Giáo trình Sở hữu trí tuệ

PHẦN 1  
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG  
VỀ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ  
1
Chương 1  
KHÁI QUÁT VỀ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ  
1. Khái niệm, đặc điểm và bản chất của quyền sở hữu trí tuệ  
Trong tiến trình vận động của đời sống xã hội hiện đại, sự phát  
triển như vũ bão của KH&CN thế kỷ XXI đã có tác động sâu rộng, mãnh  
liệt và trực tiếp hơn bao giờ hết với tốc độ và chất lượng tăng trưởng kinh  
tế - xã hội, tốc độ gia tăng của cải vật chất và các giá trị tinh thần cho xã  
hội loài người. Tài sản trí tuệ - tài sản dựa trên tri thức cũng vì vậy mà  
trở nên đặc biệt quan trọng trong cấu trúc tài sản của mỗi quốc gia và  
doanh nghiệp, mỗi cá nhân và tổ chức. Đây là “động lực mới tạo nên sự  
thịnh vượng trong xã hội đương thời”1.  
Cơ chế bảo hộ SHTT với nội dung cơ bản là coi các kết quả của  
hoạt động sáng tạo khoa học, công nghệ và nghệ thuật là các tài sản trí  
tuệ và các quyền về tài sản này phải được pháp luật thừa nhận và bảo vệ,  
đã trở thành một công cụ đắc lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế và cải  
thiện đời sống vật chất, tinh thần cho quảng đại quần chúng nhân dân.  
Đặc biệt, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập, vấn đề bảo hộ SHTT  
trở thành vấn đề trung tâm trong các quan hệ kinh tế quốc tế, là yếu tố then  
chốt trong hoạch định chiến lược, chính sách phát triển của các quốc gia.  
Bảo hộ SHTT vừa xuất phát từ nhu cầu tự thân của các nền kinh tế  
trong quá trình phát triển, vừa là một đòi hỏi mang tính toàn cầu, bắt  
buộc khi tham gia các quan hệ kinh tế quốc tế và hội nhập. Đối với Việt  
Nam, việc thiết lập một hệ thống bảo hộ SHTT hữu hiệu là một trong số  
các yếu tố quan trọng quyết định thành công của quá trình hội nhập kinh  
tế quốc tế và gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Đồng thời,  
góp phần thúc đẩy hoạt động nghiên cứu sáng tạo và đổi mới trong nước,  
khuyến khích cạnh tranh và lành mạnh hóa thị trường, từ đó hỗ trợ đắc  
lực cho công cuộc phát triển kinh tế - xã hội và công nghiệp hóa, hiện đại  
hóa đất nước.  
1
Theo nhận định của Tổng Giám đốc Tổ chức SHTT thế giới (WIPO) Kamil Idris tại  
tác phẩm SHTT một công cụ đắc lực để phát triển kinh tế (bản dịch tiếng Việt 2004).  
2
1.1.1. Khái niệm quyền sở hữu trí tuệ  
Quyền SHTT có thể được hiểu theo hai phương diện:  
- Phương diện khách quan: Quyền SHTT là tổng hợp các quy  
phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình  
xác lập và khai thác, sử dụng và định đoạt các đối tượng SHTT.  
- Phương diện chủ quan: Quyền SHTT là tập hợp các quyền và  
nghĩa vụ cụ thể của các cá nhân, tổ chức là chủ thể của quyền SHTT.  
1.1.2. Đặc điểm của quyền sở hữu trí tuệ  
Kết quả nghiên cứu về SHTT trong nước và nước ngoài cho thấy,  
có nhiều phương pháp và cách thức tiếp cận khác nhau khi phân tích về  
đặc thù và bản chất của quyền SHTT. Tuy nhiên, nhìn một cách tổng thể,  
có thể tóm lược chung các đặc điểm cơ bản nhất của quyền SHTT như  
sau:  
1.1.2.1. Đặc điểm về căn cứ phát sinh, xác lập quyền  
Quyền SHTT chỉ được coi là hợp pháp khi được phát sinh hoặc xác  
lập theo đúng các quy định của pháp luật về điều kiện và thời điểm phát  
sinh quyền. Theo căn cứ phát sinh quyền, pháp luật các nước thường  
phân định cơ chế điều chỉnh khác nhau đối với hai nhóm quyền SHTT  
chủ yếu sau:  
- Nhóm quyền phát sinh một cách tự nhiên: Quyền SHTT tự động  
phát sinh hoặc được xác lập cùng với sự ra đời của tài sản trí tuệ (đối  
tượng SHTT) mà không cần phải tiến hành bất kỳ thủ tục pháp lý nào tại  
cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Thời điểm phát sinh quyền SHTT đồng  
thời với thời điểm phát sinh đối tượng SHTT. Khi xảy ra tranh chấp, chủ  
sở hữu quyền phải tự chứng minh quyền của mình bằng cách đưa ra các  
chứng cứ về mối liên hệ giữa bản thân và đối tượng quyền. Chính vì đặc  
thù này mà mặc dù có cơ chế tự động phát sinh quyền, pháp luật các  
nước vẫn dành nhiều quan tâm quy định về các thủ tục, trình tự đăng ký  
đối tượng tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền (như một khuyến cáo có  
lợi và không bắt buộc đối với các chủ thể quyền), vì khi xảy ra tranh  
chấp, chứng chỉ đăng ký do cơ quan này cấp sẽ là một bằng chứng quan  
trọng làm căn cứ xác nhận mối quan hệ giữa chủ thể và đối tượng quyền.  
3
Nhóm quyền SHTT phát sinh một cách tự nhiên, bao gồm: quyền  
tác giả, quyền liên quan tới quyền tác giả (quyền đối với các tác phẩm  
văn học, nghệ thuật, khoa học; các cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình;  
chương trình phát sóng; tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa)  
và một số ít các quyền SHCN (quyền đối với tên thương mại, bí mật kinh  
doanh và nhãn hiệu nổi tiếng).  
Theo quy định tại Điều 6 Luật SHTT 2005, căn cứ phát sinh, xác  
lập quyền SHTT đối với các quyền thuộc nhóm này như sau:  
Quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được  
thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung,  
chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay chưa công  
bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký.  
Quyền liên quan phát sinh kể từ khi cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi  
hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được  
mã hóa được định hình hoặc thực hiện mà không gây phương hại đến  
quyền tác giả.  
Quyền SHCN đối với tên thương mại được xác lập trên cơ sở sử  
dụng hợp pháp tên thương mại đó.  
Quyền SHCN đối với bí mật kinh doanh được xác lập trên cơ sở có  
được một cách hợp pháp bí mật kinh doanh và thực hiện việc bảo mật bí  
mật kinh doanh đó.  
Quyền SHCN đối với nhãn hiệu nổi tiếng được xác lập trên cơ sở  
sử dụng, không phụ thuộc vào thủ tục đăng ký.  
- Nhóm quyền phát sinh trên cơ sở đăng ký: Quyền SHTT chỉ phát  
sinh hoặc được xác lập trên cơ sở đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm  
quyền theo thủ tục, trình tự luật định. Ngược lại với nhóm trên, ở đây,  
quyền SHTT không tự động phát sinh mà theo cơ chế quyền chỉ được  
trao khi đã tiến hành một số thủ tục pháp lý nhất định. Cơ quan nhà nước  
có thẩm quyền sẽ xem xét đơn đăng ký theo trình tự, thủ tục và tiêu  
chuẩn do pháp luật về SHTT quy định. Nếu đáp ứng các yêu cầu luật  
định, chủ thể quyền (có thể là tổ chức hoặc cá nhân) sẽ được cấp một  
chứng chỉ (văn bằng bảo hộ) với ý nghĩa thừa nhận, xác nhận tổ chức, cá  
nhân đó có quyền đối với đối tượng SHTT trong thời hạn và phạm vi  
4
tương ứng. Các quyền SHTT đối với các đối tượng SHTT được xác lập  
theo chứng chỉ (văn bằng bảo hộ) được cấp.  
Nhóm quyền SHTT phát sinh theo cơ chế này bao gồm phần lớn  
các quyền SHCN (quyền đối với sáng chế/giải pháp hữu ích, kiểu dáng  
công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa  
lý) và quyền đối với giống cây trồng.  
Theo quy định tại Điều 6 Luật SHTT 2005, căn cứ phát sinh, xác  
lập quyền SHTT đối với các quyền thuộc nhóm này như sau:  
Quyền SHCN đối với sáng chế/giải pháp hữu ích kiểu dáng công  
nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu (trừ nhãn hiệu  
nổi tiếng), chỉ dẫn địa lý được xác lập trên cơ sở quyết định cấp văn bằng  
bảo hộ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo thủ tục đăng ký quy  
định tại Luật SHTT hoặc công nhận đăng ký quốc tế theo quy định của  
Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.  
Quyền đối với giống cây trồng được xác lập trên cơ sở quyết định  
cấp Bằng bảo hộ giống cây trồng của cơ quan nhà nước có thẩm quyền  
theo thủ tục đăng ký.  
1.1.2.2. Đặc điểm về nội dung quyền  
Như trên đã đề cập, khái niệm quyền SHTT trong phạm vi hẹp có  
thể được hiểu là quyền sở hữu đối với tài sản trí tuệ. Theo chế định về tài  
sản và quyền sở hữu của Bộ luật Dân sự 2015 quy định, quyền sở hữu  
bao gồm ba quyền năng cơ bản là quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và  
quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu. Tuy nhiên, khác với các tài sản  
thông thường, nội dung quyền sở hữu đối với tài sản trí tuệ có những  
điểm đặc thù sau:  
- Quyền SHTT là một loại quyền sở hữu nhưng các quyền năng chủ  
yếu tập trung vào quyền sử dụng và quyền định đoạt.  
Bản chất của các đối tượng SHTT - tài sản trí tuệ là vô hình, nên  
việc nắm giữ, quản lý nó là không thể thực hiện được một cách bình  
thường như các dạng tài sản hữu hình khác. Đặc tính vô hình và chức  
năng thông tin - tri thức cho phép loại đối tượng SHTT này có khả năng  
di động một cách không có giới hạn và đồng thời hiện diện ở nhiều nơi  
5
nên việc thực hiện quyền năng chiếm hữu dạng tài sản này là không thể  
và không có ý nghĩa.  
Mặt khác, tài sản trí tuệ là kết quả của hoạt động sáng tạo. Đặc tính  
sáng tạo và đổi mới của dạng tài sản này đòi hỏi con người luôn phải tìm  
tòi, khám phá, làm chủ các thông tin và tri thức liên quan. Việc độc  
quyền chiếm giữ tài sản trí tuệ sẽ làm cản trở nhu cầu phát triển của xã  
hội và kìm nén hoạt động sáng tạo. Cần lưu ý rằng, để kiểm soát quyền  
năng chiếm hữu cần giữ bí mật đối với tài sản trí tuệ, nhưng điều này lại  
mâu thuẫn với các quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản trí tuệ. Các  
đối tượng SHTT chỉ có giá trị và mang lại lợi ích nếu được khai thác, sử  
dụng, chuyển giao, nhưng chính các hoạt động này lại bộc lộ bản chất  
của tài sản trí tuệ. Ngược lại, việc giữ bí mật bản chất tài sản trí tuệ cũng  
đồng nghĩa với việc không thể sử dụng tài sản trí tuệ đó. Như vậy, đối  
với quyền SHTT, quyền năng chiếm hữu không thể cùng đồng thời tồn  
tại và thực hiện song song với các quyền năng sử dụng và định đoạt.  
- Quyền sử dụng là quyền độc quyền của chủ sở hữu tài sản trí tuệ.  
Trong quyền SHTT, quyền sử dụng các đối tượng SHTT hay tài  
sản trí tuệ về bản chất được hiểu là quyền độc quyền của chủ sở hữu  
trong việc sử dụng; đồng thời, cho phép hoặc ngăn cấm người khác sử  
dụng các đối tượng, tài sản trí tuệ của mình. Tùy thuộc vào bản chất của  
mỗi loại đối tượng SHTT, nội dung và khái niệm quyền năng sử dụng  
này cũng chứa đựng các nội hàm khác nhau. Trong lĩnh vực quyền tác  
giả và quyền liên quan, sử dụng tác phẩm có thể được hiểu gồm các hành  
vi làm tác phẩm phái sinh; biểu diễn tác phẩm trước công chúng; sao  
chép tác phẩm; phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm;  
truyền đạt tác phẩm đến công chúng bằng các phương tiện kỹ thuật khác  
nhau; cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình  
máy tính... Trong khi đó, trong lĩnh vực SHCN, việc sử dụng sáng chế có  
thể bao gồm các hành vi khai thác, ứng dụng vào sản xuất, lưu thông,  
nhập khẩu sản phẩm được sản xuất theo sáng chế...; việc sử dụng nhãn  
hiệu có thể gồm các hành vi gắn nhãn hiệu lên sản phẩm, trưng bày,  
quảng cáo, tàng trữ, bán, nhập khẩu sản phẩm mang nhãn hiệu…  
Cần lưu ý rằng, trong các nội dung quyền của quyền sử dụng đối  
6
tượng SHTT, một số quyền có thể được chuyển giao, để thừa kế (thường  
là các quyền vật chất, quyền mang tính chất tài sản), trong khi một số  
quyền khác thì chỉ thuộc về một chủ thể duy nhất mà không thể chuyển  
giao hoặc thừa kế (quyền tinh thần, quyền nhân thân phi tài sản).  
1.1.2.3. Đặc điểm về giới hạn quyền  
Một trong những nguyên tắc điều chỉnh đặc thù của pháp luật về  
SHTT là bảo đảm sự cân bằng các lợi ích trong xã hội, cụ thể là bảo đảm  
nguyên tắc cân bằng lợi ích giữa cá nhân (chủ sở hữu) với cộng đồng (xã  
hội) để tạo động lực thúc đẩy phát triển hoạt động nghiên cứu sáng tạo,  
sản xuất, kinh doanh, hướng tới mục tiêu nâng cao đời sống vật chất và  
tinh thần cho quảng đại công chúng và toàn xã hội.  
Vì lẽ đó, chủ sở hữu quyền SHTT có thể bị giới hạn quyền (hạn chế  
quyền) một cách hợp lý, ở một số phạm vi, phạm trù nhất định theo quy  
định của pháp luật. Cụ thể là:  
- Giới hạn về không gian (lãnh thổ) được bảo hộ (chủ thể quyền chỉ  
được thực hiện quyền của mình trong phạm vi lãnh thổ nhất định theo  
quy định của luật quốc gia hoặc các Điều ước quốc tế mà quốc gia đó là  
thành viên);  
- Giới hạn về thời hạn được bảo hộ (về nguyên tắc, quyền SHTT  
được bảo hộ có thời hạn; sau thời hạn bảo hộ, toàn xã hội có thể tiếp cận,  
khai thác, sử dụng, ứng dụng các tài sản trí tuệ. Từ đó, thúc đẩy và tạo  
điều kiện cho các hoạt động nghiên cứu sáng tạo khoa học, công nghệ và  
nghệ thuật mới);  
- Giới hạn bởi quyền hoặc lợi ích chính đáng của người khác  
(quyền của người sử dụng trước đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp;  
quyền sao chép, trích dẫn hợp lý tác phẩm cho mục đích nghiên cứu,  
giảng dạy…);  
- Giới hạn bởi lợi ích của cộng đồng (một số đối tượng SHTT  
không được bảo hộ nếu trái với lợi ích và trật tự xã hội, vi phạm nguyên  
tắc nhân đạo hoặc phương hại cho quốc phòng, an ninh quốc gia; chủ sở  
hữu có thể bị buộc phải chuyển quyền sử dụng đối tượng SHCN - li xăng  
không tự nguyện - để đáp ứng các nhu cầu cấp thiết của xã hội, cộng đồng);  
7
- Giới hạn bởi các nghĩa vụ mà chủ sở hữu phải thực hiện (nghĩa vụ  
nộp lệ phí duy trì hiệu lực của văn bằng bảo hộ tài sản trí tuệ).  
Điều 7 Luật SHTT 2005 đã xác định ba nguyên tắc cơ bản về giới  
hạn quyền SHTT như sau:  
Nguyên tắc thứ nhất: Chủ thể quyền SHTT chỉ được thực hiện  
quyền của mình trong phạm vi và thời hạn bảo hộ theo quy định của luật.  
Nguyên tắc thứ hai: Việc thực hiện quyền SHTT không được xâm  
phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp  
của tổ chức, cá nhân khác và không được vi phạm các quy định khác của  
pháp luật có liên quan.  
Nguyên tắc thứ ba: Trong trường hợp nhằm bảo đảm mục tiêu quốc  
phòng, an ninh, dân sinh và các lợi ích khác của Nhà nước, xã hội, Nhà  
nước có quyền cấm hoặc hạn chế chủ thể quyền SHTT thực hiện quyền  
của mình hoặc buộc chủ thể quyền phải cho phép tổ chức, cá nhân khác  
sử dụng một hoặc một số quyền của mình với những điều kiện phù hợp.  
1.1.3. Bản chất của quyền sở hữu trí tuệ  
Quyền SHTT là quyền đối với kết quả của hoạt động sáng tạo trong  
các lĩnh vực khoa học - kỹ thuật, văn học - nghệ thuật và kinh doanh -  
thương mại. Tính phi vật thể của các đối tượng quyền SHTT, tính chất  
lãnh thổ của quyền SHTT, tính độc quyền của quyền sử dụng các đối  
tượng SHTT và một số tính chất đặc thù khác như đã nêu ở phần trên có  
liên quan mật thiết tới các vấn đề thuộc về bản chất của quyền SHTT như  
phân tích dưới đây.  
1.1.3.1. Quyền Sở hữu trí tuệ mang bản chất của quyền tài sản, đồng thời  
có sự kết hợp giữa quyền tài sản và quyền nhân thân  
- Trước hết, cần nhận thức rõ rằng, bản chất của quyền SHTT là  
các quyền tài sản đối với thành quả của hoạt động sáng tạo dưới dạng các  
tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; các sáng chế/giải pháp hữu ích,  
kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, giống cây  
trồng;... Về nguyên tắc, đây là các quyền được bảo hộ có thời hạn và có  
thể chuyển giao cho cá nhân, tổ chức khác; tổ chức, cá nhân khi khai  
8
thác, sử dụng các quyền tài sản này phải xin phép và trả tiền thù lao hoặc  
các quyền lợi vật chất khác cho chủ sở hữu quyền theo quy định của pháp  
luật.  
Quyền SHTT là một loại tài sản được pháp luật công nhận và bảo  
vệ. Cụ thể hơn, đó là một loại quyền tài sản của cá nhân, pháp nhân và  
các chủ thể khác, được Nhà nước công nhận và bảo hộ theo quy định của  
pháp luật dân sự và pháp luật chuyên ngành về SHTT. Theo Bộ luật Dân  
sự 2015 (Điều 105), “tài sản” được hiểu bao gồm “vật, tiền, giấy tờ có  
giá và các quyền tài sản”; đồng thời, Điều 115 khẳng định “Quyền tài sản  
là quyền trị giá được bằng tiền bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng  
quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác. Với tư  
cách là một đạo luật chuyên ngành, Luật SHTT 2005 tiến thêm một bước  
lớn nữa trong việc tiếp cận với quan niệm tiến bộ đã được thế giới hiện  
đại thừa nhận rộng rãi, đó là việc chính thức thừa nhận sự tồn tại của một  
loại tài sản đặc biệt “tài sản trí tuệ” và tuyên bố “Quyền SHTT là quyền  
của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ” (Điều 4).  
Trong lĩnh vực quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả,  
trên cơ sở tác phẩm, công trình đã được sáng tạo, quyền tài sản được xác  
lập khi tác giả công bố tác phẩm, công trình đó. Đối với chủ sở hữu  
quyền, quyền tài sản phát sinh trong quá trình khai thác, sử dụng, chuyển  
giao quyền tác giả hoặc quyền liên quan.  
Trong lĩnh vực quyền SHCN và quyền đối với giống cây trồng,  
quyền tài sản của chủ sở hữu phát sinh trong quá trình sử dụng, khai thác  
thương mại các đối tượng SHCN và giống cây trồng phục vụ hoạt động  
sản xuất, kinh doanh và các nhu cầu của cuộc sống.  
- Bên cạnh các quyền tài sản, quyền SHTT cũng mang tính chất  
nhân thân. Các quyền nhân thân thực chất là các quyền tinh thần gắn bó  
mật thiết và không thể tách rời với chính bản thân các tác giả là những  
người trực tiếp sáng tạo ra các sản phẩm trí tuệ. Quyền nhân thân được  
bảo hộ vô thời hạn và trong một số trường hợp là không thể chuyển giao.  
Các quyền nhân thân được hình thành trên cơ sở hoạt động sáng tạo  
của tác giả và được xác định, tồn tại bởi nhân thân của chính tác giả như  
đứng tên tác giả trên tác phẩm hoặc văn bằng bảo hộ (quyền được công  
9
nhận là tác giả), đặt tên cho tác phẩm, được giới thiệu tên khi biểu diễn,  
khi phát hành bản ghi âm, ghi hình, phát sóng cuộc biểu diễn... Chính vì  
lý do đó, các quyền này về nguyên tắc không thể chuyển giao và tồn tại  
trong suốt thời gian tác giả sống. Khi tác giả mất, không còn chủ thể  
quyền nên các quyền nhân thân dưới góc độ là quyền chủ thể của tác giả  
cũng chấm dứt. Khi đó, quyền nhân thân của tác giả tồn tại như một sự  
kiện pháp lý được xác định và bảo vệ bởi pháp luật phù hợp với lợi ích  
của xã hội. Tuy nhiên, trong các quyền nhân thân, có một số quyền do  
nội dung pháp lý của mình hoặc do yêu cầu tiếp tục bảo vệ có hiệu quả  
quyền tác giả kể cả sau khi tác giả đã mất vẫn có thể được chuyển giao,  
như quyền công bố tác phẩm, quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm.  
Đây cũng là ví dụ điển hình về sự kết hợp giữa tính chất tài sản và nhân  
thân phi tài sản của quyền SHTT.  
Trong lĩnh vực quyền tác giả, các quyền nhân thân được xác định  
cụ thể tại Điều 19 Luật SHTT bao gồm: quyền đặt tên cho tác phẩm;  
quyền đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm, được nêu tên thật hoặc  
bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng; quyền công bố tác phẩm  
hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm; quyền bảo vệ sự toàn vẹn  
của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc  
tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy  
tín của tác giả.  
Trong lĩnh vực quyền SHCN và giống cây trồng, quyền nhân thân  
thuộc về các tác giả trực tiếp tạo ra sáng chế, kiểu dáng công nghiệp,  
thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, giống cây trồng. Ví dụ, quyền đứng  
tên trong các văn bằng bảo hộ, quyền được nêu tên trong các tài liệu công  
bố, giới thiệu...  
Tùy thuộc vào từng quan hệ mà chủ thể quyền SHTT tham gia,  
quyền SHTT có thể là các quyền thuần tuý mang tính tài sản, mang tính  
nhân thân phi tài sản hoặc kết hợp cả hai.  
1.1.3.2. Quyền Sở hữu trí tuệ mang bản chất độc quyền và có tính phủ  
định (essentially negative)  
Quyền SHTT vận hành chủ yếu dưới dạng một quyền độc quyền  
trong các thị trường thương mại tự do, đồng thời mang bản chất phủ định  
10  
(essentially negative): đó là các quyền ngăn cấm người khác thực hiện  
các hành vi nhất định (ví dụ, ngăn cấm hành vi sao chép lậu, làm hàng  
giả, hàng nhái,...) và thậm chí trong một số trường hợp ngăn cấm các bên  
thứ ba, các bên có các ý tưởng sáng tạo tương tự một cách độc lập, không  
được khai thác các ý tưởng đó mà không được phép của chủ sở hữu quyền.  
Bên cạnh đó, cũng có một vài khía cạnh của quyền SHTT là các  
quyền mang tính chất khẳng định (positive entitlements), ví như quyền  
được cấp văn bằng bảo hộ độc quyền hoặc quyền được đăng ký nhãn  
hiệu khi đáp ứng các điều kiện luật định. Tuy nhiên, các quyền này chỉ  
mang tính chất phụ mà không phải là các quyền cơ bản.  
Quan niệm về chế định quyền SHTT trao quyền cho chủ sở hữu  
kiểm soát hành vi của người khác có nhiều ngụ ý mà trên thực tế thường  
được hiểu một cách không đầy đủ. Bằng độc quyền được cấp không phải  
là điều kiện tiên quyết hay “tấm thẻ bài” để chủ sở hữu được quyền tự do  
không đếm xỉa đến các quyền của người khác (kể cả các quyền SHTT  
của họ) hay được phép vượt quá giới hạn của các nghĩa vụ công (việc  
đăng ký nhãn hiệu tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền không biện hộ  
được cho hành vi sử dụng nhãn hiệu vào việc quảng cáo các sản phẩm  
lậu). Quyền SHTT cũng không mang lại cho chủ sở hữu bất kỳ vị trí đặc  
quyền nào trong thương mại quốc tế hoặc các quyền miễn trừ đối với các  
quy định cấm mà một quốc gia có thể áp dụng (một tác phẩm điện ảnh đã  
đăng ký quyền tác giả không có nghĩa là được nằm ngoài đối tượng bị  
hạn chế phát sóng khi vi phạm thuần phong mỹ tục quốc gia). Đây là các  
vấn đề còn gây nhiều tranh luận và có thể có các cách tiếp cận khác mới  
hơn; tuy nhiên, khi đó các quan niệm nền tảng về vai trò và mục đích của  
quyền SHTT cũng sẽ bị thay đổi với các hệ lụy khó có thể lường trước  
được2.  
1.2. Các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ  
Dưới góc độ lý luận, nếu như đối tượng điều chỉnh của pháp luật  
SHTT là các quan hệ phát sinh giữa các chủ thể trong quá trình sáng tạo,  
khai thác, sử dụng các tài sản trí tuệ, thì nhìn nhận sâu hơn, đối tượng của  
2
William Cornish, David Llewelyn, Intellectual Property: Petents, Copyright, Trade  
Marks, and Allied Rights, Sweet & Maxwell, London, 2003, tr. 6.  
11  
loại quan hệ pháp luật này chính là các tài sản trí tuệ. Nếu quan niệm  
khách thể của quan hệ pháp luật là các hành vi của cá nhân, tổ chức khi  
tham gia vào quan hệ pháp luật, thực hiện quyền chủ thể và nghĩa vụ  
pháp lý thì trong lĩnh vực SHTT, có thể coi tài sản trí tuệ chính là khách  
thể của khách thể quan hệ pháp luật về SHTT.  
1.2.1. Quan niệm chung  
Theo thông lệ quốc tế và các Điều ước quốc tế về SHTT, trực tiếp  
là Công ước WIPO và Hiệp định TRIPS, các đối tượng SHTT có thể  
được hiểu bao gồm: các tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học; các  
hoạt động của các nghệ sỹ biểu diễn, bản ghi âm, chương trình phát  
thanh, truyền hình; các sáng chế/giải pháp hữu ích, kiểu dáng công  
nghiệp, nhãn hiệu hàng hóa, nhãn hiệu dịch vụ, chỉ dẫn thương mại, tên  
thương mại, giống cây trồng, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, thậm  
chí kể cả bí mật thương mại, thông tin bí mật và sau này là các hình thức  
thể hiện nghệ thuật truyền thống dân gian, chủng vi sinh, chương trình  
máy tính, tên miền Internet. Danh mục các đối tượng SHTT này mang  
tính chất mở, bởi Công ước WIPO quy định mở về quyền SHTT đối với  
tất cả các kết quả khác của hoạt động trí tuệ trong lĩnh vực công nghiệp,  
khoa học, văn học và nghệ thuật. Hơn nữa, trong bối cảnh KH&CN và  
các hoạt động sáng tạo trong đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của thế  
giới hiện đại không ngừng đổi mới và phát triển với tốc độ nhanh chóng,  
sẽ có ngày càng nhiều các đối tượng SHTT mới được thừa nhận và bảo  
hộ trong tương lai, bên cạnh các đối tượng SHTT truyền thống đã có lịch  
sử hàng trăm năm tồn tại.  
Pháp luật Việt Nam về SHTT đã có sự kế thừa và điều chỉnh cho  
phù hợp với thông lệ quốc tế và các Điều ước quốc tế về SHTT mà Việt  
Nam là thành viên. Do vậy, đã xác định tương đối đầy đủ danh mục các  
đối tượng SHTT được pháp luật thừa nhận và bảo hộ. Theo Điều 3 Luật  
SHTT 2005, các đối tượng quyền SHTT bao gồm đối tượng quyền tác  
giả và quyền liên quan đến quyền tác giả; đối tượng quyền SHCN và đối  
tượng quyền đối với giống cây trồng.  
- Đối tượng quyền tác giả bao gồm: mọi sản phẩm sáng tạo trong  
các lĩnh vực văn học, nghệ thuật, khoa học được thể hiện dưới bất kỳ  
12  
hình thức và bằng bất kỳ phương tiện nào, không phân biệt nội dung, giá  
trị và không phụ thuộc vào bất kỳ thủ tục nào. Cụ thể là: các tác phẩm  
văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo trình và tác phẩm khác được thể  
hiện dưới dạng chữ viết hoặc ký tự khác; các bài giảng, bài phát biểu và  
bài nói khác; tác phẩm báo chí; tác phẩm âm nhạc; tác phẩm sân khấu;  
tác phẩm điện ảnh và tác phẩm được tạo ra theo phương pháp tương tự;  
tác phẩm tạo hình, mỹ thuật ứng dụng; tác phẩm nhiếp ảnh; tác phẩm  
kiến trúc; bản họa đồ, sơ đồ, bản đồ, bản vẽ liên quan đến địa hình, công  
trình khoa học; tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian; chương trình máy  
tính, sưu tập dữ liệu.  
Danh mục loại trừ của các đối tượng này bao gồm: các tin tức thời  
sự thuần tuý đưa tin; văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính,  
văn bản khác thuộc lĩnh vực tư pháp và bản dịch chính thức của văn bản  
đó; quy trình, hệ thống, phương pháp hoạt động, khái niệm, nguyên lý, số  
liệu.  
- Đối tượng quyền liên quan đến quyền tác giả bao gồm: cuộc biểu  
diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang  
chương trình được mã hóa.  
- Đối tượng quyền SHCN bao gồm: sáng chế/giải pháp hữu ích,  
kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu,  
tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh.  
- Đối tượng quyền đối với giống cây trồng bao gồm: giống cây  
trồng và vật liệu nhân giống. Tuy nhiên, theo Luật Sửa đổi, bổ sung một  
số điều của Luật SHTT vừa mới được Quốc hội khóa XII thông qua tại  
Kỳ họp thứ 5, đối tượng quyền đối với giống cây trồng bao gồm cả các  
“vật liệu nhân giống và vật liệu thu hoạch”.  
1.2.2. Đặc điểm của đối tượng sở hữu trí tuệ  
1.2.2.1. Đặc điểm chung  
- Đặc tính sáng tạo và đổi mới: SHTT là việc vận dụng tư duy  
tưởng tượng và sáng tạo của trí tuệ con người để giải quyết các vấn đề về  
kỹ thuật và nghệ thuật. Các đối tượng SHTT dù trong lĩnh vực nào đều là  
kết quả của hoạt động sáng tạo và đổi mới, được tạo ra dựa trên nền tảng  
13  
tri thức và thông tin đã được kết tụ, tích luỹ. Sáng tạo là động lực thúc  
đẩy đổi mới và ngược lại, đó là chìa khóa tạo nên những tiến bộ vượt bậc  
trong các lĩnh vực KH&CN và nghệ thuật, thúc đẩy kinh tế - xã hội phát  
triển và làm giàu thêm kho tàng của cải, vật chất và tinh thần của nhân  
loại.  
- Đặc tính vô hình: Một vấn đề cần hết sức lưu ý khi tìm hiểu về  
các đối tượng SHTT, đó là đặc tính vô hình, hay nói cách khác là đặc  
tính phi vật thể của các đối tượng quyền SHTT.  
Các đối tượng SHTT khác với các vật thể, tài sản hữu hình ở chỗ  
chúng không có bản chất vật lý (không thể nhận biết sự tồn tại của chúng  
nhờ các giác quan) và tồn tại dưới dạng các thông tin, tri thức chứa đựng  
nhận thức về tự nhiên, xã hội và con người (các hiện tượng, trạng thái,  
quy luật,…). Đặc tính vô hình của các đối tượng SHTT là yếu tố đặc biệt  
quan trọng cần xem xét khi thiết kế các quy tắc ứng xử, bởi đây cũng là  
yếu tố gây khó khăn cho việc thiết lập chế độ kiểm soát và thực hiện biện  
pháp bảo vệ các đối tượng này.  
Một điểm cần lưu ý khác là các đối tượng SHTT tuy vô hình khi  
mới được tạo ra nhưng trở nên rất có giá trị dưới dạng sản phẩm hữu  
hình. Tuy vô hình, nhưng các đối tượng này cũng mang đặc tính xác định  
được (về bản chất - nội dung, phạm vi - giới hạn, chức năng, công dụng  
và kể cả về giá trị). Nhờ vậy, mỗi loại đối tượng SHTT đều có thể độc  
lập tồn tại và phân biệt được với các đối tượng khác dưới một hình thức  
vật chất nhất định thông qua các phương tiện như ngôn ngữ, hình vẽ, ảnh  
chụp,… tùy theo từng thể loại. Tuy nhiên, SHTT không phải là bản thân  
sản phẩm mà là ý tưởng đặc biệt chứa đựng đằng sau sản phẩm, là cách  
thức thể hiện ý tưởng đó và là cách thức riêng mà sản phẩm được gọi tên  
và mô tả3.  
- Đặc tính dễ bị xâm phạm: Các đối tượng SHTT do đặc thù phi vật  
thể, dễ lan truyền và khó nắm giữ ở một địa điểm nhất định như các tài  
sản hữu hình nên rất dễ bị xâm phạm (bị sao chép, bắt chước); đồng thời,  
các hành vi xâm phạm các đối tượng SHTT cũng khó có thể xác định,  
đánh giá và kiểm soát (như bị làm giả, làm nhái với các kỹ thuật tinh vi,  
3 Kamil Idris: SHTT, một công cụ đắc lực để phát triển kinh tế. WIPO 2005. Trang 8.  
14  
hiện đại). Do vậy, việc thiết lập hệ thống bảo vệ quyền SHTT, ngăn ngừa  
và đấu tranh chống các hành vi xâm phạm quyền đang trở thành mối  
quan tâm và nỗ lực chung của các quốc gia trên thế giới.  
- Cơ chế bảo hộ các đối tượng SHTT mang tính đặc thù: Việc bảo  
hộ các đối tượng SHTT phụ thuộc vào nhiều yếu tố như thời hạn bảo hộ  
(theo pháp luật quy định), lãnh thổ bảo hộ (chỉ được bảo hộ trong phạm  
vi lãnh thổ của quốc gia hoặc nhóm quốc gia công nhận hay cấp văn bằng  
bảo hộ). Ngoài ra, mức độ bảo hộ đối với các đối tượng SHTT còn phụ  
thuộc vào chính sách riêng của từng quốc gia trong phát triển kinh tế  
thương mại trong nước và quốc tế.  
Bên cạnh đó, các quyền đối với các đối tượng SHTT có thể bị giới  
hạn trong một số trường hợp ngoại lệ do pháp luật quy định (như đã nêu  
ở Phần I trên đây).  
1.2.2.2. Đặc điểm phân biệt giữa các nhóm đối tượng quyền SHTT  
Ở đây, cần phân biệt được sự khác nhau cơ bản giữa cơ chế bảo hộ  
các đối tượng của quyền tác giả với các đối tượng của quyền SHCN (kể  
cả giống cây trồng), thể hiện trong bảng sau:  
Đối tượng  
Nội dung  
so sánh  
Quyền tác giả  
Quyền SHCN  
Nguyên tắc chung  
Bảo hộ về hình thức  
Bảo hộ về mặt nội dung  
Công nghệ, thương mại  
Lĩnh vực  
Văn học, nghệ thuật,  
khoa học  
Sáng chế/giải pháp hữu  
ích, kiểu dáng công  
nghiệp, thiết kế bố trí,  
chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu,  
tên thương mại...  
Đối tượng  
bảo hộ  
Tác phẩm  
Thời hạn  
bảo hộ  
Bảo hộ vô thời hạn hoặc  
có thời hạn  
Bảo hộ có thời hạn  
15  
Điều kiện  
bảo hộ  
Tính nguyên gốc, được  
thể hiện dưới hình thức  
vật chất nhất định  
Tính mới, tính sáng tạo,  
tính khác biệt, tính ứng  
dụng  
Thủ tục bảo hộ  
Bảo hộ tự động  
Yêu cầu đăng ký  
1.3. Các chủ thể của quyền sở hữu trí tuệ  
Theo nghĩa rộng dưới góc độ lý luận, chủ thể quyền SHTT có thể  
được hiểu là tổ chức, cá nhân và các chủ thể khác tham gia vào quan hệ  
pháp luật về quyền SHTT, thực hiện quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý  
phát sinh trong quá trình sáng tạo, khai thác, sử dụng các tài sản trí tuệ  
trên cơ sở quy định của pháp luật về SHTT, được bảo vệ bởi sự cưỡng  
chế của Nhà nước.  
Các chủ thể trong quan hệ pháp luật về quyền SHTT được bảo đảm  
bình đẳng về địa vị pháp lý và quyền tự định đoạt của chủ thể4. Quyền  
bình đẳng của các chủ thể được thể hiện không có sự phân biệt về độ  
tuổi, giới tính, mức độ năng lực hành vi; không phụ thuộc vào địa vị xã  
hội và trình độ học vấn, mọi cá nhân đều có thể là chủ sở hữu các sản  
phẩm trí tuệ, có các quyền và nghĩa vụ như nhau khi tạo ra hoặc được  
chuyển giao các sản phẩm là đối tượng của quyền SHTT. Quyền tự định  
đoạt của chủ thể được thể hiện trong việc sáng tạo, công bố hay không  
công bố tác phẩm, công trình; quyền nộp đơn hay không nộp đơn yêu cầu  
cấp văn bằng bảo hộ; khởi kiện hay không khởi kiện khi quyền SHTT bị  
xâm phạm; để lại thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật... Tuy nhiên,  
để bảo đảm nguyên tắc cân bằng lợi ích của người sáng tạo và chủ thể  
khai thác, sử dụng sản phẩm trí tuệ, quyền tự định đoạt của chủ thể quyền  
cũng bị hạn chế theo các nguyên tắc giới hạn quyền như đã nêu ở Phần I  
Chương này.  
Theo nghĩa hẹp, Điều 4 Luật SHTT 2005 xác định chủ thể quyền  
SHTT là “chủ sở hữu quyền SHTT hoặc tổ chức, cá nhân được chủ sở  
hữu chuyển giao quyền SHTT”.  
4 Giáo trình Luật SHTT, Trường Đại học Luật Hà Nội; các trang 15, 16.  
16  
1.3.1. Chủ thể quyền tác giả  
1.3.1.1 Tác giả  
Tác giả là chủ thể quan trọng nhất của quyền tác giả. Đây là khái  
niệm cơ sở cho sự hình thành các quan hệ về quyền tác giả cũng như cho  
việc xây dựng chế định quyền tác giả và quyền liên quan.  
Khái niệm tác giả luôn gắn liền với tác phẩm cụ thể bởi tác giả chỉ  
có khi đã hình thành nên tác phẩm. Tác phẩm là kết tinh của quá trình lao  
động sáng tạo của chính tác giả. Sự đóng góp trí tuệ của tác giả vào việc  
tạo nên tác phẩm quyết định bản chất của chủ thể này, và do đó, tác giả  
chỉ có thể là các cá nhân cụ thể mà không thể là tổ chức. Trong pháp luật  
Việt Nam, khái niệm tác giả được thể hiện rõ nhất tại quy định của Điều  
736 Bộ luật Dân sự 2005: “Người sáng tạo tác phẩm văn học, nghệ thuật,  
khoa học và tác giả của tác phẩm đó”. Luật SHTT 2005 không đưa ra  
quy định trực tiếp mà chỉ có một số quy định mang tính "ngụ ý" về  
những người được coi là tác giả, do vậy chúng ta cần ngầm hiểu rằng, tác  
giả là “người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm” (Điều 13) và “tác giả sử  
dụng thời gian, tài chính, cơ sở vật chất - kỹ thuật của mình để sáng tạo  
ra tác phẩm” (Điều 37).  
Tác giả có các quyền nhân thân (đặt tên cho tác phẩm; đứng tên  
thật hoặc bút danh trên tác phẩm; công bố tác phẩm; bảo vệ sự toàn vẹn  
của tác phẩm) và các quyền tài sản đối với tác phẩm (làm tác phẩm phái  
sinh; biểu diễn, truyền đạt tác phẩm; sao chép tác phẩm; phân phối, nhập  
khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm; cho thuê tác phẩm; hưởng nhuận  
bút, thù lao và quyền lợi vật chất khi tác phẩm được khai thác, sử dụng  
bởi các tổ chức, cá nhân khác).  
1.3.1.2. Chủ sở hữu quyền tác giả  
Khái niệm "chủ sở hữu quyền tác giả" được quy định trực tiếp và  
khá cụ thể trong Luật SHTT 2005. Điều 36 của Luật xác định chủ sở hữu  
quyền tác giả là tổ chức, cá nhân nắm giữ một, một số hoặc toàn bộ các  
quyền tài sản đối với tác phẩm.  
Chủ sở hữu quyền tác giả có thể là tác giả, các đồng tác giả, tổ  
chức, cá nhân giao nhiệm vụ cho tác giả hoặc giao kết hợp đồng với tác  
17  
giả, người thừa kế, người được chuyển giao quyền theo hợp đồng hoặc  
trong một số trường hợp có thể là Nhà nước.  
Về nguyên tắc, chủ sở hữu quyền tác giả chỉ có các quyền tài sản  
đối với tác phẩm.  
1.3.2. Chủ thể quyền liên quan đến quyền tác giả  
Chủ thể quyền liên quan đến quyền tác giả bao gồm người biểu  
diễn (diễn viên, ca sĩ, nhạc công, vũ công và những người khác trình bày  
tác phẩm văn học, nghệ thuật); chủ sở hữu cuộc biểu diễn; nhà sản xuất  
bản ghi âm, ghi hình (tổ chức, cá nhân định hình lần đầu âm thanh, hình ảnh)  
và các tổ chức phát sóng (tổ chức khởi xướng và thực hiện việc phát sóng).  
Chủ sở hữu quyền liên quan, theo Luật SHTT 2005 - Điều 44, được  
xác định như sau:  
- Chủ sở hữu đối với cuộc biểu diễn là tổ chức, cá nhân sử dụng  
thời gian, đầu tư tài chính và cơ sở vật chất - kỹ thuật của mình để thực  
hiện cuộc biểu diễn.  
- Chủ sở hữu đối với bản ghi âm, ghi hình là tổ chức, cá nhân sử  
dụng thời gian, đầu tư tài chính và cơ sở vật chất - kỹ thuật của mình để  
sản xuất bản ghi âm, ghi hình.  
- Chủ sở hữu chương trình phát sóng là tổ chức phát sóng.  
Về nguyên tắc, quyền của người biểu diễn bao gồm quyền nhân  
thân và quyền tài sản. Chủ sở hữu quyền liên quan chỉ có các quyền tài  
sản đối với các đối tượng của quyền liên quan.  
1.3.3. Chủ thể quyền sở hữu công nghiệp  
1.3.3.1. Tác giả  
Trong lĩnh vực SHCN, tác giả là người trực tiếp sáng tạo ra các đối  
tượng SHCN. Tuy nhiên, không phải mọi đối tượng SHCN đều có tác  
giả. Vấn đề xác định tác giả không đặt ra đối với một số đối tượng SHCN  
như nhãn hiệu, tên thương mại, bí mật kinh doanh mà chỉ áp dụng đối với  
sáng chế/giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch  
tích hợp bán dẫn là các đối tượng có tính sáng tạo (để được bảo hộ phải  
thoả mãn tính sáng tạo).  
18  
Tác giả sáng chế/giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế  
bố trí mạch tích hợp có một số quyền nhân thân (như được ghi tên là tác  
giả trong văn bằng bảo hộ; được nêu tên trong các tài liệu công bố, giới  
thiệu về đối tượng SHCN) và quyền tài sản (quyền nhận thù lao do sử  
dụng, khai thác, chuyển giao đối tượng SHCN). Quyền tài sản này tồn tại  
trong suốt thời hạn bảo hộ của sáng chế/giải pháp hữu ích, kiểu dáng  
công nghiệp, thiết kế bố trí.  
1.3.3.2. Chủ sở hữu quyền  
Chủ sở hữu quyền SHCN có thể đồng thời là tác giả hoặc không  
phải là tác giả tạo ra các đối tượng SHCN. Luật SHTT 2005 (Điều 121)  
xác định cụ thể chủ sở hữu đối với từng đối tượng SHCN như sau:  
- Chủ sở hữu sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí là tổ  
chức, cá nhân được cơ quan có thẩm quyền cấp văn bằng bảo hộ các đối  
tượng SHCN tương ứng.  
- Chủ sở hữu nhãn hiệu là tổ chức, cá nhân được cơ quan có thẩm  
quyền cấp văn bằng bảo hộ nhãn hiệu hoặc có nhãn hiệu đã được đăng ký  
quốc tế được cơ quan có thẩm quyền công nhận hoặc có nhãn hiệu nổi tiếng.  
- Chủ sở hữu tên thương mại là tổ chức, cá nhân sử dụng hợp pháp  
tên thương mại đó trong hoạt động kinh doanh.  
- Chủ sở hữu bí mật kinh doanh là tổ chức, cá nhân có được bí mật  
kinh doanh một cách hợp pháp và thực hiện việc bảo mật bí mật kinh  
doanh đó. Bí mật kinh doanh mà bên làm thuê, bên thực hiện nhiệm vụ  
được giao có được trong khi thực hiện công việc được thuê hoặc được  
giao thuộc quyền sở hữu của bên thuê hoặc bên giao việc, trừ trường hợp  
các bên có thỏa thuận khác.  
- Chủ sở hữu chỉ dẫn địa lý của Việt Nam là Nhà nước. Nhà nước  
trao quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý cho tổ chức, cá nhân tiến hành việc sản  
xuất sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý tại địa phương tương ứng và đưa sản  
phẩm đó ra thị trường. Nhà nước trực tiếp thực hiện quyền quản lý chỉ  
dẫn địa lý hoặc trao quyền quản lý chỉ dẫn địa lý cho tổ chức đại diện  
quyền lợi của tất cả các tổ chức, cá nhân được trao quyền sử dụng chỉ  
dẫn địa lý.  
19  
Các chủ sở hữu quyền SHCN có các quyền tài sản như sử dụng,  
cho phép hoặc ngăn cấm người khác sử dụng đối tượng SHCN, định đoạt  
đối tượng SHCN.  
1.3.4. Chủ thể quyền đối với giống cây trồng  
1.3.4.1. Tác giả  
Tác giả giống cây trồng là người trực tiếp nghiên cứu chọn tạo  
hoặc phát hiện và phát triển giống cây trồng. Tương tự như tác giả các  
đối tượng SHCN, tác giả giống cây trồng có một số quyền nhân thân và  
quyền tài sản như: quyền đứng tên trong văn bằng bảo hộ, quyền được  
ghi tên trong Sổ đăng ký quốc gia về giống cây trồng và trong các tài liệu  
công bố, quyền nhận thù lao khi giống cây trồng được ứng dụng, thương  
mại hóa.  
1.3.4.2. Chủ sở hữu quyền  
Tương tự như trong lĩnh vực SHCN, chủ sở hữu quyền đối với  
giống cây trồng có thể đồng thời hoặc không đồng thời là tác giả giống  
cây trồng. Điều 157 Luật SHTT 2005 không có điều khoản trực tiếp xác  
định rõ chủ sở hữu quyền đối với giống cây trồng mà chỉ gián tiếp quy  
định như sau:  
Tổ chức, cá nhân được bảo hộ quyền đối với giống cây trồng là tổ  
chức, cá nhân chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển giống cây trồng hoặc  
đầu tư cho công tác chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển giống cây trồng  
hoặc được chuyển giao quyền đối với giống cây trồng.  
Các tổ chức, cá nhân nêu trên có thể bao gồm tổ chức, cá nhân Việt  
Nam; tổ chức, cá nhân nước ngoài thuộc nước có ký kết với Việt Nam  
thỏa thuận về bảo hộ giống cây trồng; tổ chức, cá nhân nước ngoài có địa  
chỉ thường trú tại Việt Nam hoặc có cơ sở sản xuất, kinh doanh giống cây  
trồng tại Việt Nam.  
Chủ sở hữu quyền đối với giống cây trồng (hay “chủ bằng bảo hộ”  
theo cách dùng từ của Luật SHTT 2005) có các quyền tài sản như sử  
dụng, cho phép hoặc ngăn cấm người khác sử dụng giống cây trồng; để  
thừa kế, kế thừa quyền đối với giống cây trồng và chuyển giao quyền.  
20  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 339 trang myanh 24180 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Sở hữu trí tuệ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_so_huu_tri_tue.pdf