Bài giảng Thanh toán quốc tế - Phan Thị Minh Lý

BÀI GIẢNG  
THANH TOÁN QUỐC TẾ  
Giảng viên: TS. Phan Thị Minh Lý  
Khoa Kế toán - Tài chính  
Trường Đại học Kinh tế - Đại học Huế  
Thời lượng: 45 tiết  
Huế, tháng 8 năm 2006  
MỞ ĐẦU  
Thanh toán quốc tế là một trong những học phần bổ trợ thuộc nội dung đào tạo cử nhân  
kinh tế, kế toán, kiểm toán và tài chính-ngân hàng của Trường Đại học Kinh tế, Đại học Huế. Nó  
cung cấp những kiến thức mang tính chất bổ sung cho kiến thức chuyên ngành đề cập đến những  
khía cạnh chủ yếu có liên quan đến thanh toán quốc tế bao gồm hối đoái và các nghiệp vụ hối  
đoái, các phương tiện thanh toán quốc tế, các phương thức thanh toán quốc tế và các điều kiện  
thanh toán quốc tế.  
Tập bài giảng Thanh toán quốc tế này được biên soạn nhằm phục vụ cho việc học tập và  
nghiên cứu của sinh viên Trường Đại học Kinh tế, Đại học Huế. Ngoài ra, tác giả hy vọng nó sẽ  
là tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm đến lĩnh vực thanh toán quốc tế.  
Tuy nhiên, do trình độ có hạn, tài liệu này chắc chắn không tránh khỏi thiếu sót, tác giả  
rất mong nhận được những ý kiến đóng góp, bổ sung của bạn đọc.  
Tháng 8 năm 2006  
Phan Thị Minh Lý  
Khoa Kế toán - Tài chính  
Trường Đại học Kinh tế - Đại học Huế  
2
Chương 1  
Giới thiệu tổng quát về môn học Thanh toán quốc tế  
(2 tiết)  
Mục tiêu của chương  
Trình bày khái niệm, đặc điểm và vai trò của thanh toán quốc tế trong nền kinh tế cũng như  
hiểu một cách tổng quát các nội dung chủ yếu liên quan cần nghiên cứu trong môn học Thanh  
toán quốc tế, từ đó giúp cho người học có cái nhìn khái quát về môn học này.  
1.1. Khái niệm và đặc điểm của Thanh toán quốc tế  
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu như hiện nay, các mối quan hệ kinh tế, chính trị  
thương mại ngày càng phát triển mạnh mẽ và kết quả là hình thành nên các khoản thu và chi tiền  
tệ quốc tế giữa các đối tác ở các nước khác nhau. Các mối quan hệ tiền tệ này ngày một phong  
phú, đa dạng với quy mô ngày càng lớn. Chúng góp phần tạo nên tình trạng tài chính của mỗi  
nước, có thể ở trạng thái bội thu hay bội chi. Trong các mối quan hệ quốc tế, các đối tác ở các  
nước khác nhau, do vậy có sự khác nhau về ngôn ngữ, cách xa nhau về địa lý nên việc thanh toán  
không thể tiến hành trực tiếp với nhau mà phải thông qua các tổ chức trung gian, đó chính là các  
ngân hàng thương mại cùng với mạng lưới hoạt động khắp nơi trên thế giới.  
Thanh toán quốc tế đã ra đời từ lâu, nhưng nó mới chỉ phát triển mạnh mẽ vào cuối thế kỷ  
20 khi mà khối lượng mua bán, đầu tư quốc tế và chuyển tiền quốc tế ngày càng gia tăng, từ đó  
làm cho khối lượng các giao dịch thanh toán qua ngân hàng cũng tăng theo. Việc thanh toán qua  
ngân hàng làm gia tăng việc sử dụng đồng tiền của các nước để chi trả lẫn nhau. Thanh toán quốc  
tế đã trở thành một bộ phận không thể thiếu trong hoạt động của nền kinh tế của các quốc gia  
hiện nay.  
Thanh toán quốc tế có thể được định nghĩa từ theo nhiều quan điểm khác nhau. Chúng tôi  
chỉ trích dẫn hai định nghĩa của hai tác giả sau đây.  
Thứ nhất, theo Đinh Xuân Trình (1996) thanh toán quốc tế là việc thanh toán các nghiã vụ  
tiền tệ phát sinh có liên quan tới các quan hệ kinh tế, thương mại và các mối quan hệ khác giữa  
các tổ chức, các công ty và các chủ thể khác nhau của các nước.  
Thứ hai, theo Trầm Thị Xuân Hương (2006), thanh toán quốc tế là quá trình thực hiện các  
khoản thu chi tiền tệ quốc tế thông qua hệ thống ngân hàng trên thế giới nhằm phục vụ cho các  
mối quan hệ trao đổi quốc tế phát sinh giữa các nước với nhau.  
Từ hai định nghĩa trên đây, chúng ta có thể thấy một số đặc điểm của thanh toán quốc tế.  
Trước hết, thanh toán quốc tế diễn ra trên phạm vi toàn cầu, phục vụ các giao dịch thương mại,  
đầu tư, hợp tác quốc tế thông qua mạng lưới ngân hàng thế giới.  
Thanh toán quốc tế khác với thanh toán trong nước là ở đây nó liên quan đến việc trao đổi  
tiền của quốc gia này lấy tiền của quốc gia khác. Vì vậy khi ký kết các hợp đồng mua bán ngoại  
thương các bên phải thỏa thuận với nhau lấy đồng tiền của nước nào là tiền tệ tính toán và thanh  
toán trong hợp đồng, đồng thời phải tính toán thận trọng để lựa chọn các biện pháp phòng chống  
rủi ro khi tỷ giá hối đoái biến động.  
3
Tiền tệ trong thanh toán quốc tế thường không phải là tiền mặt mà nó tồn tại dưới hình thức  
các phương tiện thanh toán như thư chuyển tiền, điện chuyển tiền, hối phiếu, kỳ phiếu v à séc ghi  
bằng ngoại tệ.  
Thanh toán giữa các nước đều được tiến hành thông qua ngân hàng và không dùng tiền  
mặt, nếu có thì chỉ trong những trường hợp riêng biệt. Do vậy thanh toán quốc tế về bản chất  
chính là các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế. Chúng được hình thành và phát triển trên cơ sở các  
hợp đồng ngoại thương và các trao đổi tiền tệ quốc tế.  
Thanh toán quốc tế được thực hiện dựa trên nền tảng pháp luật và tập quán thương mại  
quốc tế, đồng thời nó cũng bị chi phối bởi luật pháp của các quốc gia, bởi các chính sách kinh tế,  
chính sách ngoại thương và chính sách ngoại hối của các quốc gia tham gia trong thanh toán.  
Ví dụ về nghiệp vụ thanh toán quốc tế  
Công ty Xuất nhập khẩu Thừa Thiên - Huế nhập khẩu một lô xe máy 100 chiếc của Hãng  
Honda, Nhật Bản, sản phẩm mới, nguyên chiếc, trị giá hợp đồng là 100 ngàn đô la Mỹ (USD),  
thanh toán bằng phương thức chuyển tiền. Điều kiện giao hàng CIF cảng Đà Nẵng theo  
Incoterms 2000  
1.2. Vai trò của thanh toán quốc tế trong nền kinh tế  
Trong các mối quan hệ thanh toán quốc tế, ngân hàng đóng vai trò trung gian tiến hành  
thanh toán. Nó giúp cho quá trình thanh toán được tiến hành an toàn, nhanh chóng và thuận lợi  
đồng thời giảm thiểu chi phí cho khách hàng. Với sự uỷ thác của khách hàng, ngân hàng không  
chỉ bảo vệ quyền lợi cho khách hàng trong các giao dịch thanh toán mà còn tư vấn cho họ nhằm  
tạo nên sự tin tưởng, hạn chế rủi ro trong quan hệ thanh toán với các đối tác nước ngoài. Thanh  
toán quốc tế không chỉ làm tăng thu nhập của ngân hàng, mở rộng vốn, đa dạng các dịch vụ mà  
còn nâng cao uy tín của ngân hàng trên thị trường tài chính quốc tế.  
Trong quá trình lưu thông hàng hoá, thanh toán quốc tế là khâu cuối cùng, do vậy nếu  
thanh toán thực hiện nhanh chóng và liên tục, giá trị hàng hoá xuất nhập khẩu được thực hiện sẽ  
có tác dụng thúc đẩy tốc độ thanh toán và giúp các doanh nghiệp thu hồi vốn nhanh. Thông qua  
thanh toán quốc tế còn tạo nên các mối quan hệ tin cậy giữa doanh nghiệp và ngân hàng, từ đó có  
thể tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp được các ngân hàng tài trợ vốn trong trường hợp  
doanh nghiệp thiếu vốn, hỗ trợ về mặt kỹ thuật thanh toán thông qua việc hướng dẫn, tư vấn cho  
doanh nghiệp, hạn chế thấp nhất rủi ro có thể xảy ra trong quá trình thanh toán với các đối tác.  
Thanh toán quốc tế còn có tác dụng khuyến khích các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập  
khẩu gia tăng qui mô hoạt động, tăng khối lượng hàng hoá giao dịch và mở rộng quan hệ giao  
dịch với các nước.  
Về phương diện quản lý của Nhà nước, thanh toán quốc tế giúp tập trung và quản lý  
nguồn ngoại tệ trong nước và sử dụng ngoại tệ một cách hiệu quả, tạo điều kiện thực hiện tốt cơ  
chế quản lý ngoại hối của nhà nước, quản lý hiệu quả các hoạt động xuất nhập khẩu theo chính  
sách ngoại thương đã đề ra.  
1.3. Nội dung nghiên cứu của Thanh toán quốc tế  
4
Với định nghĩa nêu trên, chúng ta thấy thanh toán quốc tế liên quan chặt chẽ đến ngoại hối,  
bởi vì các nước phải sử dụng các đồng tiền của các quốc gia khác nhau, tức là sử dụng ngoại tệ  
cũng như các phương tiện để tiến hành thanh toán giao dịch. Như vậy, một nội dung cần nghiên  
cứu , đó chính là ngoại hối và các khía cạnh liên quan đến ngoại hối như tỷ giá hối đoái, thị  
trường hối đoái và các nghiệp vụ hối đoái cơ bản. Đây chính là nội dung của chương 2.  
Thanh toán quốc tế thực hiện không dùng tiền mặt mà chủ yếu là các phương tiện thanh  
toán quốc tế như hối phiếu, lệnh phiếu hay còn gọi là kỳ phiếu, séc, thẻ thanh toán, do vậy cần  
nghiên cứu về các phương tiện này cũng như các văn bản pháp lý quốc tế điều chỉnh chúng. Đây  
chính là nội dung của chương 3.  
Trên thực tế có nhiều phương thức thanh toán khác nhau mà các bên tham gia thanh toán có  
thể lựa chọn tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố, chẳng hạn như khối lượng giao dịch lớn hay nhỏ, quan  
hệ giữa các bên thanh toán là tin tưởng hay ít tin tưởng, tập quán thương mại của các đối tác  
trong các mối quan hệ thanh toán, phí thanh toán cao hay thấp, tốc độ thanh toán nhanh hay chậm  
v.v. Do vậy cần nghiên cứu để hiểu rõ về các phương thức thanh toán quốc tế và các văn bản  
pháp lý quốc tế liên quan đến các phương thức thanh toán này. Đây chính là nội dung được trình  
bày trong chương 4.  
Thanh toán quốc tế liên quan đến tiền tệ của các nước khác nhau, do vậy nó liên quan đến  
rủi ro do thay đổi tỷ giá, thanh toán quốc tế có thể đ ược tiến hành ở các địa điểm khác nhau, với  
thời gian khác nhau, phương thức khác nhau. Điều này dẫn đến các quyền lợi và nghĩa vụ khác  
nhau của các bên tham gia thanh toán. Nh ững quyền lợi và nghĩa vụ này cần được thương lượng  
và qui định thành các điều khoản trong các hợp đồng thương mại được gọi là các điều kiện trong  
thanh toán. Liên quan đến các điều kiện này có các văn bản pháp lý quốc tế cần phải nghiên cứu  
mới có thể vận dụng tốt các điều kiện một cách tốt nhất cho mỗi bên đối tác. Đây chính là một  
nội dung quan trọng cần được nghiên cứu để tránh những rủi ro có thể xảy ra, đảm bảo quy ền lợi  
cho các bên thanh toán. Nội dung này được trình bày trong chương 5.  
1.4. Tóm tắt chương 1  
Chương 1 giới thiệu về khái niệm thanh toán quốc tế v à những đặc điểm cơ bản của thanh  
toán quốc tế. Giới hạn nghiên cứu của môn học thanh toán quốc tế bao gồm 4 nội dung sau:  
- Hối đoái  
- Các phương tiện thanh toán quốc tế  
- Các phương thức thanh toán quốc tế  
- Các điều kiện trong thanh toán quốc tế  
1.5. Câu hỏi ôn tập chương 1  
1. Trình bày khái niệm và đặc điểm của thanh toán quốc tế. Cho ví dụ minh hoạ.  
2. Trình bày vai trò của thanh toán quốc tế đối với nền kinh tế.  
3. Khi nghiên cứu về thanh toán quốc tế cần lưu ý đến những nội dung nào? Tại sao?  
1.6. Tài liệu tham khảo chương 1  
5
1. Trầm Thị Xuân Hương. 2006. Thanh toán quốc tế. NXB Thống Kê, TP. Hồ Chí Minh.  
2. Đinh Xuân Trình. 1996. Giáo trình thanh toán quốc tế trong ngoại thương. NXB Giáo dục,  
Trường Đại học ngoại thương Hà Nội.  
6
CHƯƠNG 2  
HỐI ĐOÁI  
(11 tiết)  
Mục đích học tập của chương  
Cung cấp cho người học những khái niệm cơ bản về hối đoái, tỷ giá hối đoái, các giao  
dịch hối đoái cơ bản trên thị trường và thực hành một số bài tập ứng dụng. Ngoài ra trong  
chương này còn đề cập một số nét về thị trường ngoại tệ liên ngân hàng ở Việt Nam.  
2.1. Khái niệm về ngoại hối  
Ngoại hối là khái niệm dùng để chỉ các phương tiện có giá trị được dùng để tiến hành  
thanh toán giữa các quốc gia. Tùy theo quan niệm của luật quản lý ngoại hối của mỗi nước,  
khái niệm ngoại hối có thể không giống nhau, nhưng nhìn chung có thể bao gồm 5 loại sau:  
1. Ngoại tệ: (Foreign Currency) tức là tiền của nước khác lưu thông trong một nước.  
Ngoại tệ bao gồm 2 loại: ngoại tệ tiền mặt và ngoại tệ tín dụng.  
2. Các phương tiện thanh toán quốc tế ghi bằng ngoại tệ: thường gồm có:  
a. Hối phiếu (Bill of Exchange)  
b. Kỳ phiếu (Promissory Note)  
c. Séc (Cheque)  
d. Thư chuyển tiền (Mail Transfer)  
e. Điện chuyển tiền (Telegraphic Transfer)  
f. Thẻ tín dụng (Credit card)  
g. Thư tín dụng ngân hàng (Bank Letter of Credit)  
3. Các chứng khoán có giá ghi bằng ngoại tệ như :  
a. Cổ phiếu (Stock)  
b. Trái phiếu công ty (Debenture)  
c. Công trái quốc gia (Government Loan)  
d. Trái phiếu kho bạc (Treasury Bill)  
4. Vàng bạc, kim cương, ngọc trai, đá quý v.v. được dùng làm tiền tệ  
5. Tiền của Việt Nam dưới các hình thức sau đây:  
a. Tiền của Việt Nam ở nước ngoài dưới mọi hình thức khi quay lại Việt Nam  
b. Tiền Việt Nam là lợi nhuận của người đầu tư nước ngoài ở Việt Nam  
c. Tiền Việt Nam có nguồn gốc ngoại tệ khác  
Tất cả các ngoại hối nêu trên được quản lý theo Luật quản lý ngoại hối của nước  
CHXHCN Việt Nam hiện hành.  
2.2. Khái niệm về tỷ giá hối đoái  
Việc thực hiện các nghĩa vụ thanh toán quốc tế đòi hỏi phải so sánh một đồng tiền nước  
này với đồng tiền của nước khác. Khi việc trao đổi mua bán vượt ra khỏi phạm vi một quốc gia  
phải thỏa thuận dùng đồng tiền nước nào để tính và thanh toán hợp đồng. Việc thanh toán này  
có thể sử dụng một trong hai đồng tiền của hai nước nhưng cũng có thể sử dụng một đồng tiền  
thứ ba nào đó, từ đó xuất hiện đòi hỏi phải xem xét, tính toán một đồng tiền nội tệ được bao  
nhiêu đồng ngoại tệ hoặc ngược lại một đồng ngoại tệ được bao nhiêu nội tệ, tức là phải bằng  
cách nào đó chuyển đổi một đơn vị tiền tệ của nước này thành đơn vị tiền tệ của nước khác.  
7
Muốn thực hiện được điều đó, cần phải dựa vào một mức qui đổi xác định. Nói cách khác đó  
chính là phải dựa vào tỷ giá hối đoái. Vậy tỷ giá hối đoái là gì?  
Có nhiều khái niệm về tỷ giá hối đoái mà chúng ta có thể trích dẫn định nghĩa của một số  
tác giả sau đây.  
Theo Samuelson - nhà kinh tế học người Mỹ cho rằng: Tỷ giá hối đoái là tỷ giá để đổi tiền  
của một nước lấy tiền của một nước khác. (Trầm Thị Xuân Hương. 2006)  
Theo Lê Văn Tề (1999) cho rằng: Tỷ giá hối đoái là tỷ giá so sánh đồng tiền giữa các  
nước xét về mặt giá trị.  
Ở mục 5 điều 4 của Nghị định 63/1998/NĐ-CP ngày 17-8-1998 của Chính phủ Về quản lý  
ngoại hối ghi rõ: "Tỷ giá hối đoái là giá của một đơn vị tiền tệ nước ngoài tính bằng đơn vị tiền  
tệ Việt Nam".  
Ví dụ: Một người nhập khẩu ở Việt Nam phải bỏ ra 797.5 triệu VND để mua 50,000USD  
trả tiền hàng nhập khẩu từ Mỹ. Nh ư vậy giá 1 USD là 15,950 VND, đây là tỷ giá hối đoái giữa  
đồng đô la Mỹ và đồng ngân hàng Việt Nam.  
Chúng ta còn thấy tỷ giá hối đoái được hiểu là quan hệ so sánh giữa hai đồng tiền của hai  
nước khác nhau.  
Trong chế độ bản vị vàng, tiền tệ trong lưu thông là tiền đúc bằng vàng và giấy bạc ngân  
hàng được đổi tự do ra vàng căn cứ vào hàm lượng vàng của nó. Tỷ giá hối đoái lúc này là quan  
hệ so sánh hai đồng tiền vàng của hai nước với nhau hoặc là so sánh hàm lượng vàng của hai  
đồng tiền hai nước với nhau. Cách so sánh này gọi là ngang giá vàng (Gold parity). Như vậy  
trong chế độ bản vị vàng, ngang giá vàng là cơ sở hình thành tỷ giá hối đoái.  
Ví dụ: Hàm lượng vàng của bảng Anh là 2.488281 gam, của đô la Mỹ là 0.888671 gam,  
do đó quan hệ so sánh giữa GBP và USD là:  
1 GBP = 2.488281/0.888671 = 2.8USD  
Trong chế độ lưu thông tiền giấy, giấy bạc ngân hàng không được đổi tự do ra vàng theo  
hàm lượng của nó, do đó ngang giá vàng không còn là cơ sở để hình thành tỷ giá hối đoái. Lúc  
này việc so sánh hai đồng tiền với nhau được thực hiện bằng cách so sánh sức mua của hai tiền  
tệ với nhau, gọi là ngang giá sức mua của tiền tệ (Purchasing Power Parity)  
Ví dụ: Một hàng hóa A ở Mỹ có giá là 100USD, ở Pháp có giá là 82EUR  
Ngang giá sức mua là : 1USD = (82/100) = 0.82EUR . Đây chính là tỷ giá hối đoái giữa  
đô la Mỹ và đồng EUR.  
2.3. Phương pháp yết giá  
Có nhiều tác giả dùng các thuật ngữ khác nhau về biểu hiện tỷ giá, thậm trí trái ngược  
nhau xung quanh hai khái niệm trực tiếp và gián tiếp.  
Để dễ hiểu ở đây chúng ta sử dụng hai cách biểu hiện tỷ giá sau đây:  
Cách thứ nhất, tại một nước người ta so sánh một ngoại tệ n ào đó với đồng nội tệ (yết giá  
trực tiếp trên quan điểm đồng ngoại tệ)  
1 ngoại tệ = X nội tệ  
Ví dụ:  
Ở Việt Nam, tỷ giá theo cách biểu hiện này sẽ là so sánh các đồng ngoại tệ với VND,  
chẳng hạn:  
1 USD = 15,950 VND  
USD/VND = 15,950  
1 USD = 0.81EUR  
USD/EUR = 0.81  
Ta viết là:  
Ở Pháp:  
Ta viết là:  
8
Cách thứ hai, tại một nước, người ta so sánh đồng nội tệ với đồng ngoại tệ (yết giá gián  
tiếp trên quan điểm đồng ngoại tệ)  
1 nội tệ = X ngoại tệ  
Ở Pháp, tỷ giá theo cách biểu hiện này sẽ là so sánh đồng tiền EUR với ngoại tệ.  
Chẳng hạn:  
Ta viết là:  
Ở Anh:  
1 EUR  
= 1.2104 USD  
EUR /USD = 1.2104  
1 GBP  
= 1.6958 USD  
= 1.6958  
Ta viết là:  
GBP/USD  
Theo tập quán kinh doanh tiền tệ của ngân hàng , tỷ giá hối đoái thường được yết giá như  
sau:  
USD / EUR = 0.8100 / 0.8110  
USD / VND = 15,950 / 15,970  
Đồng USD đứng trước gọi là tiền yết giá hay còn gọi là đồng tiền hàng hoá hay đồng tiền  
cơ sở, nó luôn là một đơn vị. Các đồng EUR, VND đứng sau gọi là tiền định giá và là một số  
đơn vị tiền tệ và thường thay đổi phụ thuộc vào thời giá của tiền yết giá. Tỷ giá đứng trước  
0.8100 là tỷ giá mua đô la trả bằng EUR của ngân hàng, và tỷ giá đứng trước 15,950 là tỷ giá  
mua đô la trả bằng đồng Việt Nam của ngân hàng, chúng được gọi là tỷ giá mua vào của ngân  
hàng (BID RATE)  
Tỷ giá đứng sau 0.8110 là tỷ giá bán đô la thu bằng EUR của ngân hàng và 15,970 là tỷ  
giá bán USD thu bằng VND của ngân hàng, chúng được gọi là tỷ giá bán ra của ngân hàng  
(ASK RATE)  
Thông thường tỷ giá ASK cao hơn tỷ giá BID. Chênh lệch giữa chúng gọi là lợi nhuận  
trước thuế của ngân hàng hay tiếng Anh gọi là Spread, tiếng Pháp là Fourchette. Khoản chênh  
lệch này tùy thuộc vào từng ngoại tệ nhưng thông thường vào khoảng 0.001 đến 0.003 tức là từ  
10 đến 30 điểm. Chúng ta có thể mô hình mối quan hệ này theo sơ đồ sau đây:  
00  
10  
USD/EUR = 0.  
81  
/
Số (Figure)  
Spread  
Điểm (Points)  
Spread = Ask Rate - Bid Rate  
Như vậy:  
Tỷ giá thường được công bố đến 4 số lẻ. Điểm biểu hiện 1/10,000của một đ ơn vị tiền tệ,  
nó là khoảng tăng nhỏ nhất khi tỷ giá biến đổi. Số của tỷ giá thông thường biểu hiện hai con số  
sau dấu chấm của tỷ giá. Con số này ít được quan tâm, bởi vì con số biến động mạnh nhất chính  
là phần điểm của tỷ giá.  
Trong giao dịch ngoại hối, người ta có thể lấy t ên thủ đô các nước công nghiệp phát triển  
thay cho tên tiền tệ của nước đó ở vị trí tiền định giá.  
Để thống nhất các đơn vị tiền tệ của các nước, tổ chức tiêu chuẩn quốc tế (ISO) đã ban  
hành ký hiệu tiền tệ thống nhất (xem Phụ lục 2.1). Tất cả đồng tiền của các nước đều đ ược mã  
hoá bằng 3 chữ cái in hoa, trong đó hai chữ cái đầu l à ký hiệu của tên nước và chữ cái thứ ba là  
chữ cái đầu ti ên của tên tiền tệ nước đó. Ví dụ, VND là ký hiệu đồng tiền của Việt Nam, trong  
đó VN là ký hiệu của Việt Nam và D là chữ cái đầu tiên của tên đồng tiền của Việt Nam  
"ĐỒNG". SGD là ký hiệu đồng tiền của nước Singapore, trong đó hai chữ cái đầu ti ên SG là ký  
hiệu tên nước Singapore và chữ cái cuối cùng D là chữ dầu tiên của tên đồng tiền nước này  
DOLLAR v.v.  
9
2.4. Các loại tỷ giá hối đoái  
Có thể có các loại tỷ giá khác nhau sử dụng tr ên thị trường hối đoái. Chúng ta có thể xem  
xét một số tỷ giá sau đây:  
2.4.1. Căn cứ vào đối tượng xác định tỷ giá, có thể chia làm tỷ giá chính thứcvà tỷ giá thị  
trường.  
Tỷ giá chính thức là tỷ giá do Ngân hàng trung ương của nước đó xác định. Trên cơ sở của  
tỷ giá này các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng sẽ ấn định tỷ giá mua bán ngoại tệ  
giao ngay, có kỳ hạn, hoán đổi.  
Tỷ giá thị trường là tỷ giá được hình thành trên có sở quan hệ cung cầu trên thị trường hối  
đoái.  
2.4.2. Căn cứ vào kỳ hạn thanh toán, có thể chia làm tỷ giá giao ngay và tỷ giá có kỳ hạn.  
Tỷ giá giao ngay (SPOT) là tỷ giá do tổ chức tín dụng yết giá tại thời điểm giao dịch hoặc  
do hai bên thỏa thuận nhưng phải đảm bảo trong biểu độ do ngân hàng nhà nước quy định. Việc  
thanh toán giữa các bên phải được thực hiện trong vòng hai ngày làm việc tiếp theo, sau ngày  
cam kết mua hoặc bán.  
Tỷ giá giao dịch kỳ hạn (FORWARDS) là tỷ giá giao dịch do tổ chức tín dụng tự tính  
toán và thỏa thuận với nhau nhưng phải đảm bảo trong biên độ qui định về tỷ giá kỳ hạn hiện  
hành của Ngân hàng Nhà nước tại thời điểm ký hợp đồng.  
2.4.3. Căn cứ vào giá trị của tỷ giá, có thể chia làm tỷ giá danh nghĩa và tỷ giá thực.  
Tỷ giá hối đoái danh nghĩa là tỷ giá của một loại tiền tệ được biểu hiện theo giá hiện tại,  
không tính đến bất kỳ ảnh hưởng nào của lạm phát.  
Tỷ giá hối đoái thực là tỷ giá có tính đến tác động của lạm phát và sức mua trong một cặp  
tiền tệ phản ảnh giá cả hàng hóa tương quan có thể bán ra nước ngoài và hàng tiêu thụ trong  
nước. Tỷ giá này đại diện cho khả năng cạnh tranh quốc tế của nước đó.  
2.4.4. Căn cứ vào phương thức chuyển ngoại hối, có thể chia làm tỷ giá điện hối và tỷ  
giá thư hối.  
Tỷ giá điện hối là tỷ giá thường được niêm yết tại ngân hàng. Đó là tỷ giá chuyển ngoại  
hối bằng điện. Tỷ giá điện hối là tỷ giá cơ sở để xác định các loại tỷ giá khác.  
Tỷ giá thư hối, tức là tỷ giá chuyển ngoại hối bằng thư. Tỷ giá điện hối thường cao hơn tỷ  
giá thư hối.  
2.4.5. Căn cứ vào thời điểm mua/bán ngoại hối, có thể phân biệt tỷ giá mua và tỷ giá bán  
của ngân hàng.  
Tỷ giá mua là tỷ giá của ngân hàng mua ngoại hối vào. Tỷ giá bán là tỷ giá của ngân hàng  
bán ngoại hối ra. Tỷ giá mua bao giờ cũng thấp hơn tỷ giá bán và khoản chênh lệch đó là lợi  
nhuận kinh doanh ngoại hối của ngân hàng.  
Thông thường thì ngân hàng không công bố tất cả tỷ giá của các hợp đồng đã ký kết trong  
một ngày mà chỉ công bố tỷ giá của hợp đồng ký kết cuối cùng trong ngày đó, người ta gọi đó là  
tỷ giá đóng của. Tỷ giá đóng cửa được coi là chỉ tiêu chủ yếu về tình hình biến động của tỷ giá  
trong ngày hôm đó. Tỷ giá được công bố vào đầu giờ của đầu ngày giao dịch được gọi là tỷ giá  
mở cửa.  
Trong nghiệp vụ mua bán ngoại hối của ngân hàng còn chia ra tỷ giá tiền mặt và tỷ giá  
chuyển khoản. Tỷ giá chuyển khoản bao giờ cũng cao hơn tỷ giá tiền mặt.  
Trong khuôn khổ chế độ quản lý ngoại hối ở các nước kém phát triển, ngoài thị trường  
ngoại hối chính thức còn tồn tại thị trường ngoại hối tự do, do đó bên cạnh tỷ giá chính thức do  
nhà nước quy định còn có tỷ giá chợ đen do quan hệ cung cầu ngoại hối trên thị trường này  
quyết định.  
10  
Trên thế giới đã trải qua nhiều chế độ tỷ giá khác nhau thích ứng với từng giai đoạn phát  
triển. Sau đại chiến thế giới lần thứ 2, các nước đế quốc thực hiện chính sách phân biệt đối xử  
trong quan hệ kinh tế và tiền tệ, do đó chế độ nhiều tỷ giá ra đời. Mục đích của chế độ nhiều tỷ  
giá là để ảnh hưởng đến cán cân ngoại thương, từ đó ảnh hưởng đến cán cân thanh toán quốc tế  
và tỷ giá hối đoái, đồng thời nó còn có tác dụng như là một loại thuế nhập khẩu đặc biệt hoặc  
tiền thưởng cho xuất khẩu, làm công cụ cho chính sách bảo hộ mậu dịch của ngân sách qua thu  
thuế bán ngoại hối.  
2.5. Xác định tỷ giá theo phương pháp tính chéo  
Hiện nay trên các thị trường hối đoái quốc tế, thông thường người ta chỉ thấy tỷ giá giữa  
USD và GBP so với đồng nội tệ. Chẳng hạn ở Việt Nam thì người ta thông báo tỷ giá giữa USD  
so với VND, ở các nước cộng đồng chung châu Âu thì USD/EUR ... Trong giao dịch ngoại hối,  
khách hàng còn muốn xác định tỷ giá giữa các đồng tiền khác, chẳng hạn họ muốn xác định tỷ  
giá USD/GBP, do vậy họ phải dùng một phương pháp nào đó để tính toán các tỷ giá này. Đó  
chính phương pháp tính chéo tỷ giá.  
2.5.1 Nguyên tắc cơ bản tính chéo tỷ giá:  
Một cách tổng quát, ta có công thức: A/B = A/C x C/B  
Muốn xác định tỷ giá hối đoái của đồng tiền A so với đồng  
tiền B theo phương pháp tính chéo, ta lấy tỷ giá giữa đồng  
tiền A so với C nhân với tỷ giá của đồng tiền C so với B  
Ví dụ: Tại Paris, Ngân hàng Quốc gia Paris công bố tỷ giá:  
USD/EUR = 0.8100  
GBP/EUR = 1.4634  
Xác định tỷ giá: USD/GBP  
Ta có thể viết như sau:  
USD/GBP = USD/EUR x EUR/GBP = (USD/EUR) x {1/ (USD/EUR )}  
= (0.8100) x 1/1.4634 = 0.5535  
2.5.2 Vận dụng phương pháp tính chéo:  
Ví dụ 1: Một công ty Pháp xuất khẩu một lô hàng thu được 100,000 CHF, cần bán cho  
Ngân hàng để lấy đồng EUR . Như vậy Ngân hàng sẽ thanh toán cho công ty bao nhiêu EUR ?  
Cho biết tỷ giá công bố là:  
USD/CHF = 1.6115/25  
USD/EUR = 0.8100/0.8110  
Áp dụng công thức tính chéo ta có:  
CHF/EUR = (CHF/USD) x (USD/EUR ) = 1/(USD/EUR) x (USD/CHF)  
Vấn đề ở đây là ta dùng tỷ giá mua hay bán.  
Ta suy luận như sau:  
Trước hết công ty sẽ bán 100,000CHF cho ngân hàng để mua USD, như vậy ngân hàng sẽ  
bán USD cho công ty, tức là ngân hàng sẽ áp dụng tỷ giá bán USD/CHF = 1.6125, sau đó công  
ty sẽ bán USD để mua EUR, lúc này ngân hàng sẽ áp dụng tỷ giá mua USD/EUR = 0.8100.  
Thế vào công thức ta thu được tỷ giá bán của công ty như sau:  
11  
CHF/EUR = (1/1.6125)*0.8100 = 0.5023  
Vậy tổng số tiền EUR mà ngân hàng sẽ thanh toán cho công ty là:  
100,000 0.5023 = 50,230EUR  
Ví dụ 2: Một công ty cần mua 100,000CHF trả bằng EUR thì ngân hàng sẽ tính tỷ giá bán  
là bao nhiêu?  
Áp dụng công thức tính chéo ta có:  
EUR/CHF = (EUR /USD) x (USD/CHF) = 1/ (USD/EUR) x (USD/CHF)  
Ta suy luận tương tự như ví dụ 1.  
Trước hết công ty bán EUR để mua USD, ngân hàng sẽ áp dụng tỷ giá bán USD/EUR =  
0.8110, sau đó khi công ty bán USD để mua CHF thì ngân hàng sẽ áp dụng tỷ giá mua  
USD/CHF = 1.6115. Thay thế vào công thức trên ta có:  
EUR/CHF = (1/0.8110) x1.6115 = 1.9870  
Số tiền mà công ty phải trả cho Ngân hàng để mua 100,000CHF là:  
100 000 / 1.9870 = 50,327.13 EUR  
Nhận xét:  
- Khi ngân hàng bán thì ngân hàng sẽ dùng tỷ giá cao  
- Khi ngân hàng mua thì ngân hàng sẽ dùng tỷ giá thấp  
Do đó bất lợi vẫn thuộc về khách hàng cần mua hay cần bán.  
Ví dụ 3: Một công ty cần bán cho ngân hàng 100,000GBP để lấy EUR . Như vậy ngân  
hàng sẽ trả cho công ty bao nhiêu EUR ?  
Cho biết tỷ giá:  
GBP/USD  
USD/EUR  
= 1.5810/20  
= 0.8270/80  
Áp dụng công thức tính chéo, ta có:  
(GBP/EUR ) = (GBP/USD) x (USD/EUR )  
Ta suy luận như sau:  
Trước hết công ty sẽ bán GBP cho ngân h àng để mua USD, do vậy ngân h àng sẽ áp dụng  
tỷ giá mua GBP/USD = 1.5810; sau đó công ty sẽ bán số USD n ày cho ngân hàng để lấy EUR,  
do đó ngân hàng sẽ áp dụng tỷ giá mua USD/EUR = 0.8270.  
Thay vào công thức ta có:  
GBP/USD = 1.5810 x 0.8270 = 1.3075  
Số tiền mà ngân hàng trả cho công ty là:  
100,000GBP x 1.3075 = 130,750 EUR  
Nhận xét:  
- Khi khách bán thì phải chịu hai tỷ giá mua cùng một lúc.  
Ví dụ 4: Một công ty cần mua 100,000 GBP trả bằng EUR . Vậy công ty phải trả cho  
Ngân hàng bao nhiêu EUR ?  
Cho biết tỷ giá:  
GBP/USD = 1.5810/20  
USD/EUR = 0.8270/80  
Áp dụng công thức tính chéo, ta có:  
GBP/EUR = (GBP/USD) x (USD/EUR )  
Ta suy luận như sau:  
12  
Trước hết công ty sẽ bán EUR để mua USD, do đó ngân hàng sẽ áp dụng tỷ giá bán  
USD/EUR = 0.9280; sau đó công ty sẽ bán USD để lấy GBP, do đó ngân hàng sẽ áp dụng tỷ giá  
bán GBP/USD = 1.5820.  
Thay vào công thức trên ta tính được tỷ giá:  
GBP/EUR = 1.5820 x 0.8280 = 1.3099  
Vậy công ty phải trả cho ngân hàng số tiền:  
100,000GBP x 1.3099 = 130,990 EUR  
Nhận xét:  
- Khi khách hàng mua thì phải chịu hai tỷ giá bán cùng một lúc và ngược lại.  
2.6. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự biến động của tỷ giá hối đoái  
Sau 1971 với sự sụp đổ của chế độ tiền tệ Bretton Woods, quan hệ tiền tệ giữa các nước  
được thả nổi, điển hình là ở các nước tư bản. Với cơ chế này, tỷ giá hối đoái của các nước biến  
động hàng ngày, hàng giờ trên thị trường do ảnh hưởng của nhiều nhân tố như lạm phát, tình  
hình cán cân thanh toán quốc tế, tình hình cung và cầu ngoại hối trên thị trường v.v  
Chúng ta cần hiểu rằng tỷ giá hối đoái là một loại giá, vậy về bản chất nó g iống như bất  
kỳ một loại giá nào trong nền kinh tế, tức là sẽ vận động theo quy luật cung-cầu. Tuy nhiên cần  
nhấn mạnh ngay rằng xét về phạm vi ảnh hưởng tỷ giá hối đoái bao giờ cũng được coi là loại giá  
quốc tế, do đó nó sẽ bị tác động bởi nhiều yếu tố khác nhau trong không gian này.  
Dưới đây chúng ta sẽ xét ảnh hưởng của 5 nhân tố quan trọng đến biến động của tỷ giá hối  
đoái.  
2.6.1. Liên quan giữa tỷ giá hối đoái với tỷ lệ lạm phát hay sức mua  
Nói cách khác ở đây muốn nói đến mối liên hệ giữa tỷ giá hối đoái và sức mua của mỗi  
đồng tiền trong mỗi cặp tiền tệ. Để thấy rõ mối liên quan này ta sử dụng lý thuyết sức mua của  
Ricardo- Cassel. Lý thuyết này giả thuyết rằng tỷ giá hối đoái ở mức cân bằng phải thể hiện sự  
ngang bằng trong sức mua giữa hai đồng tiêng tương ứng và nó được gọi là lý thuyết 3P  
(Purchashing Power Parity).  
Lý thuyết này giả thuyết trong một nền kinh tế cạnh tranh lành mạnh, tức là trong đó cước  
phí vận chuyển, thuế hải quan giả định bằng 0. Do đó nếu các hàng hóa đồng nhất thì người tiêu  
dùng sẽ mua hàng ở nước nào có giá thật sự thấp. Theo giả thiết đó, một kiện hàng A ở Mỹ có  
giá là 100USD và ở Pháp là 80EUR , có nghĩa là theo ngang giá sức mua đối nội của hai đồng  
tiền này là: USD /EUR = 0.8000. Nếu ở Mỹ mức lạm phát là 5%/năm và ở Pháp là 10%/năm thì  
giá kiện hàng A ở Mỹ sẽ tăng lên là 105USD, ở Pháp tăng lên là 88EUR . Do đó ngang giá sức  
mua đối nội sẽ là 105USD = 88EUR , hay USD/EUR = (88/105) = 0.8381  
Như vậy: -Tỷ giá trước lạm phát là USD/EUR = 0.8000  
- Tỷ giá sau lạm phát là USD/EUR = 0.8381  
Mức chênh lệch tỷ giá là 4,76% trong khi đó mức chênh lệch lạm phát là 5%, hai mức  
này có thể coi là tương tự như nhau. Qua đó cho thấy tỷ giá biến động do lạm phát phụ thuộc  
mức chênh lệch của lạm phát của hai đồng tiền yết giá và định giá.  
Từ ví dụ trên, ta có thể đi đến công thức sau:  
Giả sử đồng tiền của 2 nước là A và B, trong đó đồng tiền A là yết giá và B là đồng tiền  
định giá.  
Tỷ giá cuối kỳ A/B = tỷ giá đầu kỳ A/B x {(1+lạm phát B)/(1+lạm phát A)}  
Nước nào có mức độ lạm phát lớn hơn thì đồng tiền nước đó có sức mua thấp hơn, nước  
nào có mức độ lạm phát cao hơn mức độ lạm phát trung bình của thế giới hoặc của khu vực th ì  
đồng tiền nước đó mất giá liên tục.  
13  
Ngoại hối có giá cả vì nó cũng là một loại hàng hóa và là một loại hàng hóa đặc biệt. Giá  
cả của ngoại hối cũng chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố như giá cả của các loại hàng hóa thông  
thường như mức độ lạm phát, và giảm phát, cung và cầu hàng hóa trên thị trường, sự lũng đoạn  
về giá cả v.v.  
Nếu không tính đến các nhân tố khác mà chỉ tính riêng ảnh hưởng của nhân tố lạm phát,  
ta có thể dự đoán được sự biến động của tỷ giá trong tương lai.  
Ví dụ: Tỷ giá USD/VND bình quân năm 2004 là 15,500. Mức độ lạm phát của Mỹ là 5%  
và của Việt Nam là 8% năm. Dự đoán tỷ giá USD/VND năm 2005 sẽ là:  
USD/VND = 15,500 x (1.08/1.05) = 15,943  
2.6.2. Tỷ giá hối đoái và cán cân thanh toán quốc tế  
Cán cân thanh toán quốc tế có tác động rất quan trọng đến tỷ giá hối đoái. Tình trạng của  
cán cân thanh toán quốc tế sẽ tác động trực tiếp đến cung và cầu ngoại hối, do đó nó tác động  
trực tiếp và rất nhạy bén đến tỷ giá hối đoái. Về nguyên tắc, nếu cán cân thanh toán quốc tế dư  
thừa có thể dẫn đến khả năng cung ngoại hối lớn hơn cầu ngoại hối, từ đó làm cho tỷ giá hối  
đoái có xu hướng giảm. Ngược lại nếu cán cân thanh toán quốc tế thiếu hụt có thể dẫn đến cầu  
ngoại hối lớn hơn cung ngoại hối, từ đó tỷ giá hối đoái có xu hướng tăng. Trong cán cân thanh  
toán quốc tế, cán cân thương mại có tác động cực kỳ quan trọng đến sự biến động của tỷ giá hối  
đoái mà các nhà kinh tế đều công nhận. Đây là nhân tố cơ bản đứng sau lưng tỷ giá hối đoái.  
Tuy nhiên tuỳ vào điều kiện của mỗi n ước và trong từng giai đoạn phát triển, các cán cân khác  
cũng có vai trò rất lợi hại, ví dụ như cán cân giao dịch vốn. Cụ thể ở điều kiện của Việt Nam  
trong những năm gần đây, đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng nhanh tạo nên dòng chảy ngoại tệ  
vào trong nước rất lớn thể hiện trong tài khoản vốn trong cán cân thanh toán quốc tế, từ đó tác  
động lên cung ngoại hối và tỷ giá hối đoái.  
2.6.3. Tỷ giá hối đoái và mức chênh lệch lãi suất giữa các nước  
Nói chung, nếu các điều kiện và môi trường kinh doanh của các nước là tương đương  
nhau, nước nào có lãi suất ngắn hạn cao hơn thì vốn ngắn hạn sẽ chảy vào nhằm thu phần chênh  
lệch do tiền lãi tạo ra, do dó sẽ làm cho cung ngoại hối tăng lên, cầu ngoại hối giảm đi, tỷ giá  
hối đoái sẽ giảm xuống.  
Chẳng hạn, khi Việt Nam nâng cao lãi suất tiền gửi hơn các nước trong khu vực thì  
lượng ngoại tệ sẽ chạy vào Việt Nam để mua các tín phiếu ngắn hạn, do đó sẽ làm cho cung  
ngoại tệ và đồng thời cũng làm giảm nhu cầu ngoại tệ xuống. Tỷ giá hối đoái do đó cũng giảm  
xuống. Tuy nhiên điều này có thực sự xảy ra hay không còn phụ thuộc vào điều kiện và môi  
trường kinh doanh của Việt Nam có đảm bảo an toàn cho các nhà đầu tư hay không, bởi vì các  
nhà đầu tư không chỉ quan tâm đến lợi nhuận thu được từ đầu tư mà còn rất quan tâm đến yếu tố  
an toàn vốn đầu tư.  
2.6.4. Yếu tố tâm lý  
Yếu tố tâm lý là một yếu tố chủ yếu dựa v ào sự phán đoán từ các sự kiện, tình hình chính  
trị, kinh tế của các nước và thế giới có liên quan. Chẳng hạn, mức thu nhập thực tế (mức độ tăng  
GNP thực tế) tăng lên sẽ làm tăng nhu cầu về hàng hóa và dịch vụ nhập khẩu, do đó làm cho  
nhu cầu ngoại hối để thanh toán hàng nhập khẩu cũng tăng lên. Tăng trưởng hay suy thoái kinh  
tế cũng có ảnh hưởng tới tỷ giá hối đoái. Khi nền kinh tế trong thời kỳ tăng trưởng nhanh, nhu  
cầu về ngoại tệ tăng và lúc đó giá ngoại tệ có xu hướng tăng. Ngược lại, trong thời kỳ kinh tế  
suy thoái, khủng hoảng, nhu cầu về ngoại tệ giảm làm cho giá ngoại tệ có xu hướng giảm.  
Tỷ giá hối đoái là giá quốc tế, do đó những sự kiện kinh tế, chính trị tr ên thế giới cũng sẽ  
gây ảnh hưởng rất nhạy bén đến tỷ giá hối đoái. Chẳng hạn như sự kiện ở Mỹ xảy ra v ào tháng  
14  
9/2001 hay chiến tranh Iraq tháng 3/2003 vừa qua đã làm khuynh đảo thị trường hối đoái thế  
giới, giá USD đã giảm đáng kể.  
2.6.5. Vai trò quản lý của ngân hàng trung ương  
Trong chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi có quản lý, vai tr ò can thiệp của Nhà nước giữ vị trí  
quan trọng. Cần nhấn mạnh rằng Nhà nước can thiệp bằng công cụ của thị trường thông qua  
Ngân hàng Nhà nước Trung ương chứ không phải bằng các công cụ hành chính, tức là Ngân  
hàng Trung ương tham gia vào thị trường với tư cách là người tham gia trên thị trường (người  
mua hoặc người bán) trong từng thời điểm để tác động lên cung hoặc cầu ngoại hối, từ đó tác  
động lên tỷ giá hối đoái phù hợp với chính sách tiền tệ của Nhà nước.  
2.6.6. Những yếu tố chính trị và điều kiện kinh tế  
Các điều kiện kinh tế thay đổi hoặc các sự kiện kinh tế, tài chính sẽ ảnh hưởng đến các  
hoạt động kinh doanh và đầu tư của quốc gia, từ đó ảnh hưởng đến các luồng tiền chạy ra và  
chạy vào quốc gia đó và kết quả là ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái. Ví dụ như cuộc khủng tài  
chính năm 1997 ở Châu Á đã làm đồng tiền của một số nước Châu Á mất giá khá nhiều. Các  
chính sách thuế, mức độ tăng trưởng kinh tế, chính sách đầu t ư của các quốc gia đều có thể ảnh  
hưởng đến sự dịch chuyển các luồng vốn đầu tư giữa các nước, từ đó tác động lên tỷ giá hối  
đoái.  
2.7. Phương pháp điều chỉnh tỷ giá hối đoái  
Tỷ giá hối đoái chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố và biến động một cách tự phát. Tuy  
nhiên Nhà nước có thể áp dụng nhiều phương pháp để điều chỉnh tỷ giá hối đoái, trong đó chủ  
yếu là chính sách chiết khấu, chính sách hối đoái, lập quỹ bình ổn hối đoái, vay nợ, phá giá,  
nâng giá tiền tệ.  
2.7.1. Chính sách chiết khấu  
Đây là chính sách của ngân hàng trung ương dùng cách thay đổi tỷ suất chiết khấu của  
ngân hàng mình để điều chỉnh tỷ giá hối đoái trên thị trường. Khi tỷ giá hối đoái lên cao đến  
mức nguy hiểm, ngân hàng sẽ nâng cao tỷ suất chiết khấu lên để giảm tỷ giá hối đoái xuống. Bởi  
vì khi ngân hàng nâng cao t ỷ suất chiết khấu dẫn đến lãi suất trên thị trường cũng tăng lên, vốn  
ngắn hạn trên thị trường thế giới sẽ chạy vào góp phần làm dịu sự căng thẳng của cầu ngoại hối,  
do đó tỷ giá hối đoái sẽ có xu hướng hạ xuống.  
Tuy nhiên chính sách chiết khấu cũng chỉ có ảnh hưởng nhất định đối với tỷ giá hối đoái  
bởi vì giữa chúng không có quan hệ nhân quả. Lãi suất không phải là nhân tố duy nhất quyết  
định sự vận động vốn giữa các nước. Lãi suất biến động do tác động của quan hệ cung cầu của  
vốn cho vay. Lãi suất có thể biến động trong phạm vi tỷ suất lợi nhuận b ình quân và trong m ột  
tình hình đặc biệt có thể vượt qua tỷ suất lợi nhuận bình quân. Còn tỷ giá hối đoái lại do quan hệ  
cung cầu ngoại hối quyết định mà quan hệ này do tình hình của cán cân thanh toán d ư thừa hay  
thiếu hụt quyết định. Như vậy nhân tố hình thành lãi suất và tỷ giá không giống nhau, do đó  
không nhất thiết là biến động của lãi suất, lên cao chẳng hạn, sẽ đưa đến biến động về tỷ giá, hạ  
xuống chẳng hạn.  
Trong trường hợp lãi suất lên cao, nhưng tình hình kinh tế, chính trị và tiền tệ của nước  
đó không ổn định thì không hẳn là vốn ngắn hạn sẽ chạy vào, bởi lúc đó vấn đề đặt lên hàng đầu  
là sự bảo đảm an toàn cho vốn chứ không phải thu được lãi nhiều. Nếu tình hình tiền tệ của các  
nước gần tương tự như nhau thì hướng đầu tư ngắn hạn sẽ nhắm vào các nước có lãi suất cao, do  
đó chính sách chiết khấu có ý nghĩa quan trọng để điều chỉnh tỷ giá hối đoái của các nước.  
15  
2.7.2. Chính sách hối đoái  
Hay còn gọi là chính sách hoạt động công khai trên thị trường: có nghĩa là ngân hàng  
trung ương hay các cơ quan ngoại hối của nhà nước dùng nghiệp vụ trực tiếp mua bán ngoại hối  
để điều chỉnh tỷ giá hối đoái. Khi tỷ giá hối đoái lên cao, ngân hàng trung ương tung ngoại hối  
ra để bán nhằm kéo giá hối đoái giảm xuống. Muốn thực hiện được biện pháp này, ngân hàng  
trung ương phải có dự trữ ngoại hối đủ lớn. Nhưng nếu tình hình thâm hụt cán cân thanh toán  
quốc tế của nước đó kéo dài thì khó có nguồn dự trữ ngoại hối đủ lớn để thực hiện biện pháp  
này.  
Có thể nói chính sách chiết khấu và chính sách hối đoái đều dẫn đến mâu thuẫn giữa các  
tập đoàn tư bản trong nước, giữa thương nhân nhập khẩu và xuất khẩu vì tỷ giá của một nước  
nâng lên thì hạn chế xuất khẩu hàng của nước khác nhưng lại khuyến khích xuất khẩu vốn của  
nước khác, do đó làm cho cán cân thanh toán của nước ngoài đó với nước thực hiện hai chính  
sách này bị thiệt hại.  
2.7.3. Quỹ dự trữ bình ổn hối đoái  
Mục đích của quỹ này là nhằm tạo ra một cách chủ động một lượng dự trữ ngoại hối để  
ứng phó với sự biến động của tỷ giá hối đoái thông qua chính sách hoạt động công khai trên thị  
trường. Như vậy đây là một hình thức biến tướng của chính sách hối đoái.  
Về nguyên tắc, ngân hàng trung ương không chịu trách nhiệm điều tiết sự biến động của  
tỷ giá thả nổi, nhưng khủng hoảng ngoại hối trầm trọng làm cho đồng tiền của các nước ngày  
một mất giá, tỷ giá ngoại hối biến động lớn đã ảnh hưởng đến sản xuất và lưư thông hàng hóa,  
vì vậy các nước đã lập ra quỹ bình ổn hối đoái để điều tiết tỷ giá của đồng tiền nước mình.  
Kinh nghiệm cho thấy tác dụng của quỹ này rất hạn chế. Quỹ này chỉ có tác dụng khi  
khủng hoảng ngoại hối ít nghiêm trọng và có nguồn tín dụng quốc tế hỗ trợ, ví dụ nh ư tín dụng  
“SWAP”.  
2.7.4. Phá giá tiền tệ  
Phá giá tiền tệ là sự đánh tụt sức mua của tiền tệ n ước mình so với ngoại tệ hay là nâng  
cao tỷ giá hối đoái của một đơn vị ngoại tệ.  
Ví dụ: tháng 12/1971, đô la phá giá 7.89%, tức là giá của 1 GBP tăng lên từ 2.40USD lên  
2.605USD, hay là sức mua của USD giảm từ 0.416GBP xuống còn 0.383GBP.  
Tác dụng của phá giá tiền tệ có thể là:  
- Khuyến khích xuất khẩu hàng hóa, hạn chế nhập khẩu h àng hóa, do đó có tác dụng khôi  
phục lại sự cân bằng của cán cân ngoại thương, nhờ vậy góp phần cải thiện cán cân thanh toán  
quốc tế.  
- Khuyến khích nhập khẩu vốn, kiều hối và hạn chế xuất khẩu vốn ra bên ngoài, chuyển  
tiền ra ngoài nước, do đó có tác dụng tăng khả năng cung ngoại hối, giảm nhu cầu về ngoại hối,  
nhờ đó tỷ giá hối đoái sẽ giảm xuống.  
-Khuyến khích du lịch vào trong nước, hạn chế du lịch ra nước ngoài, vì vậy quan hệ cung  
cầu ngoại hối bớt căng thẳng.  
- Cướp không một phần giá trị thực tế của những ai nắm đồng tiền phá giá trong tay.  
Tác dụng chủ yếu của phá giá tiền tệ là nhằm cải thiện cán cân thương mại. Tuy nhiên có  
thực hiện được điều này hay không còn phụ thuộc vào khả năng đẩy mạnh xuất khẩu của nước  
tiến hành phá giá tiền tệ và khả năng cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu của nước đó.  
16  
2.7.5. Nâng giá tiền tệ  
Nâng giá tiền tệ là việc nâng chính thức đơn vị tiền tệ nước mình so với ngoại tệ, tức là  
nâng cao hàm lượng vàng của tiền nước mình lên, tỷ giá của ngoại hối so với đồng tiền nâng giá  
bị đánh sụt xuống, tỷ giá hối đoái hạ thấp xuống.  
Ảnh hưởng của nâng giá tiền tệ đối với ngoại thương của một nước hoàn toàn ngược lại  
với phá giá tiền tệ. Nâng giá tiền tệ thường xảy ra dưới áp lực của nước khác mà nước này mong  
muốn tăng khả năng cạnh tranh hàng hóa của mình vào nước có cán cân thanh toán và cán cân  
thương mại dư thừa.  
Ví dụ Đức là nước có cán cân thanh toán và cán cân thương mại dư thừa đối với Mỹ,  
Anh và Pháp. Để hạn chế xuất khẩu hàng hóa của Đức vào các nước này, 3 nước này ép Đức  
phải nâng giá đồng tiền của mình. Dưới áp lực của các nước bạn hàng Đức đã phải nhiều lần  
tăng giá DEM. Đối với đồng JYP của Nhật cũng tương tự như vậy.  
Ngoài ra, không ngoại trừ khả năng để tránh phải tiếp nhận đồng USD mất giá chạy vào  
nước mình và giữ vững lưu thông tiền tệ và tín dụng, duy trì sự ổn định của tỷ giá hối đoái,  
chính phủ Đức và Nhật coi biện pháp nâng giá đồng tiền của mình như là một biện pháp hữu  
hiệu. Việc nâng giá đồng JYP của Nhật cũng tạo điều kiện để Nhật chuyển vốn ra nước ngoài  
nhằm xây dựng một nước Nhật “kinh tế” trong lòng các nước khác, nhờ dó mà Nhật giữ vững  
được thị trường bên ngoài.  
2.8. Sơ lược lịch sử phát triển tỷ giá hối đoái ở Việt Nam  
Qua trình phát triển của tỷ giá hối đoái ở Việt Nam gắn liền với quá trình cải cách hệ  
thống ngân hàng và đổi mới kinh tế của đất nước. Theo Trầm Thị Xuân Hương (2006), có thể  
chia qua trình phát triển của tỷ giá hối đoái Việt Nam thành hai giai đoạn lớn: giai đoạn trước  
pháp lệnh Ngân hàng năm 1990 và giai đoạn sau pháp lệnh, tức là sau 1990, trong đó xem xét  
hai thời điểm trước và sau khủng hoảng tài chính năm 1997.  
2.8.1. Giai đoạn trước Pháp lệnh Ngân hàng ra đời 1990:  
Theo Pháp lệnh ngân hàng, đơn vị tiền tệ nước ta là đồng, ký hiệu quốc tế là VND. Do  
Việt Nam không công bố hàm lưiợng vàng trong VND do vậy tỷ giá phải được xác định dựa  
trên cơ sở so sánh sức mua giữ VND và tiền tệ các nước khác. Trong giai đoạn này tỷ giá hối  
đoái của Việt Nam là chế độ tỷ giá cố định và đa tỷ giá, vì Nhà nwocs độc quyền về ngoại  
thương và độc quyền về ngoại hối, ngân hàng là hệ thống một cấp trong điều kiện nền kinh tế kê  
shoạch hoá tập trung. Tỷ giá cố định là tỷ giá chính thức do Nhà nước công bố và điều chỉnh.  
Đa tỷ giá thể hiện là trong giai đoạn này tồn tại cùng lúc nhiều tỷ giá khác nhua sử dụng trong  
các mối quan hệ trao đổi khác nhau. Lúc này có sự phân biệt giữa tỷ giá hối đoái áp dụng với  
các giao dịch với các nước XHCN. Với đối tượng này, Việt Nam thực hiện thanh toán bù trừ  
nhiều bên thông qua đồng Rúp chuyển nhượng. Cho đến năm 1991, khối XHCN tan vỡ, đồng  
Rúp chuyển nhượng không tồn tại nữa. Đối với tỷ giá hối đoái giữa VND với đồng tiền các  
nước tư bản chủ nghĩa được xác định căn cứ vào sự biến động của thị trường mà Nhà nwocs  
công bố, còn trong quan hệ thanh toán vói các nwocs khác thì tỷ giá hình thành trên cơ sở các  
nghị định thư ký kết giữa hai nước với nhau. Trong quan hệ với ngân sách Nhà nước chỉ sử  
dụng tỷ giá kết toán nội bộ, điều này gây rất nhiều khó khăn cho việc xác định hiệu quả kinh  
doanh cảu các doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Theo Trầm Thị Xuân Hương (2006), trong giai  
đoạn này tỷ giá hối đoái ở Việt Nam được ấn định một cách chủ quan, tuỳ tiện, thiếu cơ sở khoa  
học, chưa gắn liền với cugn và cầu ngoại tệ. Tỷ giá chính thức th ường rất thấp so với tỷ giá trên  
thị trường.  
17  
2.8.2. Giai đoạn sau khi Pháp lệnh Ngân hàng ra đời  
Giai đoạn sau khi Pháp lệnh Ngân hàng ra đời năm 1990 và trước khủng hoảng tài chính  
Châu Á năm 1997, là giai đoạn Việt Nam chuyển từ hệ thống ngân hàng một cấp sang hai cấp,  
từ chế độ độc quyền ngoại hối sang chế độ quản lý thống nhất ngoại hối. Tỷ giá hối đoái trở  
thành vấn đề quan trọng hàng đầu trong chính sáhc tiền tệ - tài chính quốc gia. Lúc này Nhà  
nước chủ trương áp dụng một tỷ giá và tỷ giá được xác định trên cơ sở cung cầu ngoại hối trên  
thị trường. Một sự kiện quan trọng đó l à sự ra đời của Thị trường Ngoại tệ liên ngân hàng vào  
năm 1994. Tuy nhiên hoạt động trên thị trường còn nhiều hạn chế, thủ tục mua bán và thanh  
toán ngoại tệ còn nhiều khó khăn.  
Sau năm 1997, nhà nước chủ trương quản lý tỷ giá theo hướng điều hành linh hoạt trên cơ  
sở đảm bảo ổn định giá trị VND, do vậy Ngân hàng Nhà nước đã liên tục mở rộng thêm biên độ  
dao động của tỷ giá chính thức, bám sát cung cầu ngoại tệ trên thị trường tiến đến tự do hoá tỷ  
giá, nâng cao uy tín của VND trên thị trường tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình hội nhập quốc  
tế của nền kinh tế đất nước.  
2.9. Thị trường hối đoái  
Hiện nay trên thế giới nhiều nước đã tổ chức thị trường hối đoái. Có khoảng trên 40 thị  
trường hối đoái. Mỗi ngày có hàng tỷ USD được giao dịch trên toàn cầu. Chúng ta có thể liệt kê  
các thị trường hối đoái lớn nhất trên thế giới hiện nay như thị trường London, Newyork, Tokyo,  
Singapore, Paris, Zurich, Franfut, Mila...  
2.9.1. Khái niệm thị trường hối đoái  
Thị trường hối đoái là nơi thực hiện việc mua và bán, trao đổi ngoại hối, trong đó chủ  
yếu là trao đổi, mua bán ngoại tệ và các phương tiện thanh toán quốc tế, mà giá cả ngoại tệ  
được hình thành trên cơ sở cung cầu. Hoặc có thể nói thị trường hối đoái là nơi chuyên môn hóa  
về trao đổi mua bán ngoại tệ, thông qua sự cọ sát giữa cung và cầu ngoại tệ để thỏa mãn nhu cầu  
của các chủ thể kinh tế đồng thời xác định các điều kiện giao dịch tức là giá cả và số lượng  
ngoại tệ mua bán.  
Trung tâm của thị trường hối đoái là thị trường liên ngân hàng, thông qua đó mà mọi  
giao dịch mua bán ngoại hối có thể tiến hành trực tiếp với nhau. Quá trình hình thành và phát  
triển của thị trường hối đoái trên thế giới đã hình thành hai tổ chức khác nhau. Hệ thống hối đoái  
Anh - Mỹ và hệ thống hối đoái châu Âu.  
Theo hệ thống Anh - Mỹ thì thị trường hối đoái có tính chất biểu tượng, chỉ giao dịch ngoại  
hối thường xuyên giữa một số ngân hàng và người môi giới, quan hệ này có thể là trực tiếp,  
nhưng chủ yếu là thông qua điện thoại, telex.  
Ngược lại theo hệ thống lục địa châu Âu thì thị trường hối đoái có địa điểm nhất định,  
hàng ngày những người mua bán ngoại hối tới đó để giao dịch và ký hợp đồng. Các ngân hàng  
thương mại lớn có chi nhánh ở nước ngoài có vai trò quan tr ọng trong thị tr ường hối đoái. Các  
ngân hàng này kinh doanh ngoại hối là chủ yếu, các ngân hàng khác đóng vai trò phụ thuộc vào  
hoạt động kinh doanh dưới sự chỉ đạo của các ngân hàng lớn.  
Trên thị trường hối đoái, các tỷ giá niêm yết có ý nghiã quan trọng. tuy nhiên nó chỉ là tỷ  
giá cơ bản dùng để tham khảo mà thôi, còn tỷ giá hối đoái của mỗi hợp đồng, mỗi giao dịch mua  
bán ngoại hối được quyết định bởi quan hệ cung cầu ngoại hối trên thị trường.  
Nếu hiểu theo nghiã rộng, thị trường hối đoái là một phần của thị trường tài chính, hoạt  
động mang tính chất đa dạng phong phú với những đặc điểm sau đây:  
Thứ nhất, thị trường hối đoái mang tính quốc tế vì nó hoạt động không chỉ trong phạm vi  
một nước, mà tren phạm vi toàn thể giới. Mối sự biến động của tỷ giá hối đoái trên một thị  
trường này đều có ảnh hưởng đến tỷ giá trên những thị trường khác.  
18  
Thứ hai, thị trường hối đoái mang tính liên tục, các giao dịch diễn ra 24/24 trong các ngày  
làm việc trong tuần.  
Thứ ba, thị trường hối đoái chỉ giao dịch một số ngoại tệ nhất định, trong đó đồng USD  
được coi là đồng tiền chuẩn. Trên thị trường hối đoái hiện nay tập trung giao dịch 15 đồng tiền  
chủ yếu, được công bố qua Forex.com.  
Thứ tư, sản phẩm giao dịch trên thị trường ngoại hối đã gia tăng rất mạnh, đặc biệt là sự  
tăng trưởng rất cao của các nghiệp vụ phái sinh như forward, option ...  
Thứ năm, phương thức giao dịch trên thị trường hối đoái chủ yếu là không qua quầy OTC  
(over the counter) mà được thực hiện qua qua điện thoại, telex, fax, vi tính nối mạng ...  
2.9.2. Phân loại thị trường hối đoái  
Thị trường hối đoái được chia làm 2 loại cơ bản: thị trường giao ngay và thị trường giao  
dịch có kỳ hạn (spot market và forward market)  
Thị trường giao ngay là thị trường mà việc mua bán, thanh toán và giao nhận ngoại hối  
xảy ra đồng thời tùy theo tập quán.  
Chẳng hạn ở thị trường hối đoái giao ngay ở châu Âu, việc giao nhận ngoại hối xảy ra sau  
2 ngày làm việc kể từ ngày ký hợp đồng mua ngoại hối. Ở đây cần lưu ý những ngày nghỉ đối  
với các nước nghỉ hai ngày cuối tuần thứ bảy, chủ nhật và những ngày nghỉ hàng tuần của các  
quốc gia tôn giáo như Cô Oét và Ả Rập nghỉ thứ sáu và chủ nhật.  
Thị trường giao dịch có kỳ hạn là thị trường mà việc ký kết hợp đồng mua bán ngoại hối  
và việc giao nhận ngoại hối không diễn ra đồng thời mà việc giao nhận ngoại hối sẽ diễn ra sau  
một số ngày nhất định nào đó do hai bên thỏa thuận. Ngày giao nhận ngoại hối trong hợp đồng  
mua bán có kỳ hạn được tính bằng ngày giao nhận ngay cộng với số ngày kỳ hạn của hợp đồng.  
Ví dụ: hợp đồng kỳ hạn 3 tháng, ký vào ngày 12 tháng 1 n ăm 2006 thì ngày giao nhận ngay là  
ngày 14 tháng 1 năm 2006, nên ngày giao kỳ hạn 3 tháng sẽ là ngày 15 tháng 4 năm 2006.  
2.8.3. Những ưu điểm của thị trường hối đoái  
Hiện nay quan hệ thương mại quốc tế ng ày càng phát triển từ đó làm nảy sinh nhiều hợp  
đồng mua bán ngoại thương. Vì vậy, vấn đề được đặt ra là tổ chức nhập khẩu cần mua ngoại tệ  
để thanh toán cho nước ngoài, tổ chức xuất khẩu cần bán ngoại tệ để lấy đồng nội tệ trang trải  
các chi phí phát sinh trong. Các tổ chức này sẽ mua, bán ngoại tệ ở đâu, với giá cả là bao nhiêu.  
Để giải quyết được vấn đề này cần thiết phải tổ chức thị trường hối đoái. Bởi thị trường hối đoái  
sẽ giải quyết những vấn đề cơ bản sau đây:  
- Giá cả hàng hóa ở thị trường hối đoái, tức là tỷ giá hối đoái sẽ được hình thành một cách  
thích hợp trên cơ sở cọ xát giữa cung và cầu ngoại hối. Đó chính là giá phải chăng, giá vừa lòng  
người mua, thuận lòng người bán.  
- Thị trường cũng cho ta biết ai là người bán, ai là người có ngoại tệ nhàn rỗi tạm thời  
- Số lượng ngoại tệ mua, bán là bao nhiêu  
- Thông qua thị trường hối đoái giúp Nhà nước có thể tham gia kiểm soát ngoại h ối và có  
thể can thiệp vào thị trường thông qua sự tác động vào cung hay cầu ngoại tệ nhằm thực hiện  
chính sách kinh tế quốc dân.  
- Thị trường hối đoái giúp người mua và người bán gặp nhau khi cần thiết, thay vì phải  
điện thoại hỏi các đơn vị khác nhau, có khi mua phải giá cao, giá thấp, hoặc trậm trễ trong thanh  
toán  
Ở Việt Nam, ngày 29/9/1994 Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã ký quyết định số  
203/QĐ-NH ban hành quy chế "Tổ chức và hoạt động của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng".  
19  
2.9.4. Đối tượng tham gia thị trường hối đoái  
Tùy theo luật lệ của mỗi quốc gia mà đối tượng tham gia vào thị trường hối đoái có thể  
có những khác nhau. Nhưng có thể có 4 đối tượng sâu đây: các ngân hàng thương mại, các nhà  
môi giới, ngân hàng trung ương, các công ty kinh doanh.  
Các ngân hàng thương mại  
Đây là nhân vật chính của thị trường. Các ngân hàng này mua bán ngoại tệ không chỉ để  
thực hiện các lệnh của khách hàng mà còn kinh doanh cho chính bản thân các ngân hàng. Các  
ngân hàng lớn còn hình thành bộ phận kinh doanh ngoại tệ quốc tế. Bộ phận này có vai trò quan  
trọng trong việc điều phối vốn, kinh doanh tiền gửi, mua bán ngoại tệ. Nó được trang bị nhiều  
phương tiện thông tin hiện đại như telex, fax, điện thoại, máy tính. Bộ phận này thường bao gồm  
các tiểu bộ phận sau đây:  
- Tiểu bộ phận chuyên kinh doanh mua bán ngoại tệ  
- Tiểu bộ phận gồm các nhà phân tích để dự đoán tỷ giá, tính toán tỷ giá  
- Tiểu bộ phận quản trị, kiểm soát.  
Các nhà môi giới  
Họ là trung tâm giữa ngân hàng và qua đó họ phân tích các hoạt động của thị trường bằng  
cách làm cho cung và c ầu tiếp cận nhau. Họ cung cấp cho khách hn àg những thông tin tức thời  
về thị trường, khả năng tìm thấy bạn hàng khi cần gọi, họ bảo đảm cho sự vận hành tốt của cơ  
chế thị trường và qua liên lạc màn hình giữa người mua và người bán cho tới khi thỏa thuận  
được giao dịch. Với những thuận lợi, công lao của họ dành cho khách hàng nên nhà môi giới  
được tả công cho từng giao dịch mua bán.  
Ví dụ: Tiền phí cho môi giới ở Singapore là 25 SGD/ 1 triệu USD mua bán.  
Ngân hàng trung ương:  
Họ tham gia thị trường với 2 danh nghĩa. Một mặt như mọi ngân hàng khác họ tham gia  
thị trường hối đoái là nhằm phục vụ khách h àng của mình; mặt khác họ tham gia với tư cách là  
cơ quan giám sát thị trường nhằm điều khiển hoạt động của thị trường trong khuôn khổ các quy  
định của luật pháp. Đồng thời qua đó Ngân hàng trung ương theo d õi biến động củ đồng bản tệ  
để có thể can thiệp vào thị trường khi cần thiết nhằm duy trì ổn định đồng bản tệ.  
Các công ty kinh doanh  
Các công ty này tham gia mua bán ngo ại tệ để thanh toán các khoản nợ thương mại. Dịch  
vụ, đầu tư nước ngoài. Thông thường đó là công ty xuất nhập khẩu, dịch vụ quốc tế ... kể cả  
khách du lịch quốc tế.  
2.9.5. Các nghiệp vụ hối đoái cơ bản  
Trong khuôn khổ môn học này chúng tôi giới thiệu 4 nghiệp vụ hối đ oái cơ bản bao gồm  
nghiệp vụ giao ngay, nghiệp vụ có kỳ hạn, nghiệp vụ giao hoán đổi và nghiệp vụ quyền chọn.  
Nghiệp vụ giao ngay (SPOT)  
Đó là nghiệp vụ phổ biến và chiếm tỷ trọng lớn trong các nghiệp vụ hối đoái. Nghiệp vụ  
giao là hoạt động mua bán ngoại tệ mà theo đó việc chuyển giao ngoại tệ được thực hiện ngay,  
theo tỷ giá đã được thỏa thuận.  
Nhưng chữ giao ngay ở đây không có nghĩa là ngay tức khắc mà thông thường giữa ngày  
giao dịch (ngày thỏa thuận) và ngày thanh toán (ngày giá trị) cách nhau 2 ngày. Đây là thời gian  
cần thiết để tiến hành các bút toán, kế toán, để thực hiện lệnh thanh toán chuyển tiền giữa các  
Ngân hàng quốc gia. Như vậy nếu bạn muốn mua ngoại tệ để chuyển trả cho một công ty Pháp  
chẳng hạn vào ngày 12/9 thì bạn phải mua trên thị trường vào ngày 10/9 và không kể ngày lễ,  
thứ bảy và chủ nhật.  
Một trong những khó khăn trong quan hệ thanh toán quốc tế là cơ chế chuyển nhượng tiền  
tệ. Bởi vì khi ký kết hợp đồng mua bán, các bên mua bán phải thỏa thuận với nhau là dùng đồng  
20  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 166 trang myanh 20020 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Bài giảng Thanh toán quốc tế - Phan Thị Minh Lý", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbai_giang_thanh_toan_quoc_te_phan_thi_minh_ly.pdf