ thuật môi trường  
Hình 7. Đồ thị khảo sát khả năng xử lý DB 71 của vật liệu.  
Kết quả từ bảng 3 và hình 7 chỉ ra rằng sau 30 phút đầu tiên, khả năng xử lý  
màu của các vật liệu là rất tốt, hiệu quả đạt hơn 80%. G/ZnO – 5min mang lại hiệu  
quả xử lý tốt nhất và không chênh lệch nhiều so với G/ZnO – 10min. G/ZnO- 30  
min có khả năng xử lý thấp nhất, thậm chí thấp hơn cả ZnO. Điều này có thể giải  
thích do tỉ lệ cacbon nhiều sẽ cản trở sự tiếp xúc với ánh sáng của các hạt xúc tác  
ZnO, ngoài ra dư thừa cacbon có thể tạo điều kiện thuận lợi cho việc tái kết hợp  
của electron và lỗ trống, dẫn đến giảm khả năng xúc tác quang của vật liệu.  
Cơ chế xúc tác quang hóa của vật liệu có thể được giải thích như sau: Thứ nhất,  
dựa trên sự kích thích của các phân tử phẩm nhuộm, trong đó các phân tử này hoạt  
động như các chất nhạy với ánh sáng khả kiến và electron bị kích thích sẽ di  
chuyển từ các phân tử này đến các chất nhận electron trở thành các gốc cation, sau  
đó sẽ tự phân hủy hoặc bị phân hủy bởi các phản ứng oxi hóa. Electron hóa trị của  
ZnO có thể bị kích thích lên vùng dẫn sẽ để lại các lỗ trống ở vùng hóa trị. Thứ hai,  
dựa trên sự kích thích của vật liệu bán dẫn khi được chiếu sáng để tạo ra các  
electron quang sinh và lỗ trống. Phản ứng với các phân tử phẩm xảy ra do các  
electron quang sinh di chuyển đến bề mặt của hạt xúc tác, phản ứng với oxi hòa tan  
và sinh ra các gốc tự do H2O2, dễ bị phân hủy thành các gốc tự do OH.. Các lỗ  
trống mang điện dương có thể phản ứng với các ion OH- trong nước để hình thành  
các gốc tự do hydroxyl. Các gốc tự do này là các tác nhân oxi hóa mạnh sẽ trực  
tiếp tham gia vào phản ứng oxi hóa các phân tử phẩm.  
4. KẾT LUẬN  
Đã tổng hợp ZnO dạng phiến hình lục lăng bằng phương pháp thủy nhiệt, ZnO  
được biến tính bằng phương pháp nhiệt phân khí hydrocacbon ở nhiệt độ 550oC  
trong thời gian 5-30 phút.  
Vật liệu tổ hợp thu được đã được nghiên cứu các đặc trưng cấu trúc và khảo sát  
khả năng quang xúc tác trong xử lý phẩm màu hữu cơ BD 71. Kết quả chỉ ra rằng  
graphen đã hình thành trên bề mặt của ZnO với hàm lượng từ 5-15%. Hỗn hợp được  
sử dụng trực tiếp để khảo sát khả năng quang xúc tác cho kết quả tốt hơn so với ZnO.  
Với thời gian biến tính 5 phút, nồng độ phẩm màu DB71 là 20 ppm, sau 30 phút xử lý  
hiệu quả đạt trên 98%. Như vậy, vật liệu hoàn toàn có thể ứng dụng vào thực tế.  
168  
Nguyễn Mạnh Tường, “Nghiên cứu biến tính ZnO bằng Graphen… môi trường nước.”  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1]. Y. Jin, J. Wang, B. Sun , J.C. Blakesley JC, N.C. Greenham, “Solution  
processed ultraviolet photodetectors based on colloidal ZnO nanoparticles”,  
Nano Letters Vol 8 (2008), pp 1649-1653.  
[2]. P. Wagner; R. Helbig, “Halleffekt und anisotropie der beweglichkeit der  
elektronen in ZnO”, Journal of Physics and Chemistry of Solids Vol 35 (1974)  
327.  
[3]. M.M. Hossain, B.C. Ku, J.R. Hahn, “Synthesis of an efficient white-light  
photocatalyst composite ofgraphene and ZnO nanoparticles: Application to  
methylene blue dye decomposition”, Appl. Surf. Sci. Vol 354 (2015), pp 55-65.  
[4]. J.M. Lee, Y.B. Pyun, J. Yi, J.W. Choung, W.I. Park, “ZnO nanorod−  
graphene hybrid architectures for multifunctional conductors”, Journal of  
Physical Chemistry C113 (2009) pp 19134–19138.  
[5]. H. Fan, X. Zhao, J. Yang, X. Shan, L. Yang , Y. Zhang, X. Li, M. Gao, “ZnO–  
graphene composite for photocatalytic degradation of methylene blue dye”,  
Catalysis Communication Vol 59 (2012), pp 29-34.  
[6]. J. Yang, X. Zhao, X. Shan, H. Fan, L. Yang, Y. Zhang, X. Li, “Blue-shift of  
UV emission in ZnO/graphene composites”, Journal of Alloys and  
Compounds Vol 556 (2013), pp 1-5.  
[7]. X. Liu, L. Pan, T. Lv, T. Lu, G. Zhu, Z. Sun, C. Sun, “Microwave-assisted  
synthesis of ZnO–graphene composite for photocatalytic reduction of Cr (V)”,  
Catalysis Science and Technology Vol 1 (2011), pp 1189–1193.  
ABSTRACT  
MODIFICATION OF ZINC OXIDE BY GRAPHENE AND APPLICATION  
FOR REMOVING DB71 IN WATER  
Graphene was synthesized on the ZnO catalyst substrate thin plate form at  
550oC in the time periods of 5 min; 10min and 30min. ZnO substrates were  
fabricated by hydrothermal method at 125oC in 10 hours. Material structures are  
characterized by XRD, TEM, SEM and TGA. The obtained ZnO substrate was a thin  
plate form and uniform. Graphene was grown on ZnO substrate with 5-15%, and  
used directly as photocatalyst for treatment of persistent organic pollutants (POPs)  
in water. The experimental results with Direct Blue 71 showed that the treatment  
capability for color degradation of the material was very well. The materials  
preparation time affected the ratio of Graphene/ZnO as well as the color  
degradation of DB71 solution. Graphene/ZnO nanocomposite that prepared in 5  
min gave the highest efficiency, with more than 97% of dye degraded under UV  
light irradiation in 30 minutes of treatment.  
Keywords: Photocatalytic materials, ZnO nanosheet, CVD, G/ZnO, Photocatalytic degradation.  
Nhận bài ngày 03 tháng 3 năm 2017  
Hoàn thiện ngày 27 tháng 3 năm 2017  
Chấp nhận đăng ngày 05 tháng 4 năm 2017  
Địa chỉ: Viện Hóa học - Vật liệu, Viện Khoa học và Công nghệ quân sự.  
*E-mail:[email protected]om  
169  
Tạp chí Nghiên cứu KH&CN quân sự, Số 48, 04 - 2017  
pdf 7 trang Mãnh Khiết 13/01/2024 18940 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu biến tính ZnO bằng Graphen ứng dụng xử lý phẩm màu DB 71 trong môi trường nước", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_bien_tinh_zno_bang_graphen_ung_dung_xu_ly_pham_ma.pdf