Bộ bài tập môn Luật thương mại 2 (Dùng cho các lớp từ kỳ 1 năm học 2020-2021) - Đại học Luật Hà Nội

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI  
KHOA PHÁP LUẬT KINH TẾ  
BỘ MÔN LUẬT THƯƠNG MẠI  
BỘ BÀI TẬP  
MÔN: LUẬT THƯƠNG MẠI 2  
(Dùng cho các lớp học từ kỳ 1 năm học 2020-2021)  
Một số lưu ý:  
1. Đối với BT nhóm, 3 nhóm trong một lớp thảo luận không được  
phép chọn trùng bài tập  
2. Ghi rõ nguồn trích dẫn đối với từng đoạn viết có trích dẫn  
HÀ NỘI - 2020  
BÀI TẬP NHÓM  
LTM2 – N 1 (Tác giả: Ths. Nguyễn Ngọc Anh)  
Công ty cổ phần Cao Nguyên (chuyên sản xuất các sản phẩm cà phê) ký hợp  
đồng số 01 với Công ty trách nhiệm hữu hạn Đồng Bằng với nội dung: Công ty Đồng  
Bằng thay mặt Công ty Cao Nguyên để thực hiện hoạt động kinh doanh tại các tỉnh,  
thành phố thuộc khu vực miền Bắc  
Ngày 1/3/2019, Công ty Cao Nguyên vận chuyển 200 thùng hàng (cà phê cùng  
một loại) từ Buôn Ma Thuột tới trụ sở chính của Công ty Đồng Bằng ở Hà Nội. Nắm  
được thông tin, Doanh nghiệp tư nhân OHO (trụ sở chính tại quận Đống Đa) đã gửi  
đề nghị giao kết hợp đồng mua 100 thùng cà phê xay sẵn tới Công ty Đồng Bằng.  
Ngày 2/3/2019, hợp đồng mua bán 100 thùng cà phê (hợp đồng số 02) được ký kết.  
Dự kiến sáng này 3/3/2019, hàng có mặt tại trụ sở chính của Công ty Đồng Bằng.  
Tuy nhiên đang ở địa phận Thanh Hóa, vì gặp phải bão to, lô hàng bị hư hại 150  
thùng cà phê.  
Câu hỏi:  
1. Với các kiến thức đã được học, hãy xác định các quan hệ pháp luật thương  
mại cụ thể được nêu trong tình huống trên.  
2. Giả sử, đại diện theo pháp luật duy nhất của Công ty Đồng Bằng là bà Đồng  
Thị Lúa. Bà Lúa cũng chính là chủ Doanh nghiệp tư nhân OHO. Hãy nhận xét về  
hiệu lực của hợp đồng mua bán số 02.  
3. Chủ thể nào phải chịu tổn thất hư hại 150 thùng cà phê?  
4. Giả sử, trong hợp đồng số 02 các bên thỏa thuận về địa điểm giao hàng là  
trụ sở chính của Doanh nghiệp tư nhân OHO. Thỏa thuận này có ảnh hưởng đến việc  
xác định chủ thể chịu tổn thất về việc hư hại 150 thùng cà phê không?  
LTM2 – N 2 (Tác giả: Ths. Nguyễn Ngọc Anh)  
Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên X (công ty 100% vốn nước  
ngoài) chuyên kinh doanh các sản phẩm mứt làm từ rau, củ, quả. Công ty X có trụ  
sở chính tại Đà Lạt. Để chuẩn bị cho mùa tết âm lịch năm 2020, Công ty X sáng tạo  
và phát triển dòng sản phẩm mứt mới. Với chiến lược chuẩn bị cho việc phát triển  
thị trường, từ tháng 9/2019, Công ty X đã thực hiện một số hoạt động sau đây:  
- Công ty X quảng cáo trên các phương tiện như truyền hình, phát thanh, mạng  
internet.  
- Công ty X thông báo về chương trình khuyến mại nhân dịp Tết Nguyên Đán:  
mua các bộ sản phẩm mứt của công ty sẽ được tặng kèm một gói trà hoa quả. Đồng  
thời, các khách hàng mua sản phẩm có hóa đơn từ 300.000 đồng trở lên của công ty  
đều có cơ hội được tham gia “Vòng quay may mắn”. Khách hàng sẽ dùng điện thoại  
quét QR code có trên từng phiếu dự thi, nhập mã số của phiếu dự thi và tham gia  
quay trúng thưởng trên ứng dụng tải về máy điện thoại.  
- Đồng thời, Công ty X ký kết hợp đồng với Doanh nghiệp tư nhân Y (chuyên  
sản xuất bánh mứt kẹo cổ truyền, có cửa hàng nổi tiếng nằm trên phố Hoàng Hoa  
Thám, Hà Nội) để các sản phẩm mứt của Công ty X được bày bán tại cửa hàng của  
Doanh nghiệp tư nhân Y trong dịp giáp Tết Nguyên đán.  
1. Xác định các hoạt động thương mại mà Công ty X tiến hành?  
2. Công ty X có được tự thực hiện quảng cáo sản phẩm của mình không?  
3. Nêu thủ tục Công ty X cần thực hiện theo quy định pháp luật để tiến hành  
hoạt động quảng cáo và khuyến mại sản phẩm của công ty?  
4. Giả sử xảy ra sự kiện bất khả kháng làm hàng hóa của Công ty X đặt tại  
cửa hàng của Doanh nghiệp tư nhân Y bị hư hỏng. Ai là người phải gánh chịu tổn  
thất do hàng hóa bị hư hỏng?  
LTM2 – N 3 (Tác giả: Ths. Nguyễn Ngọc Anh)  
Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Thu Hoa (kinh doanh sản phẩm  
trái cây) có trụ sở tại phố Nguyễn Công Hoan, Hà Nội. Người quản lý của công ty  
đã lập một trang bán hàng trên facebook nhằm tăng hiệu quả của việc kinh doanh.  
Trên trang mạng xã hội facebook của công ty xuất hiện thông báo như sau: “Công  
ty sẽ dành 3 hộp cherry loại 2kg mới được nhập về để trao thưởng cho khách hàng.  
Các khách hàng sẽ phải chia sẻ đường link theo chỉ dẫn, tag tên một vài người bạn  
trong danh sách bạn bè của mình, comment hai chữ số. Người dành được giải thưởng  
là người đã thực hiện đầy đủ các thao tác theo yêu cầu và có hai chữ số mà họ  
comment trùng với hai chữ số cuối của giải đặc biệt sổ xố kiến thiết”.  
1. Xác định loại hình khuyến mại mà Công ty Thu Hoa đã thực hiện?  
2. Nhận xét về tính hợp pháp của chương trình khuyến mại nói trên.  
3. Tư vấn về nội dung và thủ tục để Công ty Thu Hoa có thể thực hiện được  
chương trình khuyến mại theo đúng quy định pháp luật.  
4. Đối với các đơn đặt hàng trên mạng, khu vực ở quận nội thành Hà Nội,  
Công ty Thu Hoa cho nhân viên của mình mang hàng tới địa chỉ khách yêu cầu.  
Trong một đơn hàng giao 20 giỏ hoa quả cho khách ở Xuân La, Tây Hồ, nhân viên  
không thể liên lạc được với khách hàng và địa chỉ khách hàng cho là không chính  
xác. Công ty đã thông báo trên trang facebook bán hàng để khách nào gần đó có nhu  
cầu lấy hàng giúp và giảm giá 15%. Công ty X đã xác nhận mình sẽ lấy toàn bộ số  
hàng trên với. Có phải Công ty Thu Hoa đang thực hiện hành vi giảm giá với Công  
ty X không?  
LTM2 – N 4 (Sưu tập và biên soạn: Ths. Nguyễn Quang Huy) (Dùng cho  
cả 3 nhóm)  
Ông Ching Chong Đại là chủ sở hữu của thương hiệu trà sữa “Đai tea” ở Đài  
Loan được thành lập vào năm 2002. Trà sữa “Đai tea” rất phổ biến ở Đài Loan và  
đã bắt đầu vươn ra các thị trường khác trong khu vực Châu Á theo mô hình nhượng  
quyền thương mại như Laos, Campuchia, Myanmar. Trong thời gian này, quán cũng  
bổ sung một số thức uống và hương liệu bản địa để phù hợp với khẩu vị của địa  
phương.  
Tháng 7/2011, Ban giám đốc Đai tea ra quyết định mở rộng thị trường sang  
Việt Nam. Để tìm kiếm đối tác, Đai tea đưa ra chính sách giảm 30% phí nhượng  
quyền cho các cửa hàng mở trong 3 năm đầu tiên, với điều kiện bên nhận nhượng  
quyền phải mở tối thiểu 6 cửa hàng trong 3 năm đó. Cùng thời điểm đó, Đai tea đã  
tiến hành đăng ký hoạt động nhượng quyền tại Việt Nam với Bộ Công Thương và  
các quyền sở hữu trí tuệ đối với các nhãn hiệu và logo của Đai tea với Cục sở hữu  
trí tuệ.  
Ông Nguyễn Đức Anh là Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn nước giải  
khát Đa Đa có trụ sở ở TPHCM. Bắt trend trà sữa đang lên vào thời điểm bấy giờ,  
Công ty Đa Đa cũng tiến hành nghiên cứu thị trường, tìm kiếm một thương hiệu trà  
sữa để đưa về Việt Nam theo mô hình nhượng quyền thương mại. Tháng 5/2012, sau  
khi biết Đai tea đã có đầy đủ giấy phép nhượng quyền ở Việt Nam, ông Đức Anh  
chủ động liên hệ đại diện thương hiệu trà sữa Đai tea là ông Đai để đàm phán về vấn  
đề nhượng quyền. Ngày 27/6/2012, Công ty trách nhiệm hữu hạn nước giải khát Đa  
Đa (đại diện là ông Đức Anh) và thương hiệu trà sữa Đai tea (đại diện là ông Đại)  
chính thức ký hợp đồng nhượng quyền thương mại tại trụ sở Đa Đa ở TPHCM. Hợp  
đồng nhượng quyền có những nội dung đáng chú ý như sau:  
- Giấy phép nhượng quyền cấp cho Đa Đa là giấy phép không độc quyền.  
- Đa Đa được quyền sử dụng hệ thống của Đai tea, bao gồm tất cả nhãn hiệu,  
nhận diện thương hiệu Đai tea vào việc kinh doanh trà sữa trên lãnh thổ Việt Nam  
trong thời hạn 5 năm kể từ thời điểm ký hợp đồng này.  
- Bên nhận quyền không được nhượng quyền lại nếu không có sự đồng ý bằng  
văn bản của bên nhượng quyền.  
- Mỗi cửa hàng trong hệ thống Đai tea được đảm bảo một địa bàn kinh doanh  
phù hợp để khai thác quyền thương mại của hệ thống. Bên nhượng quyền sẽ không  
cấp phép sử dụng thương hiệu Đai tea cho bất cứ cửa hàng nào khác trong phạm vi  
địa bản của một cửa hàng đã được cấp phép, nếu không đảm bảo doanh thu của cửa  
hàng đã được cấp phép của bên nhận quyền sẽ không bị giảm sút  
- Tiêu chuẩn và tính đồng nhất:  
+ Bên nhận quyền phải tuân thủ hướng dẫn sử dụng hệ thống bao gồm nhưng  
không giới hạn những nội dung sau đây: bảng hiệu, cách xây dựng, bài trí cửa hàng,  
thực đơn, công thức pha chế, đồng phục nhân viên.  
+ Bên nhận quyền phải bán tất cả các mục trên thực đơn menu và các sản  
phẩm khác phù hợp với các tiêu chuẩn, quy chuẩn và yêu cầu khác của Đai tea.  
- Vi phạm và chấm dứt:  
+ Nếu bên nhượng quyền có hành vi vi phạm hợp đồng dẫn tới thiệt hại đáng  
kể cho hoạt động kinh doanh của bất kỳ cửa hàng nào do bên nhận quyền quản lý,  
thì bên nhượng quyền sẽ phải bồi thường cho bên nhận quyền bằng cách miễn hoặc  
giảm phí nhượng quyền bổ sung cho cửa hàng liên quan hoặc một hình thức đền bù  
khác do các bên thỏa thuận.  
+ Nếu bên nhận quyền có hành vi vi phạm hợp đồng như được xác định dưới  
đây, bên nhượng quyền có thể chấm dứt Hợp đồng trong khoảng thời gian 30 ngày  
kể từ ngày bên nhận quyền nhận được thông báo vi phạm, nếu bên nhận quyền không  
khắc phục được hành vi vi phạm. Cụ thể: (i) Không lắp đặt và sử dụng thiết bị hoặc  
bài trí cửa hàng theo bài trí của bên nhượng quyền; (ii) Thay đổi menu đồ uống hoặc  
không sử dụng các nguyên liệu từ các nhà cung cấp mà bên nhượng quyền chỉ định;  
(iii) Không duy trì cửa hàng trong tình trạng tốt.  
- Giải quyết tranh chấp: Mọi tranh chấp phát sinh từ hoặc liên quan đến hợp  
đồng này, các bên sẽ giải quyết thông qua thương lượng đàm phán trên tinh thần hợp  
tác; nếu không đạt được thỏa thuận trong vòng 7 (bảy) ngày, vấn đề tranh chấp sẽ  
được giải quyết bằng trọng tài tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC)  
theo quy tắc tố tụng trọng tài của Trung tâm này.  
Tháng 8/2012, Đa Đa mở cửa hàng nhượng quyền đầu tiên ở số 1 phố đi bộ  
Nguyễn Huệ, Quận 1. Tuy nhiên, do một số nhà cung cấp của Đai tea ở Đài Loan,  
Hongkong không thể cung cấp nguyên liệu, thiết bị pha trà cho Đa Đa do quy định  
hạn chế nhập khẩu của Việt Nam, ông Đức Anh đã gửi mail cho ông Đại đề xuất  
khắc phục bằng cách sử dụng nguyên liệu và thiết bị thay thế sẵn có ở Việt Nam.  
Ông Đại đồng ý nhưng lưu ý rằng việc chấp thuận chỉ là tạm thời. Sau gần 2 năm  
hoạt động, quán trà sữa mang thương hiệu Đai tea ở Quận 1 dần tạo được uy tín về  
chất lượng dịch vụ. Tháng 1/2014, Đa Đa bắt đầu tiến hành mở các quán trà sữa Đai  
tea ở các địa bàn khác. Tính tới tháng 9 cùng năm, Đa Đa đã mở được 3 quán trà  
mới, trong đó 01 quán tại quận 3, 01 quán tại quận 5 và 01 quán tại Bình Dương.  
Tháng 5/2015, Đai tea ký hợp đồng nhượng quyền với một đối tác Việt Nam  
khác là Công ty cổ phần Tập đoàn Huyền Trang có trụ sở ở Hà Nội. Đối tác này  
không được hưởng ưu đãi như Đa Đa nhưng với kinh nghiệm trong ngành F&B và  
tiềm lực tài chính mạnh, tới cuối năm 2015, Huyền Trang đã mở được 8 quán trà sữa  
Đai Tea: 02 quán ở Hà Nội, 01 quán ở Đà Nẵng và 05 quán ở TPHCM. Trong đó  
các quán Đai Tea ở TPHCM có vị trí khá gần với các quán Đai Tea của Đa Đa.  
Tháng 6/2015, Đai tea gửi thông báo đến Đa Đa yêu cầu Đa Đa phải tiến hành  
nhập khẩu thiết bị và nguyên liệu từ các nhà cung cấp Đài Loan, Hongkong của Đai  
tea. Ông Đức Anh rất không hài lòng về những sự kiện này, cho rằng nó ảnh hưởng  
tiêu cực tới công việc kinh doanh của Đa Đa. Ngày 26/07/2015, ông Đức Anh gửi  
email cho ông Đai với nội dung chính như sau:  
- Thị trường hiện đang tiếp nhận thương hiệu trà sữa Đai tea rất tốt nhờ công  
sức của Đa Đa  
- Việc Đai tea ký hợp đồng nhượng quyền với đối tác khác; mở nhiều quán  
trà trong cùng địa bàn một quận mà Đa Đa đã có cửa hàng làm ảnh hưởng đáng kể  
đến hoạt động kinh doanh của Đa Đa.  
- Việc yêu cầu Đa Đa phải nhập khẩu thiết bị và nguyên liệu từ nước ngoài sẽ  
làm gia tăng chi phí vận hành, gây thêm khó khăn cho Đa Đa.  
Ngày 27/07, ông Đại phản hồi email của ông Đức Anh, theo đó, ông Đại cho  
rằng:  
- Đai tea ghi nhận công sức của Đa Đa trong việc bước đầu gây dựng thương  
hiệu cho Đai tea ở Việt Nam  
- Quận 1, quận 3, quận 5 là những quận trung tâm của TPHCM, đang có sự  
gia tăng nhanh của các chung cư cao cấp, tòa nhà văn phòng, trung tâm thương mại,  
do đó việc Đai tea gia tăng số cửa hàng hiện diện ở khu vực này sẽ không gây ảnh  
hưởng tới hoạt động kinh doanh của Đa Đa.  
Tháng 09/2015, Ông Đai cử ông Chính bí mật tiến hành thanh tra hoạt động  
của các cửa hàng Đai tea thuộc hệ thống của Đa Đa tại Việt Nam. Ông Chính báo  
cáo một số vi phạm như sau:  
- Một số thức uống tại các cửa hàng của Đa Đa có thêm một số hương liệu  
Việt Nam vào công thức pha chế khác với công thức được hướng dẫn như là trái tắc  
(quả quất), thạch dừa, hạt đỗ đen.  
- Menu đồ uống có xuất hiện một số đồ uống mới không có trong Menu gốc  
của Đai tea như trà chanh, trà cỏ thơm. Theo ghi nhận tại các cửa hàng ở TPHCM  
thì những thức uống này bán khá chạy.  
- Màu sơn đỏ trong các quán trà sữa của Đa Đa có màu nhạt hơn so với màu  
đỏ trên logo gốc của Đai tea.  
Ngày 20/09/2015, ông Đại đã viết email gửi cho ông Đức Anh với nội dung:  
- Chúng tôi đã phát hiện những sai phạm của Đa Đa so với các nghĩa vụ đã ký  
kết theo hợp đồng nhượng quyền. Chúng tôi yêu cầu ông phải có những biện pháp  
khẩn cấp để điều chỉnh những vi phạm liên quan tới công thức pha chế, menu đồ  
uống và màu sơn trong các quán trà của Đa Đa.  
- Mặc dù việc bổ sung vào đồ uống hương liệu thuần Việt là thể giúp tăng  
doanh số bán hàng, tuy nhiên hợp đồng quy định rõ Đa Đa không được bổ sung thay  
đổi menu, công thức pha chế mà không được sự đồng ý của chúng tôi. Tính đồng  
bộ, thống nhất của hệ thống là vô cùng quan trọng với chúng tôi.  
- Nếu Đa Đa không có hành vi kịp thời khắc phục các vi phạm liên quan,  
chúng tôi có thể sẽ phải chấm dứt hợp đồng nhượng quyền với Đa Đa theo đúng quy  
định trong Hợp đồng.  
Ngày 20/12/2015, ông Chính tiếp tục sang Việt Nam để kiểm tra tình trạng  
hoạt động của các quán trà sữa thuộc hệ thống Đa Đa và có ghi nhận như sau:  
- Màu sơn trong các cửa hàng của Đa Đa được sơn đỏ lại như yêu cầu  
- Menu đồ uống đã được xây dựng lại, bỏ đi các đồ uống, các lựa chọn về  
hương liệu Việt Nam được thêm vào đồ uống (topping) như theo yêu cầu của Đai  
tea. Tuy nhiên, trên thực tế, nhân viên vẫn phục vụ những đồ uống và topping đó  
nếu được yêu cầu. Một số nhân viên còn gợi ý khách hàng có muốn thêm thạch dừa  
hay đỗ đen hay không?  
- Ông Chính đã thử uống một số đồ uống thêm vào thạch dừa, trái tắc và hạt  
đỗ đen, mặc dù hương liệu thêm vào làm thay đổi vị của đồ uống nhưng vẫn có  
hương vị rất dễ chịu.  
Ngày 02/01/2016, ông Đại gửi quyết định thông báo chấm dứt hợp đồng với  
Đa Đa và yêu cầu Đa Đa phải gỡ biển hiệu Đai tea, đồng thời chấm dứt toàn bộ hoạt  
động kinh doanh dưới tên thương hiệu hiệu Đai tea trong thời hạn 15 ngày làm việc.  
Ông Đức Anh từ chối hợp tác. Trong công văn phản hồi Đai tea vào ngày  
04/01/2016, ông Đức Anh đưa ra quan điểm như sau:  
- Đa Đa sẽ không gỡ biển hiệu Đai tea do phía Đai tea đã vi phạm hợp đồng  
khi tiến hành nhượng quyền cho các đối thủ của Đa Đa và cho phép họ mở cửa hàng  
gần cửa hàng của Đa Đa mà không thông báo trước.  
- Trong trường hợp Đai tea muốn đơn phương chấm dứt hợp đồng, Đai tea  
phải bồi thường thiệt hại cho Đa Đa bao gồm: (i) khoản đầu tư các nhà quán trà sữa  
đang hoạt động; (ii) tiền phạt vi phạm hợp đồng thuê mặt bằng nếu phải buộc đóng  
cửa hàng; (iii) khoản lợi nhuận bị mất trong 02 năm còn lại của hợp đồng.  
Ngày 06/05/2016, Đai tea đã nộp đơn khởi kiện lên Trung tâm trọng tài quốc  
tế Việt Nam trực thuộc Phòng thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VIAC)1.  
Câu hỏi:  
Nhóm 1:  
Giả sử em là luật sư được Đai tea lựa chọn làm đại diện theo ủy quyền để bảo  
vệ quyền và lợi ích hợp pháp ở Việt Nam, hãy trả lời các câu hỏi sau:  
1. Xác định các vấn đề pháp lý cần phải giải quyết trong tranh chấp nói trên  
giữa Đai tea và Đa Đa  
2. Trình bày lập luận để bảo vệ cho Đai Tea và nêu các vi phạm của Đa Đa có  
thể khai thác được kèm căn cứ pháp lý.  
3. Trình bày các điểm bất lợi mà luật sư phía Đa Đa có thể khai thác được và  
hướng phản biện kèm căn cứ pháp lý.  
Nhóm 2:  
Giả sử em là luật sư được Đa Đa lựa chọn làm đại diện theo ủy quyền để bảo  
vệ quyền và lợi ích hợp pháp, hãy trả lời các câu hỏi sau:  
1. Xác định các vấn đề pháp lý cần phải giải quyết trong tranh chấp nói trên  
giữa Đa Đa và Đai tea  
2. Trình bày lập luận để bảo vệ cho Đa Đa và nêu các vi phạm của Đai tea có  
thể khai thác dược kèm căn cứ pháp lý.  
3. Trình bày các điểm bất lợi mà luật sư phía Đai tea có thể khai thác được và  
hướng phản biện kèm căn cứ pháp lý.  
Nhóm 3:  
Giả sử em là trọng tài của VIAC được Đai tea và Đa Đa lựa chọn để đưa ra  
phán quyết cuối cùng cho tranh chấp nói trên, hãy trả lời các câu hỏi sau:  
1 Trọng tài thương mại là Phương thức giải quyết tranh chấp trong kinh doanh, thương mại do các bên trong tranh  
chấp thỏa thuận lựa chọn. Chức năng của trọng tài cơ bản giống tòa án nhưng thủ tục tố tụng có phần mềm dẻo  
hơn và phán quyết của trọng tài mang tính chung thẩm.  
1. Xác định các vấn đề pháp lý cần phải giải quyết trong tranh chấp nói trên  
giữa Đa Đa và Đai tea  
2. Xác định các văn bản pháp luật sẽ được sử dụng trong giải quyết tranh chấp.  
3. Dựa trên các căn cứ trong đề bài, nêu nhận định của em về tranh chấp giữa  
Đa Đa và Đai tea  
LTM2 – N 5 (Tác giả: Ths. Nguyễn Quang Huy)  
Ngày 15/5/2020, Công ty TNHH Trọng Đại đặt hàng mua 100 tấm da ca sấu  
từ Doanh nghiệp tư nhân Như Chính để sản xuất 1000 bộ Bikini 2 mảnh bán cho  
Công ty cổ phần Đức Anh. Công ty TNHH Trọng Đại và Doanh nghiệp tư nhân Như  
Chính đã ký hợp đồng mua bán vào ngày 16/5/2020, theo đó hai bên thống nhất thời  
gian giao hàng là 30 ngày kể từ ngày giao kết hợp đồng.  
Vào ngày hôm sau, tức 17/5/2020, Công ty Trọng Đại ký hợp đồng mua bán  
hàng hóa với Công ty cổ phần Đức Anh, cam kết giao đủ 1000 bộ Bikini trong thời  
hạn 30 ngày kể từ ngày giao kết hợp đồng. Hợp đồng ký giữa Trọng Đại và Đức Anh  
có thỏa thuận phạt vi phạm 8% giá trị hợp đồng trong trường hợp có vi phạm.  
Ngày 10/6/2020, Doanh nghiệp tư nhân Như Chính gửi email cho Công ty  
Trọng Đại với nội dung rằng, do dịch Covid hoành hành ở Châu Âu nên da ca sấu  
đã bị kẹt ở cảng Nhật Bản, không kịp về nước đúng hạn, do đó yêu cầu Công ty  
Trọng Đại gia hạn thời gian giao hàng. Công ty Trọng Đại sau đó đã từ chối gia hạn,  
yêu cầu DNTN Như Chính thực hiện đúng hợp đồng do sức ép từ phía đối tác là  
Công ty cổ phần Đức Anh.  
Ngày 12/6/2020, Doanh nghiệp tư nhân Như Chính tiếp tục gửi email cho  
Công ty Trọng Đại với nội dung có thể nhập nguyên liệu từ nguồn khác nhưng giá  
thành cao hơn và chất lượng không giống với hàng mẫu trước đó. Tuy nhiên do tình  
thế gấp gáp, DNTN Như Chính đề nghị Công ty Trọng Đại nhận lô hàng nói trên và  
sửa đổi hợp đồng, tăng giá trị hợp đồng thêm 20%. Công ty Trọng Đại tiếp tục từ  
chối đề nghị nói trên.  
Cho tới ngày 16/6/2020, DNTN Như Chính không thể giao hàng đúng hạn với  
lý do cửa khẩu bị đóng do dịch Covid. Hệ quả là Công ty Trọng Đại không thể sản  
xuất Bikini kịp cho Công ty Đức Anh. Công ty Đức Anh sau đó đã yêu cầu Công ty  
Trọng Đại trả tiền phạt vi phạm theo hợp đồng. Nhân công gia công bikini của Công  
ty TNHH Trọng Đại trong thời gian chờ nguyên liệu đã phải ngồi chơi do không có  
việc làm tuy nhiên vẫn nhận lương đầy đủ.  
Câu hỏi:  
1. Điều khoản phạt vi phạm giữa Công ty Trọng Đại và Công ty Đức Anh có  
giá trị pháp lý không?  
2. Công ty TNHH Trọng Đại yêu cầu DNTN Như Chính bồi thường thiệt hại.  
Nêu nhân định của em về phán quyết của tòa đối với yêu cầu này.  
3. Giả sử DNTN Như Chính phải bồi thường cho Công ty TNHH Trọng Đại,  
xác định phạm vi bồi thường theo quy định của pháp luật hiện hành.  
LTM2 – N 6 (Tác giả: Ths. Phạm Thị Huyền)  
Ngày 1/1/2021, bà Giang - giám đốc công ty CPTM Hương Giang (ngành  
nghề kinh doanh là sản xuất hàng điện tử điện lạnh) gọi điện cho giám đốc công ty  
TNHH Huyền Trang thoả thuận về việc bán 1.000 chiếc điều hòa với giá 7.500.000  
đồng/chiếc giao hàng vào ngày 1/3/2021. Ngoài ra, khi trao đổi qua điện thoại, 2 bên  
đã thỏa thuận: "Mọi tranh chấp phát sinh liên quan đến hợp đồng này sẽ được giải  
quyết tại Trung Tâm Trọng Tài Quốc Tế Việt Nam (VIAC)”.  
Ngày 27/2/2021, do giá điều hòa trên thị trường tăng cao, bà Giang gửi thông  
báo cho công ty Huyền Trang về việc công ty Hương Giang sẽ ko thực hiện hợp  
đồng trên, với lý do hợp đồng này không có hiệu lực do hai bên chưa ký kết bằng  
văn bản.  
Công ty Huyền Trang yêu cầu công ty Hương Giang phải thực hiện hợp đồng  
theo đúng thỏa thuận nhưng công ty Hương Giang ko thực hiện. Sau khi thương  
lượng ko thành, công ty Huyền Trang đã làm đơn khởi kiện công ty Hương Giang  
tại Trung Tâm Trọng Tài Quốc Tế Việt Nam yêu cầu công ty Hương Giang phải:  
tiếp tục thực hiện hợp đồng, bồi thường thiệt hại cho công ty Huyền Trang 1 tỷ đồng  
(tiền lãi công ty dự tính có được từ việc kinh doanh số điều hòa trên cơ sở so sánh  
giá mua và giá bán trên thị trường vào thời điểm nhận hàng), đồng thời, yêu cầu  
công ty Hương Giang nộp phạt 8% giá trị hợp đồng.  
Câu hỏi:  
1. Xác định hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hoá trên.  
2. Những yêu cầu của công ty Huyền Trang với công ty Hương Giang có hợp  
pháp hay không? Nêu cách thức giải quyết vụ việc trên?  
3. Những hình thức nào có thể được sử dụng để giải quyết tranh chấp trên.  
LTM2 – N 7 (Tác giả: Ths. Phạm Thị Huyền)  
Tháng 5/2021, giám đốc công ty trách nhiệm hữu hạn Toàn Thắng ký hợp  
đồng giao đại lý số 15/HĐĐL với công ty cổ phần Bất Bại với một số điều khoản  
sau:  
- Công ty Bất Bại chịu trách nhiệm bán 500 thùng sữa chua mỗi tháng của  
công ty Toàn Thắng với giá giao đại lý là 180.000 đồng/ 1 thùng  
- Công ty Bất Bại chỉ bán duy nhất sản phẩm sữa của công ty Toàn Thắng  
- Quyền sở hữu hàng hoá được chuyển cho công ty Bất Bại từ thời điểm hàng  
hoá vận chuyển đến kho của công ty Bất Bại.  
- Thời hạn hợp đồng là 03 năm kể từ ngày ký.  
Câu hỏi:  
1. Hàng hoá đang trên đường vận chuyển từ công ty Toàn Thắng đến kho hàng  
của công ty Bất Bại thì gặp lũ quét khiến một số lượng lớn hàng bị hỏng. Xác định  
chủ thể chịu rủi ro trong trường hợp này.  
2. Một số khách hàng sau khi mua sữa chua tại cửa hàng của công ty Bất Bại  
bị ngộ độc. Xác định chủ thể phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho khách  
hàng?  
3. Do nhận thấy sản phẩm của công ty Toàn Thắng khó tiêu thụ, công ty Bất  
Bại đã gửi thông báo về việc chấm dứt hợp đồng đại lý với công ty Toàn Thắng.  
Công ty Toàn Thắng không đồng ý, yêu cầu Bất Bại buộc thực hiện đúng hợp đồng  
và nộp phạt do vi phạm hợp đồng. Nêu cách thức xử lý tình huống trên.  
4. Biết trong hợp đồng các bên còn thoả thuận “Mọi tranh chấp phát sinh từ  
hợp đồng này được giải quyết bởi trọng tài thương mại hoặc toà án theo quy định  
pháp luật hiện hành”. Hãy nhận xét về hiệu lực của thoả thuận trọng tài trong hợp  
đồng trên  
LTM2 - N8 (Tác giả: TS Trần Thi Bảo Ánh)  
Ngày 2/4/2019, công ty trách nhiệm Hải An ký hợp đồng mua bán hàng hóa  
số 01/HĐMBHH với công ty cổ phần Thanh Trà tại tỉnh Hải Phòng của Việt Nam.  
Trong hợp đồng có một số điều khoản sau:  
- Công ty Hải An bán cho công ty Thanh Trà hai chiếc máy mài chuyên dụng,  
model 2M.2125 do Trung Quốc sản xuất, chất lượng máy mới 100%  
- Tổng giá trị hợp đồng là 1,9 tỷ đồng  
- Thời hạn giao hàng: từ ngày 15/4/2019 đến ngày 25/4/2019  
- Phạt vi phạm hợp đồng:  
+ Giao hoặc nhận hàng chậm: Phạt 5% tổng giá trị số hàng giao hoặc nhận  
chậm cho mỗi đợt giao hoặc nhận hàng chậm.  
+ Hàng giao không đúng chất lượng: Phạt 8% giá trị hợp đồng.  
- Tranh chấp phát sinh từ hợp đồng số 01/HĐMBHH được giải quyết tại Trung  
tâm trọng tài thương mại.  
Căn cứ vào pháp luật hiện hành, hãy cho biết:  
1. Các văn bản pháp luật điều chỉnh hợp đồng số 01/HĐMBHH? Giả định vào  
thời điểm công ty Hải An và công ty Thanh Trà ký hợp đồng số 01/HĐMBHH, hàng  
hóa đang trên đường vận chuyển từ Đà Nẵng về Hải Phòng và sau đó tàu hàng gặp  
nạn khiến toàn bộ hàng hóa trên tàu bị hư hỏng. Xác định rủi ro thuộc về bên nào?  
Tại sao?  
2. Công ty Hải An có được miễn trách nhiệm do không giao được hàng cho  
công ty Thanh Trà không? Vì sao?  
3. Điều khoản phạt vi phạm hợp đồng của công ty Hải An và công ty Thanh  
Trà có hợp pháp không? Tại sao?  
4. Thỏa thuận trọng tài của các bên có vô hiệu không? Tại sao? Hướng giải  
quyết như thế nào?  
LTM2 - N9 (Sưu tầm và biên tập: TS Trần Thị Bảo Ánh)  
Ngày 15/11/2016, công ty trách nhiệm hữu hạn thương mại và xây dựng V ký  
hợp đồng mua 223 tấn thép loại phi 28 của công ty cổ phần xuất nhập khẩu thép K.  
Trong hợp đồng hai bên đã thỏa thuận: “Mọi tranh chấp phát sinh từ hợp đồng này  
được giải quyết tại trung tâm trọng tài thương mại M theo thủ tục tố tụng trọng tài  
quy định tại Quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài thương mại M”.  
Sau khi giao tiền và nhận đủ 223 tấn thép tại kho của công ty K, công ty V  
phát hiện công ty K đã giao thép phi 26 nên đã yêu cầu công ty K thực hiện đúng  
hợp đồng và gia hạn cho công ty K giao hàng vào ngày 20/11/2016. Tuy nhiên, công  
ty K vẫn không thực hiện giao hàng như đã thỏa thuận trong hợp đồng.  
Ngày 25/11/2016, công ty V đã làm đơn kiện công ty K và gửi đến Trung tâm  
trọng tài thương mại M có trụ sở tại quận CG, thành phố HN. Ngày 30/11/2016, chủ  
tịch trung tâm trọng tài M đã ra quyết định thành lập Hội đồng trọng tài gồm ba trọng  
tài viên để giải quyết tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa giữa công ty V và  
công ty K.  
Ngày 15/12/2016, Hội đồng trọng tài đã mở phiên họp và ra phán quyết buộc  
công ty K phải bồi thường thiệt hại là 293 triệu đồng cho công ty V. Công ty K đã  
làm đơn yêu cầu Tòa án quận CG tuyên hủy phán quyết trọng tài vì trong hợp đồng  
mua bán thép các bên không có thỏa thuận về việc bồi thường thiệt hại. Tòa án nhân  
dân quận CG đã thụ lý đơn và chỉ định Hội đồng xét đơn yêu cầu hủy phán quyết  
trọng tài của công ty K. Hội đồng xét đơn đã ra quyết định không hủy phán quyết  
trọng tài với lý do chế tài bồi thường thiệt hại là chế tài đương nhiên, không cần các  
bên thỏa thuận trong hợp đồng.  
Căn cứ vào pháp luật hiện hành, hãy cho biết:  
1. Xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Trung tâm trọng tài thương  
mại M.  
2. Việc thành lập Hội đồng trọng tài của Chủ tịch Trung tâm trọng tài thương  
mại M có hợp pháp không? Giải thích rõ.  
3. Tòa án nhân dân quận CG có thẩm quyền thụ lý đơn yêu cầu hủy phán quyết  
trọng tài của công ty K không? Tại sao?  
4. Lý do Hội đồng xét đơn xét đơn ra quyết định không hủy phán quyết trọng  
tài có hợp pháp không? Vì sao?  
LTM2 - N10 (Tác giả: Ths. Lê Ngọc Anh)  
Công ty cổ phần Nguyễn Long (bên A) ký hợp đồng mua bán máy tính với  
công ty TNHH Minh Bảo (bên B). Trong đó có một số điều khoản sau:  
- Bên A bán 100 máy tính để bàn HP Pavilion 590-P0108D cho bên B với giá  
7.990.000 đồng/máy;  
- Bên A giao hàng vào ngày 3/6/2020 tại trụ sở chính của bên B;  
- Bên B có quyền kiểm tra hàng hoá khi bên A giao hàng đến trụ sở chính của  
bên B. Nếu hàng hoá có khuyếm khuyết thì phải thông báo cho bên A trong thời hạn  
02 ngày kể từ thời điểm kiểm tra hàng hoá;  
- Bên B phải thanh toán đầy đủ tiền hàng trong thời hạn 07 ngày kể từ khi  
nhận đủ hàng;  
- Bên có hành vi vi phạm sẽ phải chịu phạt 8% giá trị hợp đồng;  
1. Ngày 3/6/2020, bên A giao cho bên B 80 chiếc máy tính với giá 7.990.000  
đồng/máy và 20 chiếc máy tính với giá 8.490.000 đồng (do bên A không đủ hàng để  
giao nên phải nhập hàng từ công ty khác dẫn đến giá bị cao hơn). Tuy nhiên, bên B  
từ chối nhận 20 chiếc máy tính giá cao hơn.  
a. Hỏi bên B có vi phạm nghĩa vụ nhận hàng không?  
b. Hãy tư vấn cách thức xử lý tình huống này?  
2. Ngày 7/6/2020, bên B phát hiện có 10 chiếc máy tính không thể sử dụng  
được. Bên B yêu cầu bên A đổi 10 chiếc máy tính khác. Bên A không đồng ý vì cho  
rằng bên B đã kiểm tra hàng hoá và không thông báo cho bên A trong thời hạn như  
đã thoả thuận. Xác định chủ thể phải chịu trách nhiệm?  
3. Đến hạn thanh toán, bên B không thanh toán vì cho rằng bên A chưa giao  
đủ hàng, bên B yêu cầu bên A phải chịu khoản tiền phạt 63.920.000 đồng và bồi  
thường 50 triệu đồng. Bên A cho rằng mình không vi phạm nghĩa vụ giao hàng, yêu  
cầu bên B thanh toán đủ tiền hàng và chịu khoản tiền phạt 64.720.000 đồng  
(8%x(80x7.990.000 + 20x8.490.000)). Nhận xét về yêu cầu của các bên?  
LTM2 – N 11 (Tác giả: Ths. Lê Ngọc Anh)  
Công ty cổ phần sữa AH (bên A) ký hợp đồng giao đại lý số 01/HĐĐL cho  
hộ kinh doanh Tiến Linh (bên B) mặt hàng sữa tươi với một số điều khoản sau:  
- Bên B sẽ bán các sản phẩm sữa tươi do bên A sản xuất (danh mục sản phẩm  
đính kèm hợp đồng);  
- Bên B sẽ bán các sản phẩm sữa tươi theo giá do bên A ấn định;  
- Bên B sẽ được hưởng 20% trên giá bán mỗi sản phẩm;  
1. Xác định hình thức đại lý theo hợp đồng số 01/HĐĐL?  
2. Để xúc tiến việc bán hàng, công ty cổ phần sữa AH đã thực hiện một số  
hoạt động sau đây:  
- Công ty cổ phần sữa AH thực hiện quảng cáo trên website của công ty;  
- Công ty cổ phần sữa AH thực hiện chương trình khuyến mại trên phạm vi  
cả nước: mỗi lốc sữa (gồm 4 hộp) tặng kèm 1 hộp sữa cùng loại. Đồng thời khách  
hàng mua 6 lốc sữa trở lên sẽ được bốc thăm trúng thưởng.  
Hỏi:  
a. Công ty cổ phần sữa AH có được thực hiện hoạt động quảng cáo không?  
b. Tư vấn thủ tục thực hiện chương trình khuyến mại nêu trên?  
3. Trong một lần kiểm tra đột xuất, Công ty cổ phần sữa AH phát hiện hộ kinh  
doanh Tiến Linh không thực hiện đúng chương trình khuyến mại của công ty đến  
khách hàng mà bóc hết các hộp sữa tặng kèm để bán. Do đó, Công ty cổ phần sữa  
AH tuyên bố đơn phương chấm dứt hợp đồng đại lý với hộ kinh doanh Tiến Linh,  
đồng thời yêu cầu hộ kinh doanh Tiến Linh thanh toán toàn bộ các hộp sữa đã bóc  
ra để bán và bồi thường 50 triệu đồng do không thực hiện đúng chương trình khuyến  
mại, khiến khách hàng nghĩ rằng Công ty cổ phần sữa AH quảng cáo gian dối, ảnh  
hưởng đến uy tín của công ty. Phía hộ kinh doanh Tiến Linh yêu cầu Công ty cổ  
phần sữa AH phải bồi thường thiệt hại vì đã đơn phương chấm dứt hợp đồng. Nhận  
xét về yêu cầu của các bên?  
LTM2 – N 12 (Tác giả: Ths. Cao Thanh Huyền)2  
Ngày 02/08/2019, công ty TNHH Bình An có trụ sở tại Phường T, Quận C,  
Thành phố HN (Bên bán) và công ty cổ phần Đạt Phú có trụ sở tại Phường K, thành  
phố P, Tỉnh NĐ (Bên mua) ký hợp đồng mua bán hàng hóa số 38/2019/HĐMB với  
các điều khoản chính như sau:  
- Đối tượng của hợp đồng: SMART TIVI OLED  
- Số lượng: 100 cái  
- Tổng trị giá của hợp đồng: 60.581,32 USD (Sáu mươi nghìn năm trăm tám  
mươi mốt đô la Mỹ và ba mươi hai cent)  
- Phương thức thanh toán: Chia làm hai đợt: đợt đầu bên mua thanh toán 50%  
giá trị đơn hàng sau khi ký hợp đồng, đợt hai bên mua thanh toán nốt 50% giá trị  
đơn hàng còn lại trong vòng ba ngày sau khi ký biên bản bàn giao hàng hóa.  
2 Tình huống được xây dựng dựa trên Bản án số 15/2011/KDTM-ST ngày 29/07/2011 của TAND Quận T, TPHCM.  
- Thời gian giao hàng: Ngay sau khi bên mua thanh toán 50% giá trị đơn hàng.  
- Phạt vi phạm hợp đồng đối với hành vi giao hoặc nhận hàng chậm: 5% tổng  
giá trị hợp đồng.  
- Giải quyết tranh chấp: Mọi tranh chấp phát sinh từ hợp đồng này sẽ được  
giải quyết bằng thương lượng. Trong trường hợp thương lượng không thành công,  
tranh chấp sẽ được giải quyết bằng trọng tài thương mại hoặc tòa án nhân dân có  
thẩm quyền theo quy định pháp luật.  
Câu hỏi:  
1. Được biết ông Nguyễn Bình An – Giám đốc công ty TNHH Bình An và bà  
Bùi Mai Ngọc – Trưởng phòng kinh doanh công ty cổ phần Đạt Phú là hai đại diện  
thay mặt cho các bên đứng ra đàm phán, ký kết hợp đồng. Căn cứ vào quy định pháp  
luật hiện hành, anh (chị) hãy xác định hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa số  
38/2019/HĐMB?  
2. Theo anh (chị), những điều khoản hợp đồng nêu trên đã phù hợp với quy  
định pháp luật và đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các bên hay chưa? Vì sao?  
Bằng những hiểu biết về hợp đồng mua bán hàng hóa và thông tin được đưa ra ở đề  
bài, anh (chị) hãy lập bản hợp đồng mua bán hàng hóa hoàn chỉnh?  
Tình tiết bổ sung: Sau khi hợp đồng số 38 có hiệu lực thi hành, công ty Đạt  
Phú đã thanh toán trước cho bên công ty Bình An 700.000.000 đồng (bảy trăm triệu  
đồng) vào ngày 05/08/2019 theo phiếu ủy nhiệm chi của Ngân hàng BIDV – chi  
nhánh TL.  
Ngày 06/08/2019, công ty Bình An đã bàn giao số hàng hóa theo thỏa thuận  
trong hợp đồng số 38 cho công ty TNHH dịch vụ vận tải Tân Mai để thực hiện việc  
vận chuyển đến cho công ty Đạt Phú. Tuy nhiên, trên đường vận chuyển hàng hóa,  
xe hàng của công ty Tân Mai gặp tai nạn giao thông, khiến cho toàn bộ số hàng nhận  
vận chuyển bị hư hỏng hoàn toàn. Vì sự việc này, công ty Đạt Phú không có hàng  
để giao cho đối tác nên bị đối tác phạt vi phạm hợp đồng 100.000.000 đồng (Một  
trăm triệu đồng) và hủy bỏ hợp đồng.  
Trước sự việc trên, công ty Đạt Phú đã nhiều lần gửi văn bản trao đổi, thương  
lượng với công ty Bình An nhằm chia sẻ trách nhiệm nhưng không nhận được sự  
thiện chí, hợp tác từ công ty Bình An. Vì vậy, công ty Đạt Phú đã khởi kiện công ty  
Bình An ra Tòa án nhân dân quận C, thành phố HN với yêu cầu:  
- Buộc công ty Bình An hoàn trả số tiền 700.000.000 đồng (Bảy trăm triệu  
đồng) đã được công ty Đạt Phú thanh toán vào ngày 05/08/2019;  
- Buộc công ty Bình An nộp phạt vi phạm 70.000.000 đồng (70 triệu đồng) vì  
hành vi giao hàng không đúng thời hạn.  
- Buộc công ty Bình An phải bồi thường thiệt hại cho công ty Đạt Phú số tiền  
đã bị đối tác phạt vi phạm hợp đồng là 100.000.000 đồng (100 triệu đồng).  
Tuy nhiên, công ty Bình An không chấp nhận yêu cầu của công ty Đạt Phú.  
Đồng thời, công ty Bình An còn yêu cầu công ty Đạt Phú thanh toán nốt 50% giá trị  
đơn hàng còn lại là 700.000.000 đồng (Bảy trăm triệu đồng) theo thỏa thuận trong  
hợp đồng số 38/2019/HĐMB vì tính đến thời điểm khởi kiện, công ty Bình An đã  
hoàn tất nghĩa vụ giao hàng theo thỏa thuận. Câu hỏi:  
3. Căn cứ vào quy định pháp luật hiện hành, anh (chị) hãy xác định tính hợp  
pháp của những yêu cầu được đưa ra bởi công ty Bình An và công ty Đạt Phú nêu  
trên?  
4. Tòa án nhân dân quận C, thành phố HN có thẩm quyền thụ lý và giải quyết  
đơn khởi kiện của công ty Đạt Phú hay không? Vì sao?  
LTM2 - N13 (Tác giả: Ths. Cao Thanh Huyền)3  
Ngày 04/10/2018, công ty cổ phần An Hợp (có trụ sở tại phường M, thành  
phố P, tỉnh HN) (Bên A) ký hợp đồng phân phối hàng hóa số 05/HĐPP với công ty  
3 Tình huống được xây dựng dựa trên Bản án số 14/2014/KDTM-ST ngày 11/07/2014 và Bản án số 02/2014/KDTM-  
ST ngày 14/01/2014 của TAND Quận X, TPHCM.  
Tải về để xem bản đầy đủ
docx 27 trang myanh 21700 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Bộ bài tập môn Luật thương mại 2 (Dùng cho các lớp từ kỳ 1 năm học 2020-2021) - Đại học Luật Hà Nội", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • docxbo_bai_tap_mon_luat_thuong_mai_2_dung_cho_cac_lop_tu_ky_1_na.docx