Giáo trình Bảo vệ rơle và tự động hóa - Chương 3: Bảo vệ dòng có hướng

21  
Chương3: BẢO VỆ DÒNG CÓ HƯỚNG  
I. Nguyên tắc tác động:  
Hình 3.1 : Mạng hở có nguồn cung cấp 2 phía.  
Để đảm bảo cắt chọn lọc hư  
hỏng trong mạng hở có một vài  
nguồn cung cấp, cũng như trong  
mạng vòng có một nguồn cung cấp từ  
khoảng năm 1910 người ta bắt đầu  
dùng bảo vệ dòng có hướng.  
Bảo vệ dòng điện có hướng  
là loại bảo vệ phản ứng theo giá trị  
dòng điện tại chỗ nối bảo vệ và góc  
pha giữa dòng điện đó với điện áp  
trên thanh góp của trạm có đặt bảo  
vệ. Bảo vệ sẽ tác động nếu dòng điện  
vượt quá giá trị định trước (dòng  
khởi động IKĐ) và góc pha phù hợp  
với trường hợp ngắn mạch trên  
đường dây được bảo vệ.  
Hình 3.2 : Mạng vòng có 1 nguồn  
cung cấp  
II. Sơ đồ BV dòng có hướng:  
Trường hợp tổng quát, bảo vệ dòng điện có hướng gồm 3 bộ phận chính: khởi động,  
định hướng công suất và tạo thời gian (hình 3.3). Bộ phận định hướng công suất của bảo  
vệ được cung cấp từ máy biến dòng (BI) và máy biến điện áp (BU). Để bảo vệ tác động đi  
cắt, tất cả các bộ phận của bảo vệ cần phải tác động.  
Bằng việc khảo sát sự làm việc của rơle định hướng công suất khi hư hỏng trong và  
ngoài vùng bảo vệ ta sẽ rút ra được những tính chất mới của bảo vệ dòng có thêm rơle định  
hướng công suất.  
Khi ngắn mạch trên đoạn AB (tại điểm N’ gần thanh góp B, hình 3.2) trong vùng tác  
động của bảo vệ 2, đồ thị véctơ các dòng điện I’N , I”N và IN = I’N +I”N như trên hình 3.4a.  
22  
Các dòng điện này chậm sau sức điện động Ep của nguồn cung cấp một góc ϕHT và chúng  
tạo nên một góc ϕD so với áp dư UpB trên thanh góp trạm B. Khi ngắn mạch trên đoạn BC  
gần thanh góp B (điểm N”, hình 3.2), đồ thị véctơ các dòng điện đó thực tế vẫn giống như  
đối với điểm N’ (hình 3.4b). Ap dư UpB không thay đổi về góc pha. Nếu chọn dòng IR2 của  
bảo vệ 2 có hướng từ thanh góp B vào đường dây AB (hình 3.2) và lấy UR2 = UPB thì có  
thể xác định được quan hệ góc pha giữa IR2 và UR2 khi ngắn mạch ở điểm N’ và N”.  
Hình 3.3 : Sơ đồ nguyên lí 1 pha của bảo vệ dòng có hướng.  
Lấy véctơ điện áp UR2 làm gốc để xác định góc pha của IR2. Góc lệch pha được coi là  
dương khi dòng chậm sau áp và âm khi vượt trước.  
Khi ngắn mạch ở N’, công suất ngắn mạch hướng từ thanh góp B vào đường dây  
AB, lúc ấy I’R2 = I’N và ϕ‘R2 = góc (UR2,IR2) = ϕD. Khi ngắn mạch ở N” công suất ngắn  
mạch hướng từ đường dây AB đến thanh góp B, I”R2 = - I”N và ϕ“R2 = ϕD- 1800. Như vậy  
khi dịch chuyển điểm hư hỏng từ vùng được bảo vệ ra vùng không được bảo vệ, góc pha  
của IR2 đặt vào rơle của bảo vệ 2 so với UR2 đã thay đổi 1800 (giống như sự đổi hướng của  
công suất ngắn mạch). Nối rơle định hướng công suất thế nào để nó khởi động khi nhận  
được góc ϕ‘R2 (công suất ngắn mạch hướng từ thanh góp vào đường dây) và không khởi  
động khi nhận được góc ϕ‘’R2 khác với ϕ‘R2 một góc 1800 (công suất ngắn mạch hướng từ  
đường dây vào thanh góp) và như vậy ta có thể thực hiện được bảo vệ có hướng.  
Hình 3.4 : Đồ thị vectơ áp và dòng khi hướng công suất NM  
đi từ thanh góp vào đường dây (a) và từ đường dây vào thanh góp (b)  
23  
III. Thời gian làm việc:  
Bảo vệ dòng có hướng thường được thực hiện với đặc tính thời gian độc lập, thời  
gian làm việc của các bảo vệ được xác định theo nguyên tắc bậc thang ngược chiều  
nhau. Tất cả các bảo vệ của mạng được chia thành 2 nhóm theo hướng tác động của bộ  
phận định hướng công suất. Thời gian làm việc của mỗi nhóm được chọn theo nguyên tắc  
bậc thang như đã xét đối với bảo vệ dòng cực đại.  
Xét ví dụ về nguyên tắc chọn thời gian làm việc của các bảo vệ trong mạng hở có  
nguồn cung cấp 2 phía (hình 3.5a).  
Hình 3.5 : Đặc tính thời gian làm việc của các bảo vệ dòng có hướng  
Bộ phận định hướng công suất chỉ làm việc khi hướng công suất ngắn mạch đi từ  
thanh góp vào đường dây được bảo vệ (quy ước vẽ bằng mũi tên ở bảo vệ). Các bảo vệ  
được chia thành 2 nhóm : 2, 4, 6, và 5, 3, 1.  
Mỗi nhóm bảo vệ có thể chọn thời gian làm việc theo nguyên tắc bậc thang không  
phụ thuộc vào thời gian làm việc của nhóm kia. Trên hình 3.5b là đặc tính thời gian của  
các bảo vệ được chọn theo nguyên tắc bậc thang ngược chiều nhau.  
Tương tự cũng có thể chọn thời gian làm việc của bảo vệ dòng cực đại có hướng cho  
mạng vòng có một nguồn cung cấp (hình 3.2). Điểm khác biệt là thời gian làm việc của  
bảo vệ 2 và 5 có thể chọn ≈ 0.  
IV. Hiện tượng khởi động không đồng thời:  
Khi ngắn mạch, ví dụ ở đoạn AB rất gần thanh góp trạm A (điểm N’’’ - hình 3.2),  
hầu như toàn bộ dòng ngắn mạch đều hướng đến điểm ngắn mạch qua máy cắt 1, còn phần  
dòng chạy theo mạch vòng ngang qua máy cắt 6 rất bé (gần bằng 0). Kết quả là bảo vệ 2 sẽ  
không tác động được vào thời điểm đầu của ngắn mạch (dù rằng nó có thời gian làm việc  
bé nhất). Bảo vệ 1 của đường dây AB sẽ tác động trước cắt máy cắt 1, lúc ấy bảo vệ 2 mới  
có thể làm việc.  
Hiện tượng 1 trong 2 bảo vệ ở hai phía của một đường dây chỉ có thể bắt đầu làm  
việc sau khi bảo vệ kia đã tác động và cắt máy cắt của mình được gọi là hiện tượng khởi  
động không đồng thời của các bảo vệ.  
24  
Phần chiều dài của đường dây được bảo vệ mà khi ngắn mạch trong đó sẽ xảy ra hiện  
tượng khởi động không đồng thời được gọi là vùng khởi động không đồng thời. Khởi  
động không đồng thời các bảo vệ là hiện tượng không tốt vì làm tăng thời gian loại trừ hư  
hỏng ở các mạng vòng.  
V. Dòng khởi động của bảo vệ:  
V.1. Chỉnh định khỏi dòng quá độ sau khi cắt ngắn mạch ngoài:  
kat .kmm  
IKĐ  
≥
⋅Ilvmax  
ktv  
Trong đó: Ilvmax là dòng làm việc cực đại đi qua bảo vệ theo hướng phù hợp với hướng tác  
động của bộ phận định hướng công suất.  
Một số bảo vệ dòng có hướng có thể không có bộ phận định hướng công suất (sẽ xét  
đến ở mục VI). Khi chọn dòng khởi động của các bảo vệ đó phải lấy Ilvmax không kể đến  
dấu của công suất phụ tải đi ngang qua bảo vệ. Chính vì vậy trong một số trường hợp để  
nâng cao độ nhạy của các bảo vệ, người ta vẫn đặt bộ phận định hướng công suất mặc dù  
về mặt thời gian để đảm bảo chọn lọc bảo vệ không cần phải có bộ phận này.  
V.2. Chỉnh định khỏi dòng phụ tải:  
Mạch điện áp của bảo vệ được cung cấp từ các BU có khả năng bị hư hỏng trong quá  
trình vận hành. Trị số và góc pha của điện áp UR đặt vào rơle khi đó thay đổi và rơle định  
hướng công suất có thể xác định hướng không đúng. Để bảo vệ không tác động nhầm,  
dòng khởi động của bảo vệ cần chọn lớn hơn dòng phụ tải Ilv của đường dây được bảo vệ  
không phụ thuộc vào chiều của nó :  
kat  
ktv  
IKĐ  
≥
⋅ Ilv  
Trong một số trường hợp dòng khởi động chọn theo điều kiện này có thể lớn hơn  
theo điều kiện (a). Chẳng hạn như đối với bảo vệ 2 của đoạn gần nguồn trong mạng vòng  
(hình 3.2), công suất phụ tải luôn luôn hướng từ đường dây vào thanh góp, nếu không quan  
tâm đến hư hỏng trong mạch điện áp có thể chọn IKĐ < Ilv. Để tăng độ nhạy của bảo vệ  
trong những trường hợp như vậy đôi khi cho phép chọn IKĐ theo dòng phụ tải bình thường  
chứ không phải theo dòng làm việc cực đại với giả thiết là không hư hỏng mạch điện áp  
vào lúc phụ tải cực đại.  
V.3. Chỉnh định khỏi dòng các pha không hư hỏng:  
Đối với một số dạng hư hỏng, ví dụ N(1) trong mạng có trung tính nối đất trực tiếp,  
dòng các pha không hư hỏng bao gồm dòng phụ tải và dòng hư hỏng. Dòng này có thể rất  
lớn, rơle định hướng công suất nối vào dòng pha không hư hỏng có thể xác định không  
đúng dấu công suất ngắn mạch. Vì vậy dòng khởi động bảo vệ cần chọn lớn hơn giá trị  
cực đại của dòng các pha không hư hỏng.  
Để tránh tác động nhầm người ta cũng có thể thực hiện sơ đồ tự động khóa bảo vệ  
khi trong mạng xuất hiện dòng thứ tự không. Để chống ngắn mạch chạm đất người ta dùng  
bảo vệ có hướng thứ tự không đặc biệt.  
25  
V.4. Phối hợp độ nhạy của bảo vệ các đoạn kề nhau:  
Để phối hợp về độ nhạy giữa các bảo vệ cần chọn dòng khởi động của bảo vệ sau  
(thứ n - gần nguồn hơn) lớn hơn dòng cực đại đi qua nó khi ngắn mạch trong vùng tác  
động của bảo vệ trước (thứ n-1) kèm theo dòng ngắn mạch IN = IKĐn-1, với IKĐn-1 là dòng  
khởi động của bảo vệ thứ n-1. Việc phối hợp được thực hiện đối với các bảo vệ tác động  
theo cùng một hướng.  
Đối với mạng vòng (hình 3.2) không thực hiện điều kiện này có thể làm cho bảo vệ  
tác động không đúng khi cắt hư hỏng không đồng thời. Trong mạng vòng có một nguồn  
cung cấp việc phối hợp về độ nhạy thực tế dẫn đến điều kiện chọn:  
IKĐn ≥ kat.IKĐn-1  
Hệ số an toàn kat kể đến sai số của BI và rơle dòng cũng như kể đến ảnh hưởng của  
dòng phụ tải ở các trạm trung gian.  
VI. Chỗ cần đặt bảo vệ có bộ phận định hướng công  
suất:  
Khi chọn thời gian làm việc của bảo vệ dòng có hướng, chúng ta đã giả thiết tất cả  
các bảo vệ đều có bộ phận định hướng công suất. Tuy nhiên trong thực tế chúng chỉ cần  
thiết khi tính chọn lọc không thể đảm bảo được bằng cách chọn thời gian làm việc. Hay nói  
cách khác, bảo vệ sẽ không cần phải có bộ phận định hướng công suất nếu thời gian làm  
việc của nó lớn hơn thời gian làm việc của bảo vệ tất cả các phần tử khác trong trạm.  
Ví dụ như khảo sát tác động của các bảo vệ trên hình 3.5 ta thấy rằng bảo vệ 6 có thể  
không cần bộ phận định hướng công suất, vì tính chọn lọc tác động của nó khi ngắn mạch  
ở các phần tử khác của trạm D được đảm bảo bằng thời gian làm việc t6 > tD. Cũng có thể  
thấy rằng bảo vệ 5 đặt ở đầu kia của đường dây CD có thời gian t5 < t6 và cần phải có bộ  
phận định hướng công suất. Như vậy ở mỗi một đường dây của mạng chỉ cần đặt bộ phận  
định hướng công suất cho bảo vệ ở đầu có thời gian làm việc bé hơn. Khi thời gian làm  
việc của cả 2 bảo vệ của một đường dây bằng nhau thì cả 2 không cần đặt bộ phận định  
hướng công suất.  
Do vậy trong một số trường hợp, bằng cách tăng thời gian làm việc của các bảo vệ so  
với trị số tính toán, có thể không cần đặt bộ phận định hướng công suất ở phần lớn các bảo  
vệ của mạng.  
VII. Độ nhạy của bảo vệ :  
Độ nhạy của bảo vệ dòng cực đại có hướng được quyết định bởi hai bộ phận: khởi  
động dòng và định hướng công suất. Độ nhạy về dòng của bảo vệ được tính toán giống  
như đối với bảo vệ dòng cực đại.  
Điều cần quan tâm đối với bảo vệ dòng có hướng là độ nhạy của bộ phận định hướng  
công suất. Khi xảy ra N(3) ở đầu đường dây được bảo vệ gần chỗ nối bảo vệ, điện áp từ các  
BU đưa vào bảo vệ có giá trị gần bằng không. Trong trường hợp này, bảo vệ và rơle định  
hướng công suất sẽ không khởi động.  
Vì vậy độ nhạy của bộ phận định hướng công suất được đặc trưng bằng vùng chết.  
Vùng chết là phần chiều dài đường dây được bảo vệ mà khi ngắn mạch trực tiếp trong đó  
bảo vệ sẽ không khởi động do áp đưa vào rơle định hướng công suất bé hơn áp khởi động  
tối thiểu UKĐRmin của nó.  
26  
Kinh nghiệm vận hành cho thấy ở mạng điện trên không vùng chết ít xuất hiện hơn  
so với ở mạng cáp, vì trong các mạng cáp thường xảy ra N(3) hơn.  
Xét sơ đồ hình 3.6, gọi chiều dài vùng chết là lx , áp dư tại chỗ đặt bảo vệ khi ngắn  
mạch 3 pha tại điểm N (điểm giới hạn của vùng chết) là:  
U(d3) = 3.I(3).Z1.lx  
trong đó Z1  
: tổng trở thứ tự thuận của 1Km đường dây.  
Hình 3.6 : Ngắn mạch 3 pha trực tiếp ở biên giới của vùng chết  
Trường hợp bộ phận định hướng dùng rơle điện cơ, để rơle có thể khởi động ở giới  
hạn của vùng chết cần có :  
UR.cos(ϕR + α ) = UKĐRmin  
U(d3)  
nU  
3
nU  
Mặt khác ta có:  
UR =  
=
I(3) .Z1.lx  
Với ϕR : góc giữa UR và IR  
α : góc phụ của rơle, tùy thuộc cấu trúc của rơle  
nU : tỷ số biến đổi của BU  
nU  
UKÂ Rmin  
Như vậy :  
lx =  
.
3Z1 I(3) .cosϕR.α  
VIII. Đặc tính của rơle định hướng công suất:  
Trong tr.hợp lí tưởng, sự làm việc của rơle định hướng công suất thực hiện theo  
nguyên tắc điện cơ (ví dụ, rơle cảm ứng) cũng như theo các nguyên tắc khác (ví dụ, rơle so  
sánh trị tuyệt đối các đại lượng điện) được xác định bằng biểu thức:  
cos(ϕR + α) ≥ 0  
(3.1)  
Như vậy phạm vi góc ϕR mà rơle có thể khởi động được là:  
90o ≥ (ϕR+α) ≥ -900  
hay  
(90o - α) ≥ ϕR ≥ -(900 + α)  
(3.2)  
27  
Hình 3.7 : Đặc tính góc của rơle  
định hướng công suất trong mặt  
phẳng phức tổng trở  
Hình 3.8 : Đặc tính góc của rơle định  
hướng công suất trong mặt phẳng phức  
tổng trở khi cố định vectơ áp UR  
Đặc tính của rơle theo biểu thức (3.2) được gọi là đặc tính góc, có thể biểu diễn trên  
.
.
mặt phẳng phức tổng trở ZR = U R/ I (hình 3.7)  
R
Góc ϕR được tính từ trục thực (+) theo hướng ngược chiều kim đồng hồ. Vectơ dòng  
IR được giả thiết là cố định trên trục (+), còn vectơ UR và ZR quay đi một góc ϕR so với  
vectơ IR. Trong mặt phẳng phức, đặc tính góc theo biểu thức (3.2) được biểu diễn bằng  
đường thẳng đi qua gốc tọa độ nghiêng một góc (90o - α) so với trục (+). Đường thẳng này  
chia mặt phẳng phức thành 2 phần, phần có gạch chéo (hình 3.7) tương ứng với các góc ϕR  
mà lúc đó rơle định hướng công suất có thể khởi động được.  
Biểu diễn đặc tính góc trên mặt phẳng phức tổng trở rất tiện lợi để khảo sát sự làm  
việc của rơle định hướng công suất đối với các dạng ngắn mạch khác nhau trong mạng  
điện. Trong một số trường hợp, người ta cố định hướng vectơ áp UR (hình 3.8). Phạm vi  
tác động được giới hạn bởi một đường thẳng còn gọi là đường độ nhạy bằng 0 (vì cos(ϕR +  
α) = 0). Đường thẳng này lệch so với UR một góc (90o -α) theo chiều kim đồng hồ. Đường  
độ nhạy cực đại (tương ứng với cos(ϕR + α) = 1) thẳng góc với đường độ nhạy bằng 0 và  
lệch so với UR một góc α ngược chiều kim đồng hồ, góc tương ứng với nó ϕR = ϕRn max = -  
α được gọi là góc độ nhạy cực đại.  
IX. NỐI RƠLE ĐỊNH HƯỚNG CÔNG SUẤT VÀO  
DÒNG PHA VÀ ÁP DÂY THEO SƠ ĐỒ 90O:  
28  
Bảng 3.1:  
STT của rơle  
IR  
UR  
1
2
3
Ia  
Ib  
Ic  
Ubc  
Uca  
Uab  
Hình 3.9 : Đồ thị véctơ áp và dòng khi nối  
rơle định hướng công suất theo sơ đồ 900  
Hình 3.10 : Ngắn mạch trên  
đường dây  
Trong sơ đồ này (bảng 3.1 và hình 3.9), đưa đến các đầu cực rơle là dòng một pha (ví  
dụ đối với rơle số 1, dòng IR= Ia) và áp giữa hai pha khác (tương ứng UR = Ubc ) chậm sau  
dòng pha đó một góc 900 với giả thiết là dòng (Ia) trùng pha với áp pha cùng tên (Ua). Qua  
khảo sát cho thấy rằng, để sơ đồ làm việc đúng đắn cần có góc lệch của rơle α ≈ 300 ÷ 450,  
do đó rơle sẽ phản ứng với cos[ϕR+ (30÷450)]. Việc kiểm tra hoạt động của sơ đồ đối với  
các dạng ngắn mạch khác nhau có thể thực hiện bằng cách cho vị trí của véctơ UR cố định  
và véctơ dòng IR xoay quanh nó. Đường độ nhạy bằng 0 lúc đó lệch so với véctơ điện áp  
UR một góc 900- α (về phía chậm sau), còn đường độ nhạy cực đại vượt trước UR một góc  
α.  
IX.1. Ngắn mạch 3 pha đối xứng:  
Tất cả các rơle của sơ đồ đều làm việc trong những điều kiện giống nhau. Vì vậy ta  
chỉ khảo sát sự làm việc của một rơle (rơle số 1) có I1R = Ia(3) và U1R = Ubc(3). Đồ thị véctơ  
áp Ubc(3) ở chỗ nối rơle và véctơ dòng Ia(3) như trên hình 3.11a. Đường độ nhạy bằng 0 lệch  
(3)  
(3)  
với điện áp Ubc một góc 900 - 450 = 450 (giả thiết rơle có góc α = 45o). Góc ϕN giữa  
Ia(3) và Ua(3) được xác định bằng tổng trở thứ tự thuận một pha của phần đường dây trước  
điểm ngắn mạch N và điện trở quá độ rqđ ở chỗ hư hỏng (hình 3.10).  
(3)  
(3)  
Giá trị ϕN nằm trong phạm vi 0 ≤ ϕN ≤ 900. Từ đồ thị hình 3.11a ta thấy ở các  
giá trị ϕN(3) bất kỳ trong phạm vi trên, rơle sẽ làm việc đúng nếu Ubc(3) có giá trị đủ để rơle  
làm việc. Khi góc ϕN = 450 hướng véctơ dòng điện trùng với đường độ nhạy cực đại và  
(3)  
do đó sơ đồ sẽ làm việc ở điều kiện thuận lợi nhất. Khi chọn α = 0 sơ đồ có thể không tác  
động khi ngắn mạch ở đầu đường dây qua điện trở quá độ rqđ.  
29  
Hình 3.11 : Đồ thị véctơ áp và dòng  
ở chỗ nối rơle đối với các  
dạng ngắn mạch khác nhau  
a) Ngắn mạch 3 pha  
b) Ngắn mạch 2 pha B,C  
c)Ngắn mạch pha A chạm đất  
IX.2. Ngắn mạch giữa 2 pha:  
Điều kiện làm việc của các rơle nối vào dòng các pha hư hỏng là không giống nhau.  
Vì vậy, chẳng hạn như khi ngắn mạch giữa hai pha B, C cần xét đến sự làm việc của rơle  
(2)  
số 2 có I2R = Ib và U2R = Uca(2) cũng như của rơle số 3 có I3R = Ic(2) và U3R = Uab(2) . Vấn  
đề cũng trở nên phức tạp hơn so với N(3) do góc pha giữa UR và IR thay đổi khi dịch  
chuyển điểm ngắn mạch N dọc theo đường dây. Trên hình 3.11b là đồ thị véctơ áp và dòng  
đối với trường hợp điểm ngắn mạch N nằm ở khoảng giữa đường dây (hình 3.10). Các  
đường độ nhạy bằng 0 lệch với các áp Uca(2) ,Uab(2) một góc 450. Vị trí véctơ dòng Ib(2) lệch  
(2)  
với sức điện động Ebc một góc ϕN(2). Góc ϕN được xác định bằng tổng trở từ nguồn sức  
điện động đến chỗ ngắn mạch kể cả rqđ ; trị số của nó có thể thay đổi trong phạm vi 0 ≤  
ϕN(2) ≤ 900 . Từ đồ thị ta thấy, trị số của điện áp U2R và U3R luôn luôn lớn và cả hai rơle (số  
2 và 3) đều làm việc đúng đắn ở giá trị ϕN(2) bất kỳ.  
IX.3. Ngắn mạch một pha trong mạng có trung tính nối đất trực tiếp:  
Ta khảo sát sự làm việc của rơle nối vào dòng pha hư hỏng (rơle số 1 khi ngắn mạch  
(1)  
pha A). Đường độ nhạy bằng 0 lệch 450 so với véctơ áp giữa 2 pha không hư hỏng Ubc  
(hình 3.11c). Góc ϕN giữa sức điện động Ea và dòng Ia(1) có thể thay đổi trong phạm vi  
(1)  
0≤ϕN(1)≤ 900. Qua đồ thị ta thấy, rơle nối vào dòng pha hư hỏng luôn luôn làm việc đúng.  
Từ những phân tích trên có thể rút ra kết luận như sau đối với sơ đồ 900:  
1) Sơ đồ có thể xác định đúng hướng công suất ngắn mạch trong các pha bị hư hỏng  
đối với tất cả các dạng hư hỏng cơ bản. Để được như vậy rơle định hướng công suất cần  
phải có góc lệch α ≈450.  
30  
2) Vùng chết chỉ có thể xảy ra khi ngắn mạch 3 pha gần chỗ nối bảo vệ (UR gần  
bằng không).  
3) Khi N(2) và N(1), các rơle nối vào dòng pha không hư hỏng có thể làm việc không  
đúng do tác dụng của dòng phụ tải và dòng hư hỏng trong các pha này. Vì vậy cần phải  
làm thế nào để sơ đồ vẫn làm việc đúng dù cho có một vài rơle tác động nhầm do dòng các  
pha không hư hỏng.  
Cũng có một số sơ đồ khác để nối rơ le định hướng công suất như sơ đồ 300 (ví dụ,  
IR= Ia và UR = Uab), hoặc sơ đồ 600 (ví dụ, IR= Ia và UR = -Ub). Tuy nhiên các sơ đồ này có  
một số nhược điểm so với sơ đồ 900, do vậy sơ đồ 900được sử dụng rộng rãi hơn.  
X. Bảo vệ dòng cắt nhanh có hướng:  
Bảo vệ dòng cắt nhanh có hướng là  
bảo vệ có hướng không thời gian mà tính  
chọn lọc tác động đạt được bằng cách  
chọn dòng khởi động IKĐ lớn hơn giá trị  
cực đại của dòng ngắn mạch ngoài INngmax  
đi theo hướng tác động của bộ phận định  
hướng công suất nếu như điều kiện chỉnh  
định theo dòng điện khi dao động (đối với  
bảo vệ cắt nhanh nối vào dòng pha toàn  
phần) không phải là điều kiện tính toán .  
Hình 3.21 : Đồ thị tính toán  
bảo vệ dòng cắt nhanh có hướng  
Trên hình 3.21 là đồ thị biểu diễn sự thay đổi của giá trị dòng điện trên đường dây  
AB có 2 nguồn cung cấp khi dịch chuyển điểm ngắn mạch dọc theo đường dây. Dòng khởi  
động của bảo vệ cắt nhanh không có hướng đối với đường dây này được chọn lớn hơn giá  
trị lớn nhất của các dòng ngắn mạch ngoài, đối với trường hợp như trên hình 3.21 thì  
IKĐ=kat.INngmaxA. Như vậy nối bảo vệ cắt nhanh về phía trạm B là không có ý nghĩa vì IKĐ  
luôn luôn lớn hơn dòng ngắn mạch đi qua bảo vệ đặt phía trạm B.  
Nếu ta đưa thêm bộ phận định hướng công suất vào bảo vệ cắt nhanh ở trạm B, thì có  
thể chọn dòng khởi động của nó không kể đến dòng INngmaxA. Dòng khởi động của bảo vệ B  
sẽ nhỏ hơn so với trường hợp dùng bảo vệ cắt nhanh không hướng nêu trên và bằng IKĐ B  
=
kat.INngmaxB. Trong trường hợp này bảo vệ cắt nhanh về phía trạm B sẽ có thể bảo vệ được  
phần lớn đường dây AB.  
XI. Đánh giá và phạm vi ứng dụng của Bảo vệ dòng có  
hướng:  
XI.1. Tính chọn lọc:  
Tính chọn lọc tác động của bảo vệ đạt được nhờ chọn thời gian làm việc theo nguyên  
tắc bậc thang ngược chiều nhau và dùng các bộ phận định hướng công suất.  
Tính chọn lọc được đảm bảo trong các mạng vòng có một nguồn cung cấp khi không  
có những đường chéo không qua nguồn (hình 3.22a,b) và trong các mạng hình tia có số  
nguồn cung cấp tùy ý (hình 3.22c).  
31  
Hình 3.22 : Các sơ đồ mạng mà  
Bảo vệ dòng có hướng đảm bảo  
cắt chọn lọc khi ngắn mạch  
Trong các mạng vòng có số nguồn cung cấp lớn hơn một (hình 3.23a), tính chọn lọc  
không thể đảm bảo vì không thể chọn thời gian làm việc theo nguyên tắc bậc thang. Bảo vệ  
cũng không đảm bảo chọn lọc trong các mạng vòng có một nguồn cung cấp có đường chéo  
không đi qua nguồn (hình 3.23b), trường hợp này phần mạng giới hạn bởi đường chéo có  
thể xem như có hai nguồn cung cấp.  
XI.2. Tác động nhanh:  
Giống như bảo vệ dòng cực đại (chương 2), trong đa số trường hợp bảo vệ có thời  
gian làm việc lớn.  
Hình 3.23 : Các sơ đồ mạng mà Bảo vệ dòng có hướng  
không đảm bảo cắt chọn lọc khi ngắn mạch  
XI.3. Độ nhạy:  
Độ nhạy của bảo vệ bị giới hạn bởi dòng khởi động của bộ phận khởi động. Trong  
các mạng hở có 2 hay nhiều nguồn cung cấp, ở một số chế độ ví dụ như sau khi cắt một  
32  
trong các nguồn cung cấp có công suất lớn và cưỡng bức kích từ máy phát của các nguồn  
còn lại thì dòng phụ tải cực đại có thể đạt tới giá trị lớn. Dòng khởi động được chỉnh định  
khỏi dòng phụ tải này thường làm cho bảo vệ hoàn toàn không đủ độ nhạy. Để tăng độ  
nhạy đôi khi người ta dùng những bộ phận khởi động liên hợp dòng và áp.  
Từ những nhận xét trên ta thấy rằng bảo vệ dòng có hướng có thể sử dụng làm bảo  
vệ chính trong các mạng phân phối điện áp dưới 35kV khi nó đảm bảo được tính chọn lọc  
và tác động nhanh.  
Bảo vệ dòng có hướng cũng được sử dụng rộng rãi làm bậc dự trữ trong các bảo vệ  
có đặc tính thời gian nhiều cấp.  
pdf 12 trang myanh 15161 Free
Bạn đang xem tài liệu "Giáo trình Bảo vệ rơle và tự động hóa - Chương 3: Bảo vệ dòng có hướng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_bao_ve_role_va_tu_dong_hoa_chuong_3_bao_ve_dong_c.pdf