Bài tập nhóm học kỳ 2 môn Pháp luật về giao dịch bảo đảm - Năm học 2017-2018
KHOA PHÁP LUẬT DÂN SỰ
BỘ MÔN LUẬT DÂN SỰ
BÀI TẬP NHÓM
MÔN: PHÁP LUẬT VỀ GIAO DỊCH BẢO ĐẢM
(Dành cho sinh viên học kỳ 2, năm học 2017 – 2018)
CÂU HỎI CHUNG CHO CÁC VỤ ÁN:
a. Kể tên các giao dịch, hợp đồng trong vụ việc? Cho biết những giao dịch, hợp
đồng nào có hiệu lực và những giao dịch, hợp đồng nào vô hiệu? Tại sao?
b. Đối chiếu tình tiết của vụ việc với những quy định của pháp luật (văn bản pháp
luật điều chỉnh quan hệ vào thời điểm phát sinh và so sánh với văn bản pháp
luật đang có hiệu lực tại thời điểm hiện tại, ví dụ: Bộ luật dân sự năm 2015;
Nghị định 102/2017 về đăng ký giao dịch bảo đảm…) để đưa ra những nhận
xét, đánh giá.
c. Bài học kinh nghiệm về pháp lý được rút ra từ việc phân tích vụ việc?
1. Vụ án 1:
Theo đơn khởi kiện, ngày 16/3/2010, Ngân hàng N ký với Công ty ĐKQ hợp đồng tín
dụng theo đó NH đồng ý cho Cty ĐKQ vay số tiền là 2.300.000.000 đồng. Tài sản thế chấp là
căn nhà số 162 VTT, Q.Tân Bình thuộc chủ quyền của ông TVS và bà LTK theo Hợp đồng
thế chấp tài sản chứng nhận ngày 16/3/2010 tại Phòng Công chứng số 7 TPHCM. Thực hiện
hợp đồng này, bị đơn đã được giải ngân qua 2 khế ước nhận nợ gồm khế ước ngày 17/3/2010
là 1.500.000.000 đồng và khế ước ngày 18/3/2010 là 800.000.000 đồng. Do cty không trả nợ
khi đến hạn, NH khởi kiện yêu cầu cty phải trả ngay số nợ gốc còn thiếu và tiền lãi tạm tính
đến ngày 16/5/2013 là 3.197.000.000 đồng, Nếu đến hạn không trả toàn bộ nợ trên thì yêu
cầu phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
Công ty ĐKQ xác nhận công ty có ký vay Ngân hàng N, tài sản thế chấp là căn nhà số
162 VTT, Q.Tân Bình thuộc chủ quyền của ông TVS và bà LTK. Thực hiện hợp đồng, công
ty chỉ trả được một phần tiền lãi do tình hình tài chính công ty gặp khó khăn, nay xác nhận nợ
gốc còn thiếu là 2.300.000.000 đồng và lãi phát sinh, nay công ty không còn khả năng thanh
toán, xin Tòa giải quyết theo quy định pháp luật. Đối với việc bảo lãnh, phía người liên quan
cho rằng do hợp đồng ủy quyền bị làm giả, công ty không liên quan vì không biết việc ông S
đưa người khác mạo danh bà K đến phòng công chứng lập hợp đồng ủy quyền nên ông S phải
chịu hoàn toàn trách nhiệm từ việc ủy quyền thế chấp tài sản cho công ty vay nợ ngân hàng.
Người có quyền và nghĩa vụ liên quan là bà NTBĐ xác nhận ngày 8/3/2010 ông TVS
đưa một người phụ nữ lên Phòng Công chứng số 1 TPHCM khai là vợ ông tên LTK kèm theo
có CMND lập hợp đồng ủy quyền cho bà được quyền thế chấp căn nhà 162 VTT, TB để vay
tiền ngân hàng, việc ủy quyền được công chứng hợp pháp. Sau đó, ngày 16/3/2010, bà đã thế
chấp tài sản trên tại Ngân hàng N để đảm bảo cho Công ty ĐKQ vay nợ là 2,3 tỷ đồng, hợp
đồng thế chấp được công chứng tại Phòng công chứng số 7 TPHCM và đăng ký thế chấp tại
Phòng Tài nguyên môi trường quận Tân Bình theo quy định. Đến giữa tháng 4/2010 Công
chứng viên phòng số 1 gọi bà lên yêu cầu hủy bỏ hợp đồng ủy quyền ngày 8/3/2010, bà
không đồng ý thì công chứng viên cho bà biết lý do vì ông S đưa người khác giả bà K lên làm
ủy quyền, sau đó làm áp lực nên bà đồng ý ký hủy bỏ ủy quyền vào ngày 14/4/2010. Ngoài
ra, bà còn xác nhận khi ký hợp đồng ủy quyền bà thực hiện với tư cách là cá nhân nên bà
không có trách nhiệm gì trong việc trả nợ thay ông S và bà K. Khi hợp đồng ủy quyền bị hủy
bỏ bà không liên hệ với Ngân hàng vì bà nghĩ rằng đây là trách nhiệm của bên chủ tài sản vì
chính ông S là người thực hiện hành vi ủy quyền và đưa người khác giả mạo vợ mình ký ủy
quyền chứ bà và Công ty ĐKQ không có lỗi, do đó, không đồng ý cho rằng hợp đồng ủy
quyền và hợp đồng thế chấp bị vô hiệu. Đối với việc vì sao ông S ủy quyền cho bà thế chấp
tài sản bảo lãnh cho Công ty DKQ vay nợ ngân hàng là do ông S thiếu nợ chồng bà (đã chết
ngày 25/4/2011).
Người có quyền và nghĩa vụ liên quan là ông TVS trình bày : ông là chồng bà LTK xác
nhận tài sản thế chấp để bị đơn vay vốn tại ngân hàng mặc dù ghi tên vợ chồng nhưng không
phải là tài sản chung của vợ chồng, vì đây là tài sản riêng của bà K được gia đình cho riêng,
tuy nhiên, ông xác nhận thời điểm lập hợp đồng ủy quyền giả mạo cho đến nay ông chưa xác
nhận bằng văn bản tài sản đó là tài sản riêng của bà K theo quy định pháp luật. Đối với việc
thế chấp tài sản trên bà K không hay biết vì ông cần tiền để làm công việc riêng nên có người
giới thiệu cho ông gặp ông H và bà Đ, với điều kiện là phải có giấy tờ để thế chấp, vì không
muốn cho vợ biết nên ông đã lén lấy giấy tờ nhà số 162 VTT Tân Bình đưa ông H và bà Đ
làm giả CMND và đưa người khác giả là vợ ông để thực hiện việc ủy quyền thế chấp cho bà
Đ, sau đó, ông nhận thấy việc làm trên là phạm pháp nên yêu cầu ông H và bà Đ hủy bỏ ủy
quyền và trả lại giấy tờ chủ quyền nhà cho ông nhưng họ không thực hiện vì đã cầm giấy tờ
nhà thế chấp tại Ngân hàng N. Tiếp đó, cơ quan điều tra thụ lý hồ sơ ủy quyền do ông làm giả
nên ông đã bị bắt giam và bị phạt tù 8 tháng, nay đã chấp hành án xong vì vậy không còn
trách nhiệm dân sự đối với việc liên quan đến hợp đồng ủy quyền làm giả nữa, đồng thời, ông
không trực tiếp vay tiền Ngân hàng nên không chấp nhận cho ngân hàng phát mãi tài sản thế
chấp.
Người có quyền và nghĩa vụ liên quan là bà LTK trình bày: Ngay từ đầu, hợp đồng ủy
quyền cho bà Đ được thế chấp tài sản của bà K đã bị làm giả (bản án hình sự sơ thẩm đã xác
nhận ông S làm giả) nên bà K không chấp nhận yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp là căn nhà
số 162 VTT quận Tân Bình vì hợp đồng ủy quyền giữa ông S, bà K với bà Đ vô hiệu dẫn đến
hợp đồng thế chấp vô hiệu vì vi phạm pháp luật.
Đồng thời, hợp đồng thế chấp vi phạm khoản 5 điều 144 Bộ luật Dân sự vì bà Đào là
đại diện pháp luật cũng là thành viên công ty, làm chủ sở hữu công ty là giao dịch với chính
mình nên hợp đồng này vô hiệu toàn bộ.
Do đó, yêu cầu Tòa án tuyên bố:
- Hợp đồng ủy quyền giữa ông TVS, bà LTK với bà Đ ngày 8/3/2010 theo chứng nhận
số 005487 của Phòng công chứng số 1 TPHCM là vô hiệu do vi phạm pháp luật
- Hợp đồng thế chấp tài sản số 043/NHNT/BT/TC10 ngày 16/3/2010 giữa Ngân hàng
N và bà Đ để bảo lãnh vay vốn cho Công ty Đ là vô hiệu do vi phạm pháp luật
- Buộc Ngân hàng N hoàn trả cho bà LTK bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất và bản chính tờ khai lệ phí trước bạ cùng các bản chính giấy tờ kèm theo.
2. Vụ án 2:
Theo đơn khởi kiện, Ngân hàng A có cho Công ty cổ phần C vay 49.000.000.000 đồng.
Mục đích vay: mua nhà lập trường tiểu học và bổ sung vốn kinh doanh.
Nguyên đơn yêu cầu chấm dứt hợp đồng trước thời hạn và yêu cầu bị đơn thanh toán số
tiền vốn còn nợ 46.700.000.000 đồng và lãi phát sinh từ hợp đồng tín dụng nói trên.
Tài sản đảm bảo là quyền thuê tài sản gắn liền với đất là 13 biệt thự cổ tại Đà Lạt, Lâm
Đồng và căn nhà số A9 UVK, quận Bình thạnh, TP. HCM do Công ty C làm chủ sở hữu.
Hợp đồng thế chấp căn nhà số A9 UVK đã được công chứng số tại Phòng công chứng số 5
TPHCM chứng nhận ngày 07/9/2005 và được đăng ký giao dịch đảm bảo tại Trung tâm
thông tin tài nguyên – môi trường và đăng ký nhà đất TPHCM ngày 07/9/2005.
Nếu quá thời hạn mà bị đơn không trả được nợ thì phát mãi các tài sản thế chấp nói trên
để thu hồi nợ cho ngân hàng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: UBND tỉnh Lâm Đồng xác nhận có ủy quyền
cho Sở Tài chính tỉnh Lâm Đồng ký Hợp đồng cho thuê biệt thự thuộc sở hữu Nhà nước với
Công ty C. Công ty C đã thanh tóan được 13.790.000.000đ00 tiền quyền thuê 13 biệt thự
trong thời hạn 5 năm từ ngày 17/11/2005 đến 17/11/2010. Khi công ty C đem quyền thuê 13
biệt thư nói trên đi thế chấp ngân hàng để vay tiền không báo cho UBND tỉnh biết. Mặt
khác, trong hợp đồng cũng không qui định là công ty C được quyền thế chấp quyền thuê 13
biệt thự để vay tiền. UBND tỉnh Lâm Đồng không đồng ý phát mãi quyền thuê13 biệt thự để
trả nợ cho ngân hàng.
Toà án đã triệu tập hợp lệ bị đơn là Công ty C để hoà giải và xét xử nhưng Công ty C
đều vắng mặt nên không lấy được lời khai.
3. Vụ án 3 :
Ngày 25/9/2006, bà PTKL có ký 2 HĐTD vay của Ngân hàng K 700.000.000 đồng, thời
hạn vay là 12 tháng.
Tài sản bảo đảm nợ vay là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại 220/69H và
220/69K HHT, quận Bình Thạnh, TPHCM do bà NTB và ông NVL đứng tên và tự nguyện
thế chấp.
Do các khoản nợ vay đã quá hạn mà bà L vẫn không thanh toán được nên Ngân hàng K
đã nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà L phải thanh toán số nợ gốc là 700.000.000
đồng và lãi phát sinh cho đến ngày trả hết nợ gốc, đồng thời buộc bà B và ông L phải bàn
giao tài sản bảo đảm để phát mãi thu hồi nợ cho ngân hàng.
Bà PTKL xác nhận và đồng ý thanh toán các khoản nợ nói trên cho Ngân hàng K, chỉ
xin giảm bớt phần lãi phạt quá hạn (chỉ tính theo lãi suất vay trong hạn cho đến ngày trả hết
nợ vốn) và xin trả trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày xét xử.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà B và ông L xác nhận có ký hợp đồng thế
chấp tài sản để bảo đảm cho khoản nợ vay theo hợp đồng tín dụng số nói trên và hiện nay
đang cho bà H và ông T sử dụng căn nhà mà mình đã thế chấp cho ngân hàng vì bà B có vay
của bà H 180.000.000 đồng và ông L có vay của ông T 90.000.000 đồng.
Bà B và ông L không đồng ý cho phát mãi tài sản bảo đảm là 2 căn nhà nói trên vì ông
L và bà B không có ký hợp đồng bảo lãnh mà chỉ ký hợp đồng thế chấp là không đúng quy
định và cả 2 người này đều không đọc hợp đồng trước khi ký (do tin tưởng bà PTKL).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà H và ông T xác nhận đúng như bà B và
ông L trình bày và không có ý kiến hoặc yêu cầu gì trong vụ án này, đề nghị Tòa án xét xử
theo quy định của pháp luật (Nếu có tranh chấp với bà Bến, ông Lài, sẽ khởi kiện thành một
vụ án khác).
4. Vụ án 4:
Căn cứ Hợp đồng tín dụng vay bắt buộc do không thanh toán được nợ tín dụng thư,
Công ty HL còn nợ Ngân hàng N số nợ gốc là 483.678,97 USD; số nợ lãi tính đến ngày
30/4/2005 là 706.812,86 USD., tổng cộng là 1.190.491,83 USD.
Khoản nợ nói trên hiện được bảo đảm bởi 3 bộ khung kho Zamil Steel theo Hợp đồng
thế chấp đã được công chứng và quyền sử dụng 7.150 m2 đất tại Phường 12 TP. Vũng Tàu
theo Hợp đồng thế chấp đã được đăng ký tại Sở Tài nguyên – Môi trường tỉnh Bà Rịa – Vũng
Tàu.
Do Công ty HL không thanh toán được nợ (dù đã cam kết và được ngân hàng tạo điều
kiện nhiều lần) nên Ngân hàng N khởi kiện yêu cầu công ty phải thanh toán khoản nợ nói
trên và yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho ngân hàng.
Đồng thời, căn cứ vào các hợp đồng tín dụng đã ký với Ngân hàng C, Công ty HL còn
nợ Ngân hàng C số nợ vay là 24.592.731.316 đồng, số nợ bảo lãnh là 10.466.222.920 đồng
và nợ lãi là 109.675.648.138 đồng, tổng cộng là 144.734.602.374 đồng.
Để bảo đảm nợ vay và bảo lãnh, Công ty HL đã thế chấp cho Ngân hàng C các tài sản
gồm:
- Quyền sử dụng 5 lô đất có tổng diện tích 50.000 m2 tại thị trấn Dĩ An, huyện Thuận
An, tỉnh Sông Bé, nay thuộc Khu công nghiệp Sóng Thần, tỉnh Bình Dương (theo các Giấy
thế chấp tài sản đã được công chứng) .
- Tài sản gắn liền trên đất: Cụm nhà kho A1,A2, A3 (ngoại trừ 3 bộ khung kho đã được
thế chấp cho Ngân hàng N) có tổng diện tích xây dựng là 27.360 m2 và các công trình phụ trợ
(theo Giấy thế chấp tài sản đã được công chứng).
- Phần xây dựng cụm nhà kho B1, B2 có diện tích xây dựng 8.760 m2 tại Khu công
nghiệp Sóng Thần, tỉnh Bình Dương (theo Giấy thế chấp tài sản đã được công chứng)
Do Công ty HL không thanh toán được nợ (dù đã cam kết và được ngân hàng tạo điều
kiện nhiều lần) nên Ngân hàng C khởi kiện yêu cầu công ty phải thanh toán khoản nợ nói trên
và yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho ngân hàng.
Công ty HL xác nhận số nợ gốc đúng như Ngân hàng N yêu cầu nhưng đề nghị được
xem xét lại việc tính lãi phát sinh do công ty gặp rất nhiều khó khăn về tài chính. Đối với yêu
cầu của Ngân hàng C thì 2 bên chưa xác định được số dư nợ.
5. Vụ án 5:
Ngày 30/12/2009, Ngân hàng P có cho Công ty cổ phần AP vay nợ theo Hợp đồng tín
dụng hạn mức và Khế ước nhận nợ ký cùng ngày 30/12/2009 với số tiền vay là
5.800.000.000 đồng, thời hạn vay đến ngày 03/5/2010, lãi suất 13,2%/năm.
Tài sản bảo đảm cho khoản nợ nói trên là quyền sử dụng 1.854 m2 đất của ông TVA và
bà NTH tọa lạc tại huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (theo Hợp đồng thế chấp ngày
05/02/2010 đã được công chứng và đăng ký thế chấp) và 1.000 tấn thép thuộc quyền sơ hữu
của Công ty AP (theo Hợp đồng cầm cố ngày 30/12/2009 đã được đăng ký giao dịch bảo đảm
ngày 31/12/2009).
Lô thép cầm cố nói trên được giao cho Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ bảo vệ NL
quản lý theo Hợp đồng bảo quản, quản lý hàng hóa nhập khẩu để cầm cố, thế chấp ký ngày
30/12/2009 giữa NH, Công ty AP và Công ty NL, trong đó có thỏa thuận việc rút hàng ra
khỏi kho chỉ được thực hiện khi có sự đồng ý của bên nhận cầm cố là NH.
Quá trình thực hiện hợp đồng, dù đã được ngân hàng nhắc nợ nhiều lần nhưng Công ty
AP luôn để nợ quá hạn nhiều kỳ liên tiếp. Để cấn trừ một phần khoản nợ, NH P đã phối hợp
với Công ty AP bán 721,22 tấn thép cầm cố, số thép còn lại là 14 cuộn, tương đương 278,78
tấn. Tuy nhiên, trong tháng 01/2010, Công ty NL đã tự ý xuất kho và bàn giao cho Công ty
AP 14 cuộn thép nói trên mà không có sự đồng ý của NH, dẫn đến một phần nợ vay của
Công ty AP không có tài sản bảo đảm.
Đến ngày 22/6/2010, Công ty AP còn nợ NH P tổng cộng 1.570.000.000 đồng, trong đó
nợ gốc là 1.550.000.000 đồng và nợ lãi là 20.000.000 đồng. Do đó, nguyên đơn khởi kiện
yêu cầu Tòa án buộc Công ty AP và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải thanh
toán toàn bộ nợ gốc, nợ lãi và lãi phát sinh cho NH, buộc Công ty AP và Công ty NL liên đới
hoàn trả 14 cuộn thép cho NH để bảo đảm thanh toán nợ vay; nếu Công ty AP và những
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không tự nguyện thanh toán nợ thì cho phép áp dụng
biện pháp cưỡng chế xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ cho ngân hàng.
Công ty AP xác nhận có ký Hợp đồng tín dụng và Khế ước vay tiền kiêm giấy nhận nợ
cùng ngày 30/12/2009 và các hợp đồng thế chấp ngày 05/02/2010 và 04/5/2010. Xác nhận số
nợ gốc còn lại là 1.550.000.000 đồng và sẽ cố gắng trả nợ sớm cho ngân hàng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông TVA và bà NTH trình bày: Đề nghị ngân
hàng cho Công ty AP 6 tháng để trả nợ. Nếu sau 6 tháng Công ty AP không trả được nợ thì
đề nghị ngân hàng phát mãi tài sản thế chấp là chiếc sà lan theo Hợp đồng thế chấp ngày
04/5/2010 mà không phát mãi tài sản do ông A, bà H đứng tên chủ sử dụng vì tài sản này chỉ
cho Công ty AP mượn.
Công ty NL xác nhận việc xuất thép mà chưa có ý kiến của ngân hàng là do nhân viên
của Công ty NL làm mà chưa có ý kiến của lãnh đạo công ty. Tuy nhiên, do Công ty AP
đồng ý chịu trách nhiệm toàn bộ về việc xuất hàng nên Công ty NL mới cho xuất hàng. Đề
nghị Tòa án không đưa Công ty NL vào tham gia tố tụng trong vụ án với tư cách người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và xin được vắng mặt tại các phiên hòa giải và xét xử.
PHỤ TRÁCH BỘ MÔN (đã ký); TS. Vũ Thị Hồng Yến
Yêu cầu:
- Các nhóm trong một lớp thảo luận làm theo thứ tự của từng vấn đề (Ví dụ: Nhóm có
thứ tự là 1 của lớp thảo luận sẽ làm đề số 1, tương tự như vậy đối với các nhóm tiếp
theo và đến nhóm thứ 10 thì quay vòng lại từ đầu).
- Phải có biên bản phân công công việc cho các thành viên trong nhóm và đánh giá kết
quả làm việc của từng thành viên.
- Sản phẩm của mỗi nhóm gồm: 01 bản word nộp cho tổ bộ môn Luật Dân sự, 01 bản
thuyết trình được chuẩn bị dưới dạng powerpoint hoặc sơ đồ tóm tắt những vấn đề
chính được trình bày trên khổ giấy A0.
- Nội dung: 8 điểm, phương pháp trình bày 2 điểm
- Yêu cầu về hình thức: Phần trình bày của nhóm cụ thể, rõ ràng, sạch đẹp
- Mọi thắc mắc về đề liên hệ với cô Yến theo số điện thoại 0973586499 hoặc mail:
vuthihongyenhlu@gmail.com./.
Bạn đang xem tài liệu "Bài tập nhóm học kỳ 2 môn Pháp luật về giao dịch bảo đảm - Năm học 2017-2018", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
bai_tap_nhom_hoc_ky_2_mon_phap_luat_ve_giao_dich_bao_dam_nam.pdf

