Bộ bài tập nhóm môn Luật thương mại 2 (Dùng cho các lớp học từ kỳ 1 năm học 2021-2022) - Đại học Luật Hà Nội

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI  
KHOA PHÁP LUẬT KINH TẾ  
BỘ MÔN LUẬT THƯƠNG MẠI  
BỘ BÀI TẬP NHÓM  
MÔN: LUẬT THƯƠNG MẠI 2  
(Dùng cho các lớp học từ kỳ 1 năm học 2021-2022)  
Một số lưu ý:  
1. Đối với BT nhóm, các nhóm trong một lớp thảo luận không được  
phép chọn trùng bài tập  
2. Ghi rõ nguồn trích dẫn đối với từng đoạn viết có trích dẫn  
HÀ NỘI - 2021  
TM2-N1 (Tác giả: Ths. Nguyễn Ngọc Anh)  
Công ty cổ phần Cao Nguyên (chuyên sản xuất các sản phẩm cà phê) ký hợp  
đồng số 01 với Công ty trách nhiệm hữu hạn Đồng Bằng với nội dung: Công ty  
Đồng Bằng thay mặt Công ty Cao Nguyên để thực hiện hoạt động kinh doanh tại  
các tỉnh, thành phố thuộc khu vực miền Bắc  
Ngày 1/3/2019, Công ty Cao Nguyên vận chuyển 200 thùng hàng (cà phê  
cùng một loại) từ Buôn Ma Thuột tới trụ sở chính của Công ty Đồng Bằng ở Hà  
Nội. Nắm được thông tin, Doanh nghiệp tư nhân OHO (trụ sở chính tại quận Đống  
Đa) đã gửi đề nghị giao kết hợp đồng mua 100 thùng cà phê xay sẵn tới Công ty  
Đồng Bằng. Ngày 2/3/2019, hợp đồng mua bán 100 thùng cà phê (hợp đồng số 02)  
được ký kết. Dự kiến sáng này 3/3/2019, hàng có mặt tại trụ sở chính của Công ty  
Đồng Bằng. Tuy nhiên đang ở địa phận Thanh Hóa, vì gặp phải bão to, lô hàng bị  
hư hại 150 thùng cà phê.  
Câu hỏi:  
1. Với các kiến thức đã được học, hãy xác định các quan hệ pháp luật  
thương mại cụ thể được nêu trong tình huống trên.  
2. Giả sử, đại diện theo pháp luật duy nhất của Công ty Đồng Bằng là bà  
Đồng Thị Lúa. Bà Lúa cũng chính là chủ Doanh nghiệp tư nhân OHO. Hãy nhận  
xét về hiệu lực của hợp đồng mua bán số 02.  
3. Chủ thể nào phải chịu tổn thất hư hại 150 thùng cà phê?  
4. Giả sử, trong hợp đồng số 02 các bên thỏa thuận về địa điểm giao hàng là  
trụ sở chính của Doanh nghiệp tư nhân OHO. Thỏa thuận này có ảnh hưởng đến  
việc xác định chủ thể chịu tổn thất về việc hư hại 150 thùng cà phê không?  
5. Giả sử, em là luật sư đã được hai bên tìm đến để tư vấn các vấn đề pháp lý  
kể trên. Sau khi hoàn thành vụ việc, em rút ra được những kinh nghiệm chuyên  
môn (những vấn đề pháp lý cần lưu ý khi thực hiện pháp luật) nào cho bản thân khi  
giải quyết đối với các vụ việc tương tự về sau.  
TM2-N2 (Tác giả: Ths. Nguyễn Ngọc Anh)  
Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên X (công ty 100% vốn nước  
ngoài) chuyên kinh doanh các sản phẩm mứt làm từ rau, củ, quả. Công ty X có trụ  
sở chính tại Đà Lạt. Để chuẩn bị cho mùa tết âm lịch năm 2020, Công ty X sáng  
tạo và phát triển dòng sản phẩm mứt mới. Với chiến lược chuẩn bị cho việc phát  
triển thị trường, từ tháng 9/2019, Công ty X đã thực hiện một số hoạt động sau  
đây:  
- Công ty X quảng cáo trên các phương tiện như truyền hình, phát thanh,  
mạng internet.  
- Công ty X thông báo về chương trình khuyến mại nhân dịp Tết Nguyên  
Đán: mua các bộ sản phẩm mứt của công ty sẽ được tặng kèm một gói trà hoa quả.  
Đồng thời, các khách hàng mua sản phẩm có hóa đơn từ 300.000 đồng trở lên của  
công ty đều có cơ hội được tham gia “Vòng quay may mắn”. Khách hàng sẽ dùng  
điện thoại quét QR code có trên từng phiếu dự thi, nhập mã số của phiếu dự thi và  
tham gia quay trúng thưởng trên ứng dụng tải về máy điện thoại.  
- Đồng thời, Công ty X ký kết hợp đồng với Doanh nghiệp tư nhân Y  
(chuyên sản xuất bánh mứt kẹo cổ truyền, có cửa hàng nổi tiếng nằm trên phố  
Hoàng Hoa Thám, Hà Nội) để các sản phẩm mứt của Công ty X được bày bán tại  
cửa hàng của Doanh nghiệp tư nhân Y trong dịp giáp Tết Nguyên đán.  
1. Xác định các hoạt động thương mại mà Công ty X tiến hành?  
2. Công ty X có được tự thực hiện quảng cáo sản phẩm của mình không?  
3. Nêu thủ tục Công ty X cần thực hiện theo quy định pháp luật để tiến hành  
hoạt động quảng cáo và khuyến mại sản phẩm của công ty?  
4. Giả sử xảy ra sự kiện bất khả kháng làm hàng hóa của Công ty X đặt tại  
cửa hàng của Doanh nghiệp tư nhân Y bị hư hỏng. Ai là người phải gánh chịu tổn  
thất do hàng hóa bị hư hỏng?  
5. Giả sử, em là luật sư đã được hai bên tìm đến để tư vấn các vấn đề pháp lý  
kể trên. Sau khi hoàn thành vụ việc, em rút ra được những kinh nghiệm chuyên  
môn nào (những vấn đề pháp lý cần lưu ý khi thực hiện pháp luật) cho bản thân khi  
giải quyết đối với các vụ việc tương tự về sau.  
TM2-N3 (Tác giả: Ths. Nguyễn Ngọc Anh)  
Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Thu Hoa (kinh doanh sản phẩm  
trái cây) có trụ sở tại phố Nguyễn Công Hoan, Hà Nội. Người quản lý của công ty  
đã lập một trang bán hàng trên facebook nhằm tăng hiệu quả của việc kinh doanh.  
Trên trang mạng xã hội facebook của công ty xuất hiện thông báo như sau: “Công  
ty sẽ dành 3 hộp cherry loại 2kg mới được nhập về để trao thưởng cho khách hàng.  
Các khách hàng sẽ phải chia sẻ đường link theo chỉ dẫn, tag tên một vài người bạn  
trong danh sách bạn bè của mình, comment hai chữ số. Người dành được giải  
thưởng là người đã thực hiện đầy đủ các thao tác theo yêu cầu và có hai chữ số mà  
họ comment trùng với hai chữ số cuối của giải đặc biệt sổ xố kiến thiết”.  
1. Xác định loại hình khuyến mại mà Công ty Thu Hoa đã thực hiện?  
2. Nhận xét về tính hợp pháp của chương trình khuyến mại nói trên.  
3. Tư vấn về nội dung và thủ tục để Công ty Thu Hoa có thể thực hiện được  
chương trình khuyến mại theo đúng quy định pháp luật.  
4. Đối với các đơn đặt hàng trên mạng, khu vực ở quận nội thành Hà Nội,  
Công ty Thu Hoa cho nhân viên của mình mang hàng tới địa chỉ khách yêu cầu.  
Trong một đơn hàng giao 20 giỏ hoa quả cho khách ở Xuân La, Tây Hồ, nhân viên  
không thể liên lạc được với khách hàng và địa chỉ khách hàng cho là không chính  
xác. Công ty đã thông báo trên trang facebook bán hàng để khách nào gần đó có  
nhu cầu lấy hàng giúp và giảm giá 15%. Công ty X đã xác nhận mình sẽ lấy toàn  
bộ số hàng trên với. Có phải Công ty Thu Hoa đang thực hiện hành vi giảm giá với  
Công ty X không?  
5. Giả sử, em là luật sư đã được hai bên tìm đến để tư vấn các vấn đề pháp  
lý kể trên. Sau khi hoàn thành vụ việc, em rút ra được những kinh nghiệm chuyên  
môn nào (những vấn đề pháp lý cần lưu ý khi thực hiện pháp luật) cho bản thân  
khi giải quyết đối với các vụ việc tương tự về sau.  
TM2-N4 (Sưu tập và biên soạn: Ths. Nguyễn Quang Huy) (Dùng cho cả  
3 nhóm)  
Ông Ching Chong Đại là chủ sở hữu của thương hiệu trà sữa “Đai tea” ở Đài  
Loan được thành lập vào năm 2002. Trà sữa “Đai tea” rất phổ biến ở Đài Loan và  
đã bắt đầu vươn ra các thị trường khác trong khu vực Châu Á theo mô hình  
nhượng quyền thương mại như Laos, Campuchia, Myanmar. Trong thời gian này,  
quán cũng bổ sung một số thức uống và hương liệu bản địa để phù hợp với khẩu vị  
của địa phương.  
Tháng 7/2011, Ban giám đốc Đai tea ra quyết định mở rộng thị trường sang  
Việt Nam. Để tìm kiếm đối tác, Đai tea đưa ra chính sách giảm 30% phí nhượng  
quyền cho các cửa hàng mở trong 3 năm đầu tiên, với điều kiện bên nhận nhượng  
quyền phải mở tối thiểu 6 cửa hàng trong 3 năm đó. Cùng thời điểm đó, Đai tea đã  
tiến hành đăng ký hoạt động nhượng quyền tại Việt Nam với Bộ Công Thương và  
các quyền sở hữu trí tuệ đối với các nhãn hiệu và logo của Đai tea với Cục sở hữu  
trí tuệ.  
Ông Nguyễn Đức Anh là Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn nước giải  
khát Đa Đa có trụ sở ở TPHCM. Bắt trend trà sữa đang lên vào thời điểm bấy giờ,  
Công ty Đa Đa cũng tiến hành nghiên cứu thị trường, tìm kiếm một thương hiệu trà  
sữa để đưa về Việt Nam theo mô hình nhượng quyền thương mại. Tháng 5/2012,  
sau khi biết Đai tea đã có đầy đủ giấy phép nhượng quyền ở Việt Nam, ông Đức  
Anh chủ động liên hệ đại diện thương hiệu trà sữa Đai tea là ông Đai để đàm phán  
về vấn đề nhượng quyền. Ngày 27/6/2012, Công ty trách nhiệm hữu hạn nước giải  
khát Đa Đa (đại diện là ông Đức Anh) và thương hiệu trà sữa Đai tea (đại diện là  
ông Đại) chính thức ký hợp đồng nhượng quyền thương mại tại trụ sở Đa Đa ở  
TPHCM. Hợp đồng nhượng quyền có những nội dung đáng chú ý như sau:  
- Giấy phép nhượng quyền cấp cho Đa Đa là giấy phép không độc quyền.  
- Đa Đa được quyền sử dụng hệ thống của Đai tea, bao gồm tất cả nhãn hiệu,  
nhận diện thương hiệu Đai tea vào việc kinh doanh trà sữa trên lãnh thổ Việt Nam  
trong thời hạn 5 năm kể từ thời điểm ký hợp đồng này.  
- Bên nhận quyền không được nhượng quyền lại nếu không có sự đồng ý  
bằng văn bản của bên nhượng quyền.  
- Mỗi cửa hàng trong hệ thống Đai tea được đảm bảo một địa bàn kinh  
doanh phù hợp để khai thác quyền thương mại của hệ thống. Bên nhượng quyền sẽ  
không cấp phép sử dụng thương hiệu Đai tea cho bất cứ cửa hàng nào khác trong  
phạm vi địa bản của một cửa hàng đã được cấp phép, nếu không đảm bảo doanh  
thu của cửa hàng đã được cấp phép của bên nhận quyền sẽ không bị giảm sút  
- Tiêu chuẩn và tính đồng nhất:  
+ Bên nhận quyền phải tuân thủ hướng dẫn sử dụng hệ thống bao gồm  
nhưng không giới hạn những nội dung sau đây: bảng hiệu, cách xây dựng, bài trí  
cửa hàng, thực đơn, công thức pha chế, đồng phục nhân viên.  
+ Bên nhận quyền phải bán tất cả các mục trên thực đơn menu và các sản  
phẩm khác phù hợp với các tiêu chuẩn, quy chuẩn và yêu cầu khác của Đai tea.  
- Vi phạm và chấm dứt:  
+ Nếu bên nhượng quyền có hành vi vi phạm hợp đồng dẫn tới thiệt hại đáng  
kể cho hoạt động kinh doanh của bất kỳ cửa hàng nào do bên nhận quyền quản lý,  
thì bên nhượng quyền sẽ phải bồi thường cho bên nhận quyền bằng cách miễn hoặc  
giảm phí nhượng quyền bổ sung cho cửa hàng liên quan hoặc một hình thức đền bù  
khác do các bên thỏa thuận.  
+ Nếu bên nhận quyền có hành vi vi phạm hợp đồng như được xác định dưới  
đây, bên nhượng quyền có thể chấm dứt Hợp đồng trong khoảng thời gian 30 ngày  
kể từ ngày bên nhận quyền nhận được thông báo vi phạm, nếu bên nhận quyền  
không khắc phục được hành vi vi phạm. Cụ thể: (i) Không lắp đặt và sử dụng thiết  
bị hoặc bài trí cửa hàng theo bài trí của bên nhượng quyền; (ii) Thay đổi menu đồ  
uống hoặc không sử dụng các nguyên liệu từ các nhà cung cấp mà bên nhượng  
quyền chỉ định; (iii) Không duy trì cửa hàng trong tình trạng tốt.  
- Giải quyết tranh chấp: Mọi tranh chấp phát sinh từ hoặc liên quan đến hợp  
đồng này, các bên sẽ giải quyết thông qua thương lượng đàm phán trên tinh thần  
hợp tác; nếu không đạt được thỏa thuận trong vòng 7 (bảy) ngày, vấn đề tranh chấp  
sẽ được giải quyết bằng trọng tài tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam  
(VIAC) theo quy tắc tố tụng trọng tài của Trung tâm này.  
Tháng 8/2012, Đa Đa mở cửa hàng nhượng quyền đầu tiên ở số 1 phố đi bộ  
Nguyễn Huệ, Quận 1. Tuy nhiên, do một số nhà cung cấp của Đai tea ở Đài Loan,  
Hongkong không thể cung cấp nguyên liệu, thiết bị pha trà cho Đa Đa do quy định  
hạn chế nhập khẩu của Việt Nam, ông Đức Anh đã gửi mail cho ông Đại đề xuất  
khắc phục bằng cách sử dụng nguyên liệu và thiết bị thay thế sẵn có ở Việt Nam.  
Ông Đại đồng ý nhưng lưu ý rằng việc chấp thuận chỉ là tạm thời. Sau gần 2 năm  
hoạt động, quán trà sữa mang thương hiệu Đai tea ở Quận 1 dần tạo được uy tín về  
chất lượng dịch vụ. Tháng 1/2014, Đa Đa bắt đầu tiến hành mở các quán trà sữa  
Đai tea ở các địa bàn khác. Tính tới tháng 9 cùng năm, Đa Đa đã mở được 3 quán  
trà mới, trong đó 01 quán tại quận 3, 01 quán tại quận 5 và 01 quán tại Bình  
Dương.  
Tháng 5/2015, Đai tea ký hợp đồng nhượng quyền với một đối tác Việt Nam  
khác là Công ty cổ phần Tập đoàn Huyền Trang có trụ sở ở Hà Nội. Đối tác này  
không được hưởng ưu đãi như Đa Đa nhưng với kinh nghiệm trong ngành F&B và  
tiềm lực tài chính mạnh, tới cuối năm 2015, Huyền Trang đã mở được 8 quán trà  
sữa Đai Tea: 02 quán ở Hà Nội, 01 quán ở Đà Nẵng và 05 quán ở TPHCM. Trong  
đó các quán Đai Tea ở TPHCM có vị trí khá gần với các quán Đai Tea của Đa Đa.  
Tháng 6/2015, Đai tea gửi thông báo đến Đa Đa yêu cầu Đa Đa phải tiến  
hành nhập khẩu thiết bị và nguyên liệu từ các nhà cung cấp Đài Loan, Hongkong  
của Đai tea. Ông Đức Anh rất không hài lòng về những sự kiện này, cho rằng nó  
ảnh hưởng tiêu cực tới công việc kinh doanh của Đa Đa. Ngày 26/07/2015, ông  
Đức Anh gửi email cho ông Đai với nội dung chính như sau:  
- Thị trường hiện đang tiếp nhận thương hiệu trà sữa Đai tea rất tốt nhờ công  
sức của Đa Đa  
- Việc Đai tea ký hợp đồng nhượng quyền với đối tác khác; mở nhiều quán  
trà trong cùng địa bàn một quận mà Đa Đa đã có cửa hàng làm ảnh hưởng đáng kể  
đến hoạt động kinh doanh của Đa Đa.  
- Việc yêu cầu Đa Đa phải nhập khẩu thiết bị và nguyên liệu từ nước ngoài  
sẽ làm gia tăng chi phí vận hành, gây thêm khó khăn cho Đa Đa.  
Ngày 27/07, ông Đại phản hồi email của ông Đức Anh, theo đó, ông Đại cho  
rằng:  
- Đai tea ghi nhận công sức của Đa Đa trong việc bước đầu gây dựng thương  
hiệu cho Đai tea ở Việt Nam  
- Quận 1, quận 3, quận 5 là những quận trung tâm của TPHCM, đang có sự  
gia tăng nhanh của các chung cư cao cấp, tòa nhà văn phòng, trung tâm thương  
mại, do đó việc Đai tea gia tăng số cửa hàng hiện diện ở khu vực này sẽ không gây  
ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh của Đa Đa.  
Tháng 09/2015, Ông Đai cử ông Hiệp bí mật tiến hành thanh tra hoạt động  
của các cửa hàng Đai tea thuộc hệ thống của Đa Đa tại Việt Nam. Ông Hiệp báo  
cáo một số vi phạm như sau:  
- Một số thức uống tại các cửa hàng của Đa Đa có thêm một số hương liệu  
Việt Nam vào công thức pha chế khác với công thức được hướng dẫn như là trái  
tắc (quả quất), thạch dừa, hạt đỗ đen.  
- Menu đồ uống có xuất hiện một số đồ uống mới không có trong Menu gốc  
của Đai tea như trà chanh, trà cỏ thơm. Theo ghi nhận tại các cửa hàng ở TPHCM  
thì những thức uống này bán khá chạy.  
- Màu sơn đỏ trong các quán trà sữa của Đa Đa có màu nhạt hơn so với màu  
đỏ trên logo gốc của Đai tea.  
Ngày 20/09/2015, ông Đại đã viết email gửi cho ông Đức Anh với nội dung:  
- Chúng tôi đã phát hiện những sai phạm của Đa Đa so với các nghĩa vụ đã  
ký kết theo hợp đồng nhượng quyền. Chúng tôi yêu cầu ông phải có những biện  
pháp khẩn cấp để điều chỉnh những vi phạm liên quan tới công thức pha chế, menu  
đồ uống và màu sơn trong các quán trà của Đa Đa.  
- Mặc dù việc bổ sung vào đồ uống hương liệu thuần Việt là thể giúp tăng  
doanh số bán hàng, tuy nhiên hợp đồng quy định rõ Đa Đa không được bổ sung  
thay đổi menu, công thức pha chế mà không được sự đồng ý của chúng tôi. Tính  
đồng bộ, thống nhất của hệ thống là vô cùng quan trọng với chúng tôi.  
- Nếu Đa Đa không có hành vi kịp thời khắc phục các vi phạm liên quan,  
chúng tôi có thể sẽ phải chấm dứt hợp đồng nhượng quyền với Đa Đa theo đúng  
quy định trong Hợp đồng.  
Ngày 20/12/2015, ông Hiệp tiếp tục sang Việt Nam để kiểm tra tình trạng  
hoạt động của các quán trà sữa thuộc hệ thống Đa Đa và có ghi nhận như sau:  
- Màu sơn trong các cửa hàng của Đa Đa được sơn đỏ lại như yêu cầu  
- Menu đồ uống đã được xây dựng lại, bỏ đi các đồ uống, các lựa chọn về  
hương liệu Việt Nam được thêm vào đồ uống (topping) như theo yêu cầu của Đai  
tea. Tuy nhiên, trên thực tế, nhân viên vẫn phục vụ những đồ uống và topping đó  
nếu được yêu cầu. Một số nhân viên còn gợi ý khách hàng có muốn thêm thạch  
dừa hay đỗ đen hay không?  
- Ông Hiệp đã thử uống một số đồ uống thêm vào thạch dừa, trái tắc và hạt  
đỗ đen, mặc dù hương liệu thêm vào làm thay đổi vị của đồ uống nhưng vẫn có  
hương vị rất dễ chịu.  
Ngày 02/01/2016, ông Đại gửi quyết định thông báo chấm dứt hợp đồng với  
Đa Đa và yêu cầu Đa Đa phải gỡ biển hiệu Đai tea, đồng thời chấm dứt toàn bộ  
hoạt động kinh doanh dưới tên thương hiệu hiệu Đai tea trong thời hạn 15 ngày  
làm việc. Ông Đức Anh từ chối hợp tác. Trong công văn phản hồi Đai tea vào ngày  
04/01/2016, ông Đức Anh đưa ra quan điểm như sau:  
- Đa Đa sẽ không gỡ biển hiệu Đai tea do phía Đai tea đã vi phạm hợp đồng  
khi tiến hành nhượng quyền cho các đối thủ của Đa Đa và cho phép họ mở cửa  
hàng gần cửa hàng của Đa Đa mà không thông báo trước.  
- Trong trường hợp Đai tea muốn đơn phương chấm dứt hợp đồng, Đai tea  
phải bồi thường thiệt hại cho Đa Đa bao gồm: (i) khoản đầu tư các nhà quán trà sữa  
đang hoạt động; (ii) tiền phạt vi phạm hợp đồng thuê mặt bằng nếu phải buộc đóng  
cửa hàng; (iii) khoản lợi nhuận bị mất trong 02 năm còn lại của hợp đồng.  
Ngày 06/05/2016, Đai tea đã nộp đơn khởi kiện lên Trung tâm trọng tài quốc  
tế Việt Nam trực thuộc Phòng thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VIAC)1.  
Câu hỏi:  
Nhóm 1:  
Giả sử em là luật sư được Đai tea lựa chọn làm đại diện theo ủy quyền để  
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp ở Việt Nam, hãy trả lời các câu hỏi sau:  
1. Xác định các vấn đề pháp lý cần phải giải quyết trong tranh chấp nói trên  
giữa Đai tea và Đa Đa  
2. Trình bày lập luận để bảo vệ cho Đai Tea và nêu các vi phạm của Đa Đa  
có thể khai thác được kèm căn cứ pháp lý.  
1 Trọng tài thương mại là Phương thức giải quyết tranh chấp trong kinh doanh, thương mại do các bên trong tranh  
chấp thỏa thuận lựa chọn. Chức năng của trọng tài cơ bản giống tòa án nhưng thủ tục tố tụng có phần mềm dẻo  
hơn và phán quyết của trọng tài mang tính chung thẩm.  
3. Trình bày các điểm bất lợi mà luật sư phía Đa Đa có thể khai thác được và  
hướng phản biện kèm căn cứ pháp lý.  
Nhóm 2:  
Giả sử em là luật sư được Đa Đa lựa chọn làm đại diện theo ủy quyền để bảo  
vệ quyền và lợi ích hợp pháp, hãy trả lời các câu hỏi sau:  
1. Xác định các vấn đề pháp lý cần phải giải quyết trong tranh chấp nói trên  
giữa Đa Đa và Đai tea  
2. Trình bày lập luận để bảo vệ cho Đa Đa và nêu các vi phạm của Đai tea  
có thể khai thác dược kèm căn cứ pháp lý.  
3. Trình bày các điểm bất lợi mà luật sư phía Đai tea có thể khai thác được  
và hướng phản biện kèm căn cứ pháp lý.  
Nhóm 3:  
Giả sử em là trọng tài của VIAC được Đai tea và Đa Đa lựa chọn để đưa ra  
phán quyết cuối cùng cho tranh chấp nói trên, hãy trả lời các câu hỏi sau:  
1. Xác định các vấn đề pháp lý cần phải giải quyết trong tranh chấp nói trên  
giữa Đa Đa và Đai tea  
2. Xác định các văn bản pháp luật sẽ được sử dụng trong giải quyết tranh  
chấp.  
3. Dựa trên các căn cứ trong đề bài, nêu nhận định của em về tranh chấp  
giữa Đa Đa và Đai tea  
TM2-N5 (Tác giả: Ths. Nguyễn Quang Huy)  
Ngày 15/5/2020, Công ty TNHH Trọng Đại đặt hàng mua 100 tấm da ca sấu  
từ Doanh nghiệp tư nhân Ngọc Hiệp để sản xuất 1000 bộ bikini 2 mảnh bán cho  
Công ty cổ phần Đức Anh. Công ty TNHH Trọng Đại và DNTN Ngọc Hiệp đã ký  
hợp đồng mua bán vào ngày 16/5/2020, theo đó hai bên thống nhất thời gian giao  
hàng là 30 ngày kể từ ngày giao kết hợp đồng.  
Vào ngày hôm sau, tức 17/5/2020, Công ty Trọng Đại ký hợp đồng mua bán  
hàng hóa với CTCP Đức Anh, cam kết giao đủ 1000 bộ bikini trong thời hạn 30  
ngày kể từ ngày giao kết hợp đồng. Hợp đồng ký giữa Công ty Trọng Đại và Công  
ty Đức Anh có thỏa thuận phạt vi phạm 8% giá trị hợp đồng trong trường hợp có vi  
phạm.  
Ngày 10/6/2020, DNTN Ngọc Hiệp gửi email cho Công ty Trọng Đại với  
nội dung rằng, do dịch Covid hoành hành ở Châu Âu nên da ca sấu đã bị kẹt ở  
cảng Nhật Bản, không kịp về nước đúng hạn, do đó yêu cầu Công ty Trọng Đại gia  
hạn thời gian giao hàng. Công ty Trọng Đại sau đó đã từ chối gia hạn, yêu cầu  
DNTN Ngọc Hiệp thực hiện đúng hợp đồng do sức ép từ phía đối tác là CTCP Đức  
Anh.  
Ngày 12/6/2020, DNTN Ngọc Hiệp tiếp tục gửi email cho Công ty Trọng  
Đại với nội dung có thể nhập nguyên liệu từ nguồn khác nhưng giá thành cao hơn  
và chất lượng không giống với hàng mẫu trước đó. Tuy nhiên do tình thế gấp gáp,  
DNTN Ngọc Hiệp đề nghị Công ty Trọng Đại nhận lô hàng nói trên và sửa đổi hợp  
đồng, tăng giá trị hợp đồng thêm 20%. Công ty Trọng Đại tiếp tục từ chối đề nghị  
nói trên.  
Cho tới ngày 16/6/2020, DNTN Ngọc Hiệp không thể giao hàng đúng hạn  
với lý do cửa khẩu bị đóng do dịch Covid. Hệ quả là Công ty Trọng Đại không thể  
sản xuất bikini kịp cho CTCP Đức Anh. CTCP Đức Anh sau đó đã yêu cầu Công  
ty Trọng Đại trả tiền phạt vi phạm theo hợp đồng. Nhân công gia công bikini của  
Công ty Trọng Đại trong thời gian chờ nguyên liệu đã phải ngồi chơi do không có  
việc làm tuy nhiên vẫn nhận lương đầy đủ.  
Câu hỏi:  
1. Điều khoản phạt vi phạm giữa Công ty Trọng Đại và Công ty Đức Anh có  
giá trị pháp lý không?  
2. Công ty Trọng Đại yêu cầu DNTN Ngọc Hiệp bồi thường thiệt hại. Nêu  
nhân định của em về phán quyết của tòa đối với yêu cầu này.  
3. Giả sử DNTN Ngọc Hiệp phải bồi thường cho Công ty Trọng Đại. Xác  
định phạm vi bồi thường theo quy định của pháp luật hiện hành.  
4. Biết rằng, trong hợp đồng giữa Công ty Trọng Đại và DNTN Ngọc Hiệp,  
điều khoản về giải quyết tranh chấp được quy định như sau: “Tranh chấp giữa các  
bên trong hợp đồng sẽ được giải quyết tại trọng tài. Phán quyết của trọng tài là  
phán quyết cuối cùng”.  
Trong hợp đồng giữa Công ty Trọng Đại và Công ty Đức Anh, hai bên thống  
nhất giải quyết tranh chấp tại tòa án.  
Hỏi: Hãy xác định cơ quan giải quyết tranh chấp trong trường hợp Công ty  
Trọng Đại khởi kiện DNTN Ngọc Hiệp do vi phạm hợp đồng?  
TM2-N6 (Tác giả: Ths. Phạm Thị Huyền)  
Ngày 1/1/2021, bà Giang - Giám đốc Công ty cổ phần thương mại Hương  
Giang (ngành nghề kinh doanh là sản xuất hàng điện tử điện lạnh) gọi điện cho  
Giám đốc Công ty TNHH Huyền Trang thoả thuận về việc bán 1.000 chiếc điều  
hòa với giá 7.500.000 đồng/chiếc giao hàng vào ngày 1/3/2021.  
Ngày 27/2/2021, do giá điều hòa trên thị trường tăng cao, bà Giang gửi  
thông báo cho Công ty Huyền Trang về việc Công ty Hương Giang sẽ ko thực hiện  
hợp đồng trên, với lý do hợp đồng này không có hiệu lực do hai bên chưa ký kết  
bằng văn bản.  
Công ty Huyền Trang yêu cầu Công ty Hương Giang thực hiện hợp đồng  
theo đúng thỏa thuận; đồng thời, bồi thường thiệt hại cho Công ty Huyền Trang 1  
tỷ đồng (tiền lãi công ty dự tính có được từ việc kinh doanh số điều hòa trên cơ sở  
so sánh giá mua và giá bán trên thị trường vào thời điểm nhận hàng), ngoài ra,  
Công ty Huyền Trang còn yêu cầu Công ty Hương Giang nộp phạt 8% giá trị hợp  
đồng.  
Câu hỏi:  
1. Xác định hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hoá trên.  
2. Những yêu cầu của Công ty Huyền Trang với Công ty Hương Giang có  
hợp pháp hay không? Nêu cách thức giải quyết vụ việc trên?  
3. Sau khi thương lượng không thành, Công ty Huyền Trang và Công ty  
Hương Giang đã ký thỏa thuận giải quyết tranh chấp tại Trung tâm trọng tài  
thương mại H, quận Thanh Xuân, Hà Nội. Ngày 5/3/2021, Công ty Huyền Trang  
đã gửi đơn khởi kiện đến Trung tâm trọng tài thương mại H; trong đơn khởi kiện,  
Công ty Huyền Trang cũng chỉ định ông X là trọng tài viên giải quyết vụ việc.  
Trung tâm trọng tài thương mại H đã gửi bản sao đơn khởi kiện kiện đến Công ty  
Hương Giang nhưng không nhận được phản hồi. Ngày 11/4/2021, Chủ tịch Trung  
tâm trọng tài H đã ra quyết định thành lập Hội đồng trọng tài gồm 3 trọng tài viên  
là ông X và 2 trọng tài viên cho Chủ tịch Trung tâm trọng tài thương mại H chỉ  
định, để giải quyết tranh chấp giữa Công ty Huyền Trang và Công ty Hương  
Giang. Để bảo đảm quá trình giải quyết tranh chấp, Hội đồng trọng tài đã yêu cầu  
áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với Công ty Hương Giang. Theo phán  
quyết của Hội đồng trọng tài, Công ty Hương Giang phải thực hiện đúng hợp đồng  
đã thỏa thuận với Công ty Huyền Trang, bồi thường thiệt hại đã phát sinh do chậm  
thực hiện hợp đồng; đồng thời, Công ty Hương Giang phải chịu toàn bộ phí trọng  
tài đã giải quyết.  
Không đồng ý với phán quyết trọng tài, ngày 15/5/2021, Công ty Hương  
Giang đã nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, yêu cầu hủy  
toàn bộ nội dung phán quyết trọng tài của Trung tâm trọng tài H với lý do: việc  
thành lập Hội đồng trọng tài không hợp pháp; Hội đồng trọng tài đã sai lầm trong  
việc đánh giá chứng cứ; áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời với Công ty Hương  
Giang không phù hợp quy định pháp luật, trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp  
luật Việt Nam.  
Hãy nhận xét về yêu cầu hủy phán quyết trọng tài của Công ty Hương  
4. Giả sử phán quyết trọng tài bị hủy, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội có  
Giang.  
thẩm quyền giải quyết tranh chấp giữa Công ty Huyền Trang và Công ty Hương  
Giang không?  
TM2-N7 (Tác giả: Ths. Phạm Thị Huyền)  
Ngày 01/01/2021, Công ty cổ phần thực phẩm dinh dưỡng Nhất Tâm ký hợp  
đồng đại lý số 15/HĐĐL với Hộ kinh doanh An Viên dưới hình thức đại lý độc  
quyền tại khu vực quận Hai Bà Trưng và được hưởng chiết khấu (hoa hồng) theo  
tỷ lệ phần trăm trên giá mua. Thời hạn hợp đồng là 01 năm từ ngày 02/01/2021 đến  
ngày 31/12/2021. Trong hợp đồng, hai bên thỏa thuận:  
- Hộ kinh doanh An Viên chỉ bán duy nhất sản phẩm của Công ty Nhất Tâm.  
- Quyền sở hữu hàng hoá được chuyển cho Hộ kinh doanh An Viên từ thời  
điểm hàng hoá vận chuyển đến kho của An Viên  
- Nếu một trong các bên vi phạm hợp đồng, phạt 4% giá trị phần hợp đồng  
bị vi phạm.  
Câu hỏi:  
1. Hàng hoá đang trên đường vận chuyển từ Công ty Nhất Tâm đến kho  
hàng của Hộ kinh doanh An Viên thì gặp lũ quét khiến một số lượng lớn hàng bị  
hỏng. Xác định chủ thể chịu rủi ro trong trường hợp này?  
2. Một số khách hàng sau khi mua sản phẩm tại cửa hàng của Hộ kinh doanh  
An Viên đã bị ngộ độc. Xác định chủ thể phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt  
hại cho khách hàng?  
3. Với lý do Hộ kinh doanh An Viên thường xuyên giao hàng chậm, khiến  
khách hàng phàn nàn, ảnh hưởng đến hiệu quả bán hàng của Công ty Nhất Tâm,  
ngày 16/6/2021, Công ty Nhất Tâm gửi văn bản số 19/2021/TB đề nghị Hộ kinh  
doanh An Viên ngừng phân phối hàng ra thị trường, đồng thời, cũng ngay trong  
ngày 16/6/2021, Công ty Nhất Tâm đã ký hợp đồng đại lý độc quyền với Công ty  
TNHH Tiến Đạt có chức năng bán hàng tại khu vực quận Hai Bà Trưng. Hộ kinh  
doanh An Viên không chấp nhận, đã yêu cầu Công ty Nhất Tâm tiếp tục thực hiện  
đúng hợp đồng đã ký kết, đồng thời bồi thường tổn thất trong khoảng thời gian Hộ  
kinh doanh An Viên không có hàng để bán ra thị trường, tiền thuê kho bãi cho lưu  
trữ số hàng còn lại của Công ty Nhất Tâm mà không được bán ra. Ngoài ra, Hộ  
kinh doanh An Viên cũng yêu cầu Công ty Nhất Tâm chịu phạt với lý do Công ty  
Nhất Tâm đã vi phạm thỏa thuận về đại lý độc quyền.  
Công ty Nhất Tâm không chấp nhận với lý do Hộ kinh doanh An Viên  
không bảo đảm về doanh số bán hàng, giao hàng chậm khiến khách hàng không  
hài lòng, ảnh hưởng trực tiếp đến uy tín của Công ty Nhất Tâm. Do đó, Công ty  
Nhất Tâm yêu cầu đơn phương chấm dứt hợp đồng và sẽ bồi thường một tháng thù  
lao đại lý theo quy định tại Điều 177 Luật Thương mại.  
Bằng những quy định của Luật Thương mại, hãy giải quyết tình huống trên.  
4. Hãy nêu rõ những chế tài thương mại có thể áp dụng trong trường hợp  
Công ty Nhất Tâm chấm dứt hợp đồng đại lý với Hộ kinh doanh An Viên?  
TM2-N8 (Tác giả: TS Trần Thi Bảo Ánh)  
Ngày 2/4/2019, Công ty TNHH Hải An ký hợp đồng mua bán hàng hóa số  
01/HĐMBHH với Công ty cổ phần Thanh Trà tại tỉnh Hải Phòng của Việt Nam.  
Trong hợp đồng có một số điều khoản sau:  
- Công ty Hải An bán cho Công ty Thanh Trà hai chiếc máy mài chuyên  
dụng, model 2M.2125 do Trung Quốc sản xuất, chất lượng máy mới 100%  
- Tổng giá trị hợp đồng là 1,9 tỷ đồng  
- Thời hạn giao hàng: từ ngày 15/4/2019 đến ngày 25/4/2019  
- Phạt vi phạm hợp đồng:  
+ Giao hoặc nhận hàng chậm: phạt 5% tổng giá trị số hàng giao hoặc nhận  
chậm cho mỗi đợt giao hoặc nhận hàng chậm.  
+ Hàng giao không đúng chất lượng: phạt 8% giá trị hợp đồng.  
- Tranh chấp phát sinh từ hợp đồng số 01/HĐMBHH được giải quyết tại  
Trung tâm trọng tài thương mại.  
Căn cứ vào pháp luật hiện hành, hãy cho biết:  
1. Các văn bản pháp luật điều chỉnh hợp đồng số 01/HĐMBHH? Giả định  
vào thời điểm Công ty Hải An và Công ty Thanh Trà ký hợp đồng số  
01/HĐMBHH, hàng hóa đang trên đường vận chuyển từ Đà Nẵng về Hải Phòng và  
sau đó tàu hàng gặp nạn khiến toàn bộ hàng hóa trên tàu bị hư hỏng. Xác định rủi  
ro thuộc về bên nào? Tại sao?  
2. Công ty Hải An có được miễn trách nhiệm do không giao được hàng cho  
Công ty Thanh Trà không? Vì sao?  
3. Điều khoản phạt vi phạm hợp đồng của Công ty Hải An và Công ty Thanh  
Trà có hợp pháp không? Tại sao?  
4. Thỏa thuận trọng tài của các bên có vô hiệu không? Tại sao? Hướng giải  
quyết như thế nào?  
5. Giả định trong hợp đồng mua bán hàng hóa số 01/HĐMBHH hai bên vừa  
có thỏa thuận giải quyết tranh chấp bằng trọng tài vừa có thỏa thuận giải quyết  
tranh chấp bằng Tòa án và một bên khởi kiện tại Tòa án thì Tòa án có thẩm quyền  
giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa số 01/HĐMBHH không? Vì  
sao?  
TM2-N9 (Sưu tầm và biên tập: TS Trần Thị Bảo Ánh)  
Ngày 15/11/2016, Công ty TNHH thương mại và xây dựng V ký hợp đồng  
mua 223 tấn thép loại phi 28 của Công ty cổ phần xuất nhập khẩu thép K. Trong  
hợp đồng hai bên đã thỏa thuận: “Mọi tranh chấp phát sinh từ hợp đồng này được  
giải quyết tại Trung tâm trọng tài thương mại M theo thủ tục tố tụng trọng tài quy  
định tại Quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài thương mại M”.  
Sau khi giao tiền và nhận đủ 223 tấn thép tại kho của Công ty K, Công ty V  
phát hiện Công ty K đã giao thép phi 26 nên đã yêu cầu Công ty K thực hiện đúng  
hợp đồng và gia hạn cho Công ty K giao hàng vào ngày 20/11/2016. Tuy nhiên,  
Công ty K vẫn không thực hiện giao hàng như đã thỏa thuận trong hợp đồng.  
Ngày 25/11/2016, Công ty V đã làm đơn kiện Công ty K và gửi đến Trung  
tâm trọng tài thương mại M có trụ sở tại quận CG, thành phố HN. Ngày  
30/11/2016, Chủ tịch Trung tâm trọng tài M đã ra quyết định thành lập Hội đồng  
trọng tài gồm ba trọng tài viên để giải quyết tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng  
hóa giữa Công ty V và Công ty K.  
Ngày 15/12/2016, Hội đồng trọng tài đã mở phiên họp và ra phán quyết  
buộc Công ty K phải bồi thường thiệt hại là 293 triệu đồng cho Công ty V. Công ty  
K đã làm đơn yêu cầu Tòa án quận CG tuyên hủy phán quyết trọng tài vì trong hợp  
đồng mua bán thép các bên không có thỏa thuận về việc bồi thường thiệt hại. Tòa  
án nhân dân quận CG đã thụ lý đơn và chỉ định Hội đồng xét đơn yêu cầu hủy phán  
quyết trọng tài của Công ty K. Hội đồng xét đơn đã ra quyết định không hủy phán  
quyết trọng tài với lý do chế tài bồi thường thiệt hại là chế tài đương nhiên, không  
cần các bên thỏa thuận trong hợp đồng.  
Căn cứ vào pháp luật hiện hành, hãy cho biết:  
1. Xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Trung tâm trọng tài  
thương mại M.  
2. Việc thành lập Hội đồng trọng tài của Chủ tịch Trung tâm trọng tài  
thương mại M có hợp pháp không? Giải thích rõ.  
3. Tòa án nhân dân quận CG có thẩm quyền thụ lý đơn yêu cầu hủy phán  
quyết trọng tài của Công ty K không? Tại sao?  
4. Lý do Hội đồng xét đơn xét đơn ra quyết định không hủy phán quyết  
trọng tài có hợp pháp không? Vì sao?  
5. Phân tích các căn cứ hủy phán quyết trọng tài theo quy định của pháp luật  
hiện hành  
TM2-N10 (Tác giả: Ths. Lê Ngọc Anh)  
Công ty cổ phần Nguyễn Long (bên A) ký hợp đồng mua bán máy tính với  
Công ty TNHH Minh Bảo (bên B). Trong đó có một số điều khoản sau:  
- Bên A bán 100 máy tính để bàn HP Pavilion 590-P0108D cho bên B với  
giá 7.990.000 đồng/máy;  
- Bên A giao hàng vào ngày 3/6/2020 tại trụ sở chính của bên B;  
- Bên B có quyền kiểm tra hàng hoá khi bên A giao hàng đến trụ sở chính  
của bên B. Nếu hàng hoá có khiếm khuyết thì phải thông báo cho bên A trong thời  
hạn 02 ngày kể từ thời điểm kiểm tra hàng hoá;  
- Bên B phải thanh toán đầy đủ tiền hàng trong thời hạn 07 ngày kể từ khi  
nhận đủ hàng;  
- Bên có hành vi vi phạm sẽ phải chịu phạt 8% giá trị hợp đồng;  
1. Ngày 3/6/2020, bên A giao cho bên B 80 chiếc máy tính với giá 7.990.000  
đồng/máy và 20 chiếc máy tính với giá 8.490.000 đồng (do bên A không đủ hàng  
để giao nên phải nhập hàng từ công ty khác dẫn đến giá bị cao hơn). Tuy nhiên,  
bên B từ chối nhận 20 chiếc máy tính giá cao hơn.  
a. Hỏi bên B có vi phạm nghĩa vụ nhận hàng không?  
b. Hãy tư vấn cách thức xử lý tình huống này?  
2. Ngày 7/6/2020, bên B phát hiện có 10 chiếc máy tính không thể sử dụng  
được. Bên B yêu cầu bên A đổi 10 chiếc máy tính khác. Bên A không đồng ý vì  
cho rằng bên B đã kiểm tra hàng hoá và không thông báo cho bên A trong thời hạn  
như đã thoả thuận. Xác định chủ thể phải chịu trách nhiệm?  
3. Đến hạn thanh toán, bên B không thanh toán vì cho rằng bên A chưa giao  
đủ hàng, bên B yêu cầu bên A phải chịu khoản tiền phạt 63.920.000 đồng và bồi  
thường 50 triệu đồng. Bên A cho rằng mình không vi phạm nghĩa vụ giao hàng,  
yêu cầu bên B thanh toán đủ tiền hàng và chịu khoản tiền phạt 64.720.000 đồng  
(8% x (80 x 7.990.000 + 20 x 8.490.000)). Nhận xét về yêu cầu của các bên?  
4. Hãy tư vấn các phương thức giải quyết tranh chấp giữa bên A và bên B?  
Theo anh/chị, phương thức nào phù hợp nhất để giải quyết tranh chấp giữa các  
bên? Tại sao?  
TM2-N11 (Tác giả: Ths. Lê Ngọc Anh)  
Công ty cổ phần sữa AH (bên A) ký hợp đồng giao đại lý số 01/HĐĐL cho  
Hộ kinh doanh Tiến Linh (bên B) mặt hàng sữa tươi với một số điều khoản sau:  
- Bên B sẽ bán các sản phẩm sữa tươi do bên A sản xuất (danh mục sản  
phẩm đính kèm hợp đồng);  
- Bên B sẽ bán các sản phẩm sữa tươi theo giá do bên A ấn định;  
- Bên B sẽ được hưởng 20% trên giá bán mỗi sản phẩm.  
Hỏi: 1. Xác định hình thức đại lý theo hợp đồng số 01/HĐĐL?  
2. Để xúc tiến việc bán hàng, Công ty cổ phần sữa AH đã thực hiện một số  
hoạt động sau đây:  
- Công ty cổ phần sữa AH thực hiện quảng cáo trên website của công ty;  
- Công ty cổ phần sữa AH thực hiện chương trình khuyến mại trên phạm vi  
cả nước: mỗi lốc sữa (gồm 4 hộp) tặng kèm 1 hộp sữa cùng loại. Đồng thời khách  
hàng mua 6 lốc sữa trở lên sẽ được bốc thăm trúng thưởng, với giá trị giải thưởng  
gồm: giải nhất: 1 chiếc xe máy Honda SH 125i (giá 89 triệu đồng); giải nhì: 1 tivi  
Sony 55 inch (giá 41 triệu đồng), giải ba: 1 bộ bàn học thông minh chống gù chống  
cận iSmart (giá 6,5 triệu đồng).  
Hỏi: a. Công ty cổ phần sữa AH có được thực hiện hoạt động quảng cáo  
không?  
b. Tư vấn thủ tục thực hiện chương trình khuyến mại nêu trên?  
3. Hộ kinh doanh Tiến Linh muốn làm đại lý bán các sản phẩm sữa tươi của  
Công ty cổ phần MTV, biết rằng Công ty cổ phần MTV và Công ty cổ phần sữa  
Tải về để xem bản đầy đủ
docx 29 trang myanh 28680 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Bộ bài tập nhóm môn Luật thương mại 2 (Dùng cho các lớp học từ kỳ 1 năm học 2021-2022) - Đại học Luật Hà Nội", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • docxbo_bai_tap_nhom_mon_luat_thuong_mai_2_dung_cho_cac_lop_hoc_t.docx