Báo cáo đề tài Kỹ năng tư duy phản biện thông qua nghiên cứu hoạt động xây dựng bản cáo trạng của Viện Kiểm sát Nhân dân ở tỉnh Thừa Thiên Huế

ĐẠI HỌC HUẾ  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT  
------cfid------  
BÁO CÁO TỔNG KẾT  
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN  
Tên đề tài:  
KỸ NĂNG TƯ DUY PHẢN BIỆN THÔNG QUA  
NGHIÊN CỨU HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG BẢN CÁO TRẠNG  
CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN  
Ở TỈNH THỪA THIÊN HUẾ  
Mã số  
: ĐHL2019-SV-16  
Chủ nhiệm đề tài  
: Đặng Thị Thúy Như  
Thời gian thực hiện : Từ tháng 01/2019 đến tháng 12/2019  
Thừa Thiên Huế, 12/2019  
ĐẠI HỌC HUẾ  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT  
------cfid------  
BÁO CÁO TỔNG KẾT  
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN  
Tên đề tài:  
KỸ NĂNG TƯ DUY PHẢN BIỆN THÔNG QUA  
NGHIÊN CỨU HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG BẢN CÁO TRẠNG  
CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN  
Ở TỈNH THỪA THIÊN HUẾ  
Mã số: ĐHL2019-SV-16  
Chủ nhiệm đề tài: Đặng Thị Thúy Như  
Thời gian thực hiện: Từ tháng 01/2019 đến tháng 12/2019  
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: ThS. Hồ Đức Chính  
Họ và tên, học hàm, học vị:  
Ký xác nhận đồng ý cho nghiệm thu: ……………………….  
Ký xác nhận đồng ý cho nghiệm thu: ……………………….  
SINH VIÊN PHỐI HỢP NGHIÊN CỨU:  
1. Ngô Thị Mỹ Duyên  
2. Nguyễn Thị Thanh Linh  
Thừa Thiên Huế, 12/2019  
DANH SÁCH THÀNH VIÊN  
STT  
HỌ VÀ TÊN SINH VIÊN  
LỚP  
MÃ SINH VIÊN  
16A5011265  
15A5012002  
15A5021136  
1
2
3
ĐẶNG THỊ THÚY NHƯ  
NGÔ THỊ MỸ DUYÊN  
Luật K40A  
Luật K39B  
NGUYỄN THỊ THANH LINH  
Luật KT  
K39A  
i
LỜI CAM ĐOAN  
Nhóm tác giả xin cam đoan bài nghiên cứu khoa học với đề tài “Kỹ năng tư  
duy phản biện thông qua nghiên cứu hoạt động xây dựng bản cáo trạng của  
Viện kiểm sát nhân dân ở tỉnh Thừa Thiên Huế” là sản phẩm của riêng nhóm  
tác giả. Những số liệu trong bài nghiên cứu được thu thập từ quá trình khảo sát tại  
Trường Đại học Luật, Đại học Huế. Nhóm tác giả hoàn toàn chịu trách nhiệm về  
tính chính xác của thông tin.  
Huế, tháng 12 năm 2019  
NHÓM TÁC GIẢ  
ii  
Lꢀi Cꢁm ꢂn  
Để hoàn thành đề tài “Kỹ năng tư duy phản biện thông qua nghiên cứu  
hoạt động xây dựng bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân ở tỉnh Thừa  
Thiên Huế”, nhóm nghiên cứu đã nhận được nhiều sự quan tâm và tạo điều  
kiện của Ban Giám hiệu nhà trường, cán bộ phòng Khoa học Công nghệ và  
Môi trường Hợp tác Quốc tế Trường Đại học Luật, Đại học Huế. Nhóm tác  
giả xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến sự giúp đỡ của Qúy Thầy Cô.  
Đặc biệt, nhóm nghiên cứu xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Trung tâm  
thực hành Luật và Khởi nghiệp Trường Đại học Luật, Đại học Huế, PGS.TS  
Đoàn Đức Lương – Giám đốc Trung tâm, ThS. Trần Cao Thành – Tổ trưởng  
Tổ Thực hành luật đã tận tình hướng dẫn, góp ý để nhóm nghiên cứu hoàn  
thành đề tài nghiên cứu.  
Đồng thời, nhóm đề tài cũng gửi lời cảm ơn chân thành đến giáo viên  
hướng dẫn - thầy Hồ Đức Chính đã luôn quan tâm và hỗ trợ kịp thời cho nhóm  
nghiên cứu, đặc biệt là các kiến thức thực tiễn liên quan đến nội dung đề tài.  
Cuối cùng, mặc dù luôn không ngừng cố gắng tiếp thu, học hỏi trong quá  
trình thực hiện đề tài nhưng vẫn không thể tránh khỏi những sai sót nhất định.  
Rất mong nhận được ý kiến góp ý từ quý thầy cô để đề tài được hoàn thiện nhất.  
Xin chân thành cảm ơn!  
Huế, tháng 12 năm 2019  
NHÓM TÁC GIẢ  
MỤC LỤC  
Trang phụ bìa  
Trang  
Lời cam đoan ......................................................................................................... i  
Lời cảm ơn ............................................................................................................ii  
Danh sách thành viên tham gia đề tài........................................................................................iii  
Mục lục ................................................................................................................ iv  
MỞ ĐẦU........................................................................................................................1  
1. Tính cấp thiết của đề tài.............................................................................................1  
2. Tình hình nghiên cứu đề tài.......................................................................................2  
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu............................................................................3  
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.............................................................................3  
5. Phương pháp nghiên cứu...........................................................................................4  
6. Kết cấu của đề tài .......................................................................................................4  
NỘI DUNG....................................................................................................................5  
Chương 1.KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KỸ NĂNG TƯ DUY PHẢN BIỆN........5  
1.1. Một số khái niệm, biểu hiện cơ bản của kỹ năng tư duy phản biện .............5  
1.1.1. Một số khái niệm..................................................................................................5  
1.1.1.1. Khái niệm tư duy và tư duy phản biện ...........................................................5  
1.1.1.2. Khái niệm năng lực tư duy phản biện..............................................................6  
1.1.2. Biểu hiện cơ bản của kỹ năng tư duy phản biện ................................................8  
1.1.2.1. Tính tư duy........................................................................................................8  
1.1.2.2. Tính tranh luận..................................................................................................8  
1.1.2.3. Tính khái quát và có hệ thống..........................................................................9  
1.1.2.4. Tính suy luận.....................................................................................................9  
1.2. Vai trò của kỹ năng tư duy phản biện.............................................................10  
1.2.1. Vai trò cơ bản.....................................................................................................10  
1.2.2. Vai trò đối với hoạt động xây dựng bản cáo trạng của Viện kiểm sát................13  
1.3. Các yếu tố tác động đến kỹ năng tư duy phản biện ......................................14  
1.3.1. Yếu tố khách quan .............................................................................................14  
iv  
1.3.2. Các yếu tố chủ quan...........................................................................................17  
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1..............................................................................................20  
Chương 2. ĐÁNH GIÁ KỸ NĂNG TƯ DUY PHẢN BIỆN THÔNG QUA  
NGHIÊN CỨU BẢN CÁO TRẠNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT VÀ THỰC  
TRẠNG KỸ NĂNG TƯ DUY PHẢN BIỆN CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI  
HỌC LUẬT, ĐẠI HỌC HUẾ..................................................................................21  
2.1. Đánh giá kỹ năng tư duy phản biện thông qua nội dung bản cáo trạng của  
Viện kiểm sát...............................................................................................................21  
2.1.1. Kỹ năng trình bày nội dung vụ án trong cáo trạng ..........................................22  
2.1.2. Kỹ năng phân tích, lập luận và suy luận...........................................................26  
2.2. Đánh giá kỹ năng tư duy phản biện của sinh viên Trường Đại học Luật, Đại  
học Huế ........................................................................................................................43  
2.2.1. Khả năng tư duy.................................................................................................46  
2.2.2. Khả năng phản biện ...........................................................................................50  
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2..............................................................................................55  
Chương 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ NÂNG CAO KỸ NĂNG TƯ DUY PHẢN  
BIỆN CHO SINH VIÊN ...........................................................................................56  
3.1. Một số nguyên nhân hạn chế khả năng tư duy phản biện ...........................56  
3.1.1. Nguyên nhân từ phía sinh viên..........................................................................56  
3.1.2. Nguyên nhân từ phía nhà trường ......................................................................59  
3.1.3. Nguyên nhân từ phía người sử dụng lao động (gọi tắt là NSDLĐ)................61  
3.2. Một số kiến nghị về giải pháp để phát triển khả năng tư duy phản biện cho  
sinh viên .......................................................................................................................62  
3.2.1. Một số kiến nghị dành cho người học ..............................................................63  
3.2.2. Một số dành cho nhà trường..............................................................................66  
3.2.3. Một số kiến nghị dành cho người sử dụng lao động .......................................68  
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3..............................................................................................69  
KẾT LUẬN .................................................................................................................70  
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................71  
PHỤ LỤC  
v
MỞ ĐẦU  
1. Tính cấp thiết của đề tài  
Trong bối cảnh xã hội ngày càng phát triển đòi hỏi mỗi người phải luôn  
quan sát, lắng nghe để tiếp cận vấn đề. Ngoài ra phải có những luận điểm logic để  
giải quyết và phản biện những vấn đề đó. Để làm được điều này, mỗi cá nhân cần  
xây dựng cho mình kỹ năng tư duy phản biện.  
Kỹ năng tư duy phản biện là một yếu tố rất quan trọng, góp phần hoàn thiện  
khả năng tư duy, giải quyết vấn đề của mỗi cá nhân. Tư duy phản biện giúp mỗi  
các nhân hoàn thiện hệ thống tri thức thông qua việc gải quyết những vấn đề trong  
bài học cũng như cuộc sống. Đây sẽ là một tấm vé trong hành trang thành công  
của mỗi cá nhân, như tiến sĩ Robert Sternberg - chuyên gia trí tuệ con người  
(human intelligence) từng nói: "Chỉ số thông minh (IQ) cao, kết quả học tập tốt  
hoặc tấm bằng đại học danh giá vẫn chưa đủ. Nếu như bạn không có tư duy sáng  
tạo thì sẽ rất khó khăn để bạn tồn tại".  
Ở nước ta hiện nay tất cả các trường Đại học đều xây dựng cho mình mô  
hình đào tạo theo tín chỉ, chính vì vậy khả năng tư duy càng quan trọng hơn để  
mỗi sinh viên phát huy khả năng tự học và tiếp thu tri thức của mình. Đối với  
những sinh viên Luật và những người có nghề nghiệp gắn liền với hoạt động pháp  
luật như Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên…thì kỹ năng tư duy phản biện  
lại càng đóng vai trò quan trọng, là một trong những yếu tố quyết định đến hiệu  
quả học tập và làm việc. Kỹ năng này hỗ trợ việc nghiên cứu cũng như quá trình  
làm việc trong lĩnh vực luật pháp – một lĩnh vực đòi hỏi có kỹ năng tư duy phản  
biện để đưa ra lập luận, lỹ lẽ, dẫn chứng một cách thuyết phục, xác đáng.  
Tuy nhiên khả năng tư duy của sinh viên luật nước ta hiện nay chưa thật sự  
tốt, còn thụ động trong việc tiếp nhận thông tin và tri thức. Đa số sinh viên Luật  
nước ta giỏi về lý thuyết nhưng khả năng tư duy vận dụng những tri thức này trong  
hoạt động nghề nghiệp còn hạn chế, rất khó cạnh trạnh với sinh viên luật các nước  
trên thế giới. Chính việc kỹ năng năng này rất khó để đào tạo qua hệ thống trường  
học nên mỗi các nhân cần tự hoàn thiện và rèn luyện để nang tầm, tăng tính cạnh  
tranh cảu bản thân trong xã hội..  
Một hoạt động rất quan trong của sinh viên luật là việc nghiên cứu hoạt  
động xây dựng bản cáo trạng của Viện Kiểm Sát. Cáo trạng của Viện kiểm sát là  
văn bản pháp lý quan trọng, có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích của bị  
can và những người có liên quan. Đây là một trong những căn cứ để Hội đồng xét  
1
xử đưa ra kết luận cuối cùng của vụ án. Hoạt động xây dựng bản cáo trạng cần  
tiến hành một cách chặt chẽ, với lập luận chính xác, logic từ những chứng cứ đã  
được thu thập và đánh giá trong quá trình điều tra. Vì vậy hoạt động này cần phối  
hợp rất nhiều kỹ năng, trong đó có kỹ năng tư duy phản biện.  
Từ những vấn đề lý luận và thực tiển nêu trên, có thể thấy kỹ năng tư duy  
phản biện có mối quan hệ mật thiết với việc nghiên cứu hoạt động xây dựng cáo  
trạng. Nhằm mục đích tạo cơ sở cho quá trình học tập cũng như góp phần tìm ra  
giải pháp để hoàn thiện kỹ năng tư duy phản biện cho sinh viên Luật nói chung  
và sinh viên Trường Đại học Luật, Đại học Huế nói riêng, nhóm nghiên cứu đã  
lựa chọn đề tài “Kỹ năng tư duy phản biện qua nghiên cứu hoạt động xây dựng  
bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân ở tỉnh Thừa Thiên Huế” để làm nội  
dung nghiên cứu đề tài khoa học cấp trường năm 2019.  
2. Tình hình nghiên cứu đề tài  
Trên thế giới, tại các quốc gia phát triển trên thế giới, vấn đề đào tạo, rèn  
luyện kỹ năng tư duy phản biện cho người nghiên cứu pháp luật được quan tâm  
và chú trọng hơn hết. Vì thế, đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này, tuy  
nhiên, chủ yếu tập trung phân tích tầm quan trọng và đưa ra giải pháp phát triển  
kỹ năng này trên cơ sở chung về sinh học, tâm lý học và thông qua quá trình rèn  
luyện.  
- James, Nick và Burton, Kelley (2017) "Đo lường kỹ năng tư duy phê phán  
của sinh viên luật thông qua việc sử dụng cách tiếp cận toàn bộ chương trình giảng  
dạy, Đại học Bond, Đánh giá giáo dục pháp lý, tập 27, Số 1, Bài báo 1.  
- Nick James (2012) “Logic, trọng yếu và sáng tạo: dạy kỹ năng tư duy  
phản biện cho sinh viên luật”, University of Queensland.  
- Courtney Lee “Kỹ năng pháp lý cho ngành luật và thực hành pháp lý”,  
Đại học Thái Bình Dương, Trường Luật McGeorge.  
- M.Neil Browne và Stuart M.Keeley (2017),"Phá tan sự ngụy biện”, Nxb  
Lao Động.  
Trong nước, trên khía cạnh tập trung phân tích các vấn đề lý luận về tư duy  
phản biện và nâng cao kỹ năng tư duy phản biện cho các đối tượng nói chung có  
các công trình như:  
- Lê Hữu Nghĩa, Phạm Duy Hải (1998) "Tư duy khoa học trong giai đoạn  
cách mạng khoa học - công nghệ", Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, làm rõ bản  
chất, hình thức, vai trò của tư duy trong nhận thức và thực tiễn.  
2
- Nguyễn Hiền Lương (2015), “Tư duy và vấn đề rèn luyện, nâng cao năng  
lực tư duy của nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Triết  
học, số 6 – 2015.  
Về kỹ năng tư duy phản biện cho sinh viên nói chung và sinh viên Luật nói  
riêng có các công trình sau đây:  
- Hoàng Thúc Lân (2014) "Phát tiển năng lực tư duy biện chứng cho sinh  
viên Việt Nam hiện nay", Nxb Chính trị quốc gia.  
- Lê Tiến Châu (2005), "Thực trạng đào tạo của nhân luật ở nước ta hiện  
nay", Tạp chí Khoa học pháp lý, số 4-2005.  
- Nguyễn Thị Tuyết Mai (2018), “ Phát triển năng lực tư duy phản biện cho sinh  
viên ngành Luật ở Việt Nam hiện nay”, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.  
- Lê Thanh Sơn, Đoàn Đức Lương (2018), giáo trình “kỹ năng Tư duy phản  
biện”, nxb Đại học Huế.  
Hầu như các công trình đều nghiên cứu kỹ năng Tư duy phản biện trên cơ  
sở phân tích các vấn đề lý luận, đưa ra vấn đề thực tiễn và hướng khắc phục. Tuy  
nhiên hầu như vẫn chưa có công trình nghiên cứu về Kỹ năng tư duy phản biện  
trên cơ sở thực tiễn của hoạt động xây dựng cáo trạng của Viện kiểm sát.  
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu  
Mục tiêu của đề tài là trên cơ sở khoa học, thực trạng, nhu cầu học tập  
của sinh viên trường Đại học Luật, Đại học Huế và hoạt động xây dựng bản  
cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân ở tỉnh Thừa Thiên Huế đề ra những giải  
pháp để góp phần nâng cao khả năng tư duy cho sinh viên của Trường Đại học  
Luật, Đại học Huế và nâng cao chất lượng của hoạt động xây dựng bản cáo  
trạng của Viện Kiểm Sát.  
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu  
4.1. Đối tượng nghiên cứu  
- Hoạt động xây dựng cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân nói chung,  
Viện Kiểm Sát nhân dân trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế nói riêng.  
- Các cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế, Viện  
kiểm sát nhân dân thành phố Huế và Viện kiểm sát nhân dân các huyện trên địa  
bản tỉnh Thừa Thiên Huế.  
- Vấn đề phát triển kỹ năng tư duy phản biện thông qua nghiên cứu cáo trạng.  
- Nghiên cứu kỹ năng tư duy phản biện thông qua 05 bản cáo trạng của  
Viện kiểm sát trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế.  
3
4.2. Phạm vi nghiên cứu  
Các hoạt động liên quan đến hoạt động xây dựng cáo trạng và nội dung cáo  
trạng của Viện kiểm sát nhân dân trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế.  
Thực trạng phát triển năng lực tư duy phản biện của sinh viên Trường Đại  
học Luật, Đại học Huế và các đối tượng khác.  
Thời gian từ năm 2016 đến nay.  
Không gian: trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế.  
5. Phương pháp nghiên cứu  
Phối hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học khác nhau.  
- Sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp để làm rõ các vấn đề lý luận  
về kỹ năng Tư duy phản biện như về khái niệm, các biểu hiện, vai trò của kỹ năng  
Tư duy phản biện.  
- Phương pháp điều tra, khảo sát, phỏng vấn và lấy ý kiến chuyên gia để  
đánh giá kỹ năng Tư duy phản biện trong sinh viên, trong hoạt động xây dựng cáo  
trạng của Viện kiểm sát cũng như các góp ý, các lời khuyên của chuyên gia nhằm  
phát triển kỹ năng này cho sinh viên.  
6. Kết cấu của đề tài  
Ngoài phần mở đầu thì đề tài nghiên cứu gồm 03 chương:  
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản của kỹ năng tư duy phản biện  
Chương 2: Kỹ năng tư duy phản biện thông qua nghiên cứu hoạt động xây  
dựng cáo trạng của Viện kiểm sát và giải pháp để nâng cao khả năng tư duy cho  
sinh viên luật  
Chương 3: Một số giải pháp để nâng cao kỹ năng tư duy phản biện cho sinh viên  
4
NỘI DUNG  
Chương 1.  
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KỸ NĂNG TƯ DUY PHẢN BIỆN  
1.1. Một số khái niệm, biểu hiện cơ bản của kỹ năng tư duy phản biện  
Ở phần này, nhóm nghiên cứu tập trung phân tích và làm rõ khái niệm “tư  
duy” và “phản biện”, từ đó đưa ra định nghĩa chung về “tư duy phản biện” và “kỹ  
năng tư duy phản biện”. Qua đó có thể đưa ra các biểu hiện cơ bản của kỹ năng  
tư duy phản biện. Đồng thời, nhóm tác giả cũng phân tích vai trò của kỹ năng tư  
duy phản biện và các yếu tố tác động đến kỹ năng này nhằm làm cơ sở cho việc  
phân tích từ thực tiễn hoạt động xây dựng cáo trạng của Viện kiểm sát và thực  
trạng rèn luyện kỹ năng này trong sinh viên.  
1.1.1. Một số khái niệm1  
Thông qua phân tích khái niệm “tư duy phản biện” và “năng lực tư duy  
phản biện” trên cơ sở các nhận định của các nhà triết học, tâm lý học, nhà giáo  
dục…nhóm đề tài đưa ra cái nhìn khái quát nhất về “kỹ năng tư duy phản biện”.  
1.1.1.1. Khái niệm tư duy và tư duy phản biện  
Con người để tồn tại thì cần tư duy trên mọi hoạt động, đây là khả năng cơ  
bản của con người nhằm tìm ra hướng giải quyết cho vấn đề hay đơn thuần là tư  
duy để nhìn nhận những diễn biến của sự vật hiện tượng trong cuộc sống. Trong  
thời đại kinh tế tri thức với xu hướng toàn cầu hoá, năng lực tư duy của con người  
trở thành một tài sản vô giá. Vậy tư duy là gì?  
Theo các nhà tâm lý học, tư duy là dạng hoạt động trí não cao nhất của con  
người. Tư duy làm cái cốt lõi, tiền đề bên trong của hoạt động sáng tạo. Giáo sư  
Edward de Bono đã nhận định trong cuốn Sáu chiếc mũ tư duy: “Tư duy là kỹ năng  
vận hành của bộ não mà nhờ đó trí thông minh được nuôi dưỡng và phát triển”2.  
Theo từ điển tiếng Việt – Trung tâm từ điển học thì “Tư duy là giai đoạn  
cao của quá trình nhận thức, đi sâu vào bản chất và và phát hiện ra tính quy luật  
của sự vật bằng những hình thức như biểu tượng, khái niệm, phán đoán và suy lí” .  
Vậy tư duy phản biện có gì khác so với sự tư duy thông thường, mục đích  
cuối cùng của quá trình này giúp ích được gì cho con người.  
1 Các khái niệm trong phần này được trích dẫn từ cuốn Tư Duy Phản Biện – Critical Thingking 05/08/2011 -  
ThS. Lê Tấn Huỳnh Cẩm Giang - Viện Nghiên cứu Giáo dục  
5
Trên thế giới đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về tư duy phản biện.  
Như John Dewey – nhà triết học, tâm lý học, giáo dục học người Mỹ gọi tư duy  
phản biện là “ reflective thinking” (suy nghĩ sâu sắc) và định nghĩa nó là: “Sự suy  
xét chủ động, liên tục, cẩn trọng về một niềm tin, một giả định khoa học có xét  
đến những lý lẽ bảo vệ nó và những kết luận xa hơn được nhắm đến”.  
Tranl Scriven thì cho rằng tư duy phản biện là “một năng lực học vấn cơ  
bản, tương tự như là đọc và viết”, và phát biểu như sau: “Tư duy phản biện là khả  
năng, hành động để thấu hiểu và đánh giá được những dữ liệu thu thập được  
thông qua quan sát, giao tiếp, truyền thông và tranh luận”.  
Khác với các nghiên cứu trước đó, Diane F. Halpern đã phát biểu một nhận  
định rất khái quát như sau: “Tư duy phản biện là một phạm trù chỉ sự suy luận  
theo lối mở, không bị hạn chế, số lượng các giải pháp là không giới hạn, bao hàm  
cả việc xây dựng các điều kiện, các quan điểm và ý tưởng đúng đắn để đi đến kết  
luận vấn đề” .  
Tư duy xuất hiện từ khi con người sinh ra, trẻ em tư duy để nhận biết, học  
hỏi và tích lũy tri thức cho bản thân, khi đó kỹ năng tư duy phản biện đã xuất hiện  
nhưng chưa sâu sắc và mang lại hiệu quả tối đa. Một cách khái quát thì kỹ năng tư  
duy phản biện sẽ phát triển và nhạy bén hơn theo mức độ trưởng thành của con người.  
Tư duy phản biện là một bước phát triển trong khả năng tư duy của con  
người, là hoạt động trí tuệ bậc cao được hình thành trên cơ sở của kiến thức, kinh  
nghiệm. Mathew Lipman từng nhận định: “Tư duy phản biện là loại tư duy ứng  
dụng và kết quả cuối cùng là các phán đoán”. Do đó, nó không chỉ nhắm đến việc  
đạt được sự hiểu biết, mà còn là việc vận dụng kiến thức để tạo ra những thay đổi  
tích cực. Tư duy phản biện là quá trình “tư duy biện chứng” bao gồm việc phân  
tích và đánh giá những thông tin đã có của vấn đề theo khía cạnh khác để làm  
sáng tỏ và giải quyết vấn đề chính xác hơn. Một cách tóm tắt: sản phẩm tối thiểu  
của tư duy phản biện là các phán đoán, và sản phẩm tối đa của nó là sự ứng dụng  
thực tiễn của các phán đoán đó.  
1.1.1.2. Khái niệm năng lực tư duy phản biện  
Có rất nhiều định nghĩa về “năng lực” và khái niệm này đang thu hút sự  
quan tâm của rất nhiều nhà nghiên cứu. Theo từ điển tiếng việt thì “năng lực là  
khả năng, điều kiện chủ quan hay tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào  
đó”. Hiểu một cách thông thường: “năng lực là sự kết hợp của tư duy, kĩ năng và  
thái độ có sẵn hoặc ở dạng tiềm năng có thể học hỏi được của một cá nhân hoặc  
tổ chức để thực hiện thành công nhiệm vụ” .  
6
Tuy nhiên trong cuộc sống có rất nhiều nhiệm vụ cần phải giải quyết, không  
đơn thuần là việc vận dụng các yếu tố đơn lẻ mà đó là sự tổng hợp của tất cả các  
yếu tố như cảm xúc, trí tuệ, kinh nghiệm để giải quyết vấn đề một cách hiệu quả.  
Vì vậy Québec Ministere de l’Education đã đưa ra định nghĩa khác về năng lực,  
đây là “khả năng vận dụng những kiến thức, kinh nghiệm, kĩ năng, thái độ và sự  
đam mê để hành động một cách phù hợp và có hiệu quả trong các tình huống đa  
dạng của cuộc sống”.  
“Phản biện” có thể xem là quá trình sau tưu duy, khi con người hình thành  
các kiến thức và những phán đoán riêng bản thân thì tất yếu sẽ có “phản biện”.  
Theo từ điển Bách khoa Việt Nam thì phản biện được hiểu “là việc đưa các nhận  
xét, đánh giá về một công trình nghiên cứu khoa học, luận án, luận văn, khóa luận  
hoặc kết quả nghiên cứu khoa học của một đề tài, một công trình nghiên cứu”.  
Người hay cơ quan sẽ phản biện, nhận định về tính cấp thiết và ý nghĩa của đề  
tài, nội dung và hình thức thể hiện của công trình khoa học, phương pháp nghiên  
cứu, kết luận, đóng góp, hạn chế. Cuối cùng đánh giá chung là đạt hay không đạt  
những yêu cầu đề ra và xếp loại”. Tuy nhiên, phản biện trong “năng lực tư duy  
phản biện” phải được hiểu ở nghĩa khái quát và rộng hơn. “Phản biện” là từ Hán  
Việt – “phản” có nghĩa là phản trở lại, “biện” là tranh luận cho rõ phải trái. Như  
vậy phản biện là đưa ra ý kiến, quan điểm, lý lẽ, dẫn chứng cụ thể để tranh luận  
và làm sáng tỏ những mặt đúng sai của vấn đề.  
Hiểu một cách khái quát nhất phản biện là dùng các góc nhìn khác nhau để  
tiếp cận tình huống và dùng các tiêu chuẩn khách quan để đánh giá sự vật, tình huống  
với mục tiêu đi tìm sự thật và cải thiện chất lượng tư duy và giải pháp.  
Những hoạt động trong quá trình tư duy phản biện thường bao gồm: nêu  
quan điểm và bảo vệ quan điểm, sử dụng những bằng chứng phù hợp, tạo mối liên  
hệ giữa các ý, đánh giá, phân tích, tổng hợp, phân loại, so sánh, chỉ ra khó khăn  
và cách khắc phục. Một quá trình tư duy phản biện được coi là tốt khi đạt được  
những tiêu chí: rõ ràng, mạch lạc, chính xác, thốngnhất, ngắn gọn, phù hợp, có những  
giải thích và lý do phù hợp, khách quan, toàn diện và có chiều sâu.  
Năng lực tư duy phản biện là khả năng sử dụng thành thạo, nhuần nhuyễn  
cả nội dung và phương pháp tư duy để phát hiện vấn đề và có phương án xử lý tốt  
vấn đề đó. Đây là quá trình kết hợp khả năng vận dụng kiến thức, kỹ năng, thái  
độ, các công cụ để tư duy với sự lập luận phản bác lại kết quả của một quá trình  
tư duy khác, hoặc tiếp nhận tri thức của người khác để xác định lại tính chính xác  
của thông tin. Trên cơ sở đó nhằm đưa ra một tri thức mới có tính chân thực cao,  
đáp ứng và giải quyết nhu cầu thực tiễn đặt ra .  
7
1.1.2. Biểu hiện cơ bản của kỹ năng tư duy phản biện  
Tất cả các vấn đề đều có những biểu hiện riêng, tư duy phản biện cũng  
không ngoại lệ. Kỹ năng tư duy phản biện biểu hiện thông qua các mặt cơ bản  
sau: Tính tư duy, tính tranh luận, tính khái quát và có hệ thống, tính suy luận.  
1.1.2.1. Tính tư duy  
Tính tư duy là biểu hiện cơ bản của khả năng tư duy phản biện, nó được thể  
hiện thông qua nhiều yếu tố khác nhau như:  
- Có khả năng lượt bỏ các câu chữ hay lý lẽ ít liên quan;  
- Luôn cố gắng tìm ra phương pháp, cách thức để giải quyết vấn đề, nhận  
thức được các vấn đề trong thực tiễn có thể có nhiều hơn một giải pháp;  
- Xem xét vấn đề từ nhiều phương diện khác nhau;  
- Sắp xếp và diễn giải các ý tưởng một cách ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu;  
- Nhận thức được giá trị của thông tin và biết cách tìm kiếm, chọn lọc lọc  
thông tin;  
- Nhận thức được sự khác biệt trong các kết luận từ đó rút ra được kết luận  
tốt nhất.  
Tư duy không đơn giản chỉ là 1+1=2, tư duy nhìn nhận vấn đề ở nhiều khía  
cạnh, không rập khuôn, không “cưỡng ép” suy nghĩ. Nhờ vào tính tư duy mà năng  
lực tư duy phản biện được đánh giá mang tính chủ động, có khả năng tự điều chỉnh  
và rất nhạy cảm trước bối cảnh của cuộc sống.  
1.1.2.2. Tính tranh luận  
Tư duy phản biện hướng đến việc đưa ra những phán đoán chính xác, có  
tính áp dụng thực tiễn cao, nên trong quá trình hình thành những phán đoán, tư  
duy phản biện sử dụng công cụ tranh luận để giải quyết vấn đề. Tư duy phản biện  
sử dụng “tranh luận” chứ không phải “tranh cãi”. Tranh cãi mang tính tiêu cực,  
luôn đề cao ý kiến bản thân, lập luận hướng tới việc phản bác ý kiến, vấn đề của  
đối phương, ngay cả những luận điểm đúng. Tranh luận lại sử dụng lý luận để  
diễn đạt ý, đưa ra các lý lẽ với các bằng chứng hỗ trợ để hướng đến việc giải quyết  
vấn đề chính xác và đề cao lợi ích chung.  
Tư duy phản biện bao gồm cả việc nhận dạng, đánh giá, và xây dựng các lý  
lẽ. Cùng với việc kết hợp với nhiều công cụ khác nhau như đặt câu hỏi, lắng nghe,  
... nên quá trình tranh luận của tư duy phản biện luôn mang lại hiệu quả cao.  
Tranh luận có thể được xem là bản chất của “năng lực tư duy phản biện”,  
chính yếu tố này làm cho các phán đoán của tư duy phản biện có tính ứng dụng  
cao trong việc giải quyết các vấn đề.  
8
1.1.2.3. Tính khái quát và có hệ thống  
Tư duy là quá trình, hành động tất yếu của não bộ - hoạt động này luôn  
mang tính khái quát, có nghĩa rằng tư duy không đơn thuần nhìn nhận sự vật hiện  
tượng một cách cụ thể, riêng lẽ. Khi nắm bắt các sự vật hiện tượng, não người sẽ  
tư duy theo hướng vận dụng tất cả những kinh nghiệm, kiến thức liên quan để đưa  
ra một phán đoán chính xác nhất theo như khả năng của bản thân, đồng thời tư  
duy phản biện luôn nhìn nhận vấn đề ở nhiều khía cạnh khác nhau.  
Tư duy phản biện sử dụng nhiều thủ thuật tư duy khác nhau, bao gồm đặt  
câu hỏi, đưa ra các phán đoán, thiết lập các giả định. Chính việc sử dụng đa dạng  
các thủ thuật tư duy khác nhau nên các phán đoán mà tư duy phản biện đưa ra  
luôn được hợp nhất bởi hệ thống nhiều yếu tố: kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng  
sống và cả cảm xúc.  
Ngoài ra, các phán đoán của tư duy phản biện luôn có tính hệ thống rất cao,  
đây là hệ thống các tri thức được sắp xếp theo trình tự logic, có tính thống nhất và  
mang tính sáng tạo, thuyết phục.  
1.1.2.4. Tính suy luận  
Hiểu một cách thống nhất thì suy luận là liên hệ các phán đoán với nhau  
bằng một chuỗi suy lý, từ một phán đoán có sẵn rút ra một hoặc nhiều phán đoán  
mới về một chủ thể nào đó.  
Tính suy luận của tư duy là lối suy nghĩ đầy kỹ năng, từ những kiến thức  
hay phán đoán đã có để tạo ra những tri thức, phán đoán mới. Người có tư duy  
suy luận sẽ đặt những câu hỏi phù hợp, thu thập thông tin liên quan, phân loại một  
cách hiệu quả và sáng tạo những thông tin để tập trung giải quyết vấn đề một cách  
hiệu quả.  
Tư duy phản biện có khả năng rút ra kết luận từ một hoặc nhiều chi tiết. Để  
làm được việc này, cần phải nhìn thấy được mối quan hệ logic giữa các dữ liệu,  
xem xét vấn đề và tiếp cận hiện tượng từ nhiều phương diện, quan điểm khác  
nhau. Nếu phán đoán là sự liên hệ giữa các khái niệm, thì suy luận là sự liên hệ  
giữa các phán đoán.  
Chính các phán đoán là nguồn dữ liệu quan trọng để phát huy khả năng suy  
luận của năng lực tư duy phản biện. Tư duy phản biện không chỉ tạo ra phán đoán  
từ tri thức mà còn từ phán đoán tạo ra phán đoán.  
9
1.2. Vai trò của kỹ năng tư duy phản biện  
Kỹ năng tư duy phản biện không chỉ đóng vai trò quan trọng trong trên tất  
cá các lĩnh vực trong đời sống hàng ngày mà nó con giữ một vị trí không thể thiếu  
trong hoạt động xây dựng cáo trạng của Viện kiểm sát, nhất là trong bối cảnh tình  
hình tội phạm trở nên ngày càng phức tạp với các thủ đoạn vô cùng tinh vi. Vì  
vậy, nhóm đề tài bên cạnh phân tích vai trò của kỹ năng tư duy phản biện nói  
chung còn làm rõ tầm quan trọng của nó trong hoạt động xây dựng cáo trạng của  
Viện kiểm sát nói riêng.  
1.2.1. Vai trò cơ bản  
Thứ nhất, kỹ năng tư duy phản biện đóng vai trò quan trọng trong việc tạo  
ra thói quen nhìn nhận vấn đề bao quát, đa chiều, từ đó khắc phục định kiến, giáo  
điều, bảo thủ, không tôn trọng ý kiến của người khác.  
Trong cuộc sống, bất cứ sự vật, hiện tượng nào cũng đều có nhiều mặt của  
nó, ở phương diện này là một biểu hiện khác nhưng ở phương diện khác lại là một  
biển hiện không giống như ban đầu, tùy thuộc vào cách tiếp cận. Vì thế, khi nhìn  
nhận một sự vật hiện tượng đã ngay lập tức kết luận về chúng thì đó có thể là một  
sự vội vàng mang tính quy chụp, phiến diện và phản khoa học. Việc nhìn nhận  
vấn đề từ một góc độ, một quan điểm dẫn đến thu hẹp tầm nhìn, thu hẹp tri thức.  
Tư duy phản biện với tư cách là một kỹ năng quan trọng mà thông qua kỹ năng  
này, mỗi người có thể tạo cho mình cách nhìn nhận mọi vấn đề ở nhiều mặt, nhiều  
khía cạnh khác nhau, giúp nắm được bản chất vấn đề một cách bao quát, tổng thể  
và có hệ thống, từ đó tạo tiền đề cho việc phân tích, đánh giá và đưa ra quyết định  
hoặc đi đến những hành động đúng đắn.  
“Định kiến” (hoặc thành kiến) là những ý kiến, quan điểm đã được hình  
thành, trước khi nhận thức các dữ kiện có liên quan hoặc biết rõ những thông tin  
liên quan của một sự kiện cụ thể. Từ “định kiến” thường được sử dụng để miêu tả  
những nếp suy nghĩ, quan điểm thường không thuận lợi, đánh giá chủ quan đối  
với người hoặc một nhóm người. Tương tự như thế, giáo điều cũng là những tư  
tưởng, quan điểm, luận điểm của một tôn giáo được các tín đồ tuân theo một cách  
tuyệt đối. Tuy nhiên, trước sự thay đổi nhanh chóng của xã hội và các mối quan  
hệ xã hội, cùng với sự tiến bộ vượt bậc của khoa học kỹ thuật thì các tư tưởng,  
quan điểm cũ có thể là không còn phù hợp nữa. Đặc biệt, mỗi người hầu như đều  
có những định kiến cá nhân để đánh giá hoặc phán xét một cách vô thức về người  
khác mà không có cơ sở. Những điều này sẽ dần được khắc phục khi mỗi người  
rèn luyện cho mình kỹ năng tư duy phản biện. Lúc đó, bản thân mỗi người sẽ tự  
10  
nhận thức và đánh giá được các vấn đề xung quanh dựa trên các cơ sở nhất định,  
đồng thời, tiếp thu và tôn trọng ý kiến của người khác, từ đó rút ra được những  
quan điểm bao quát và sâu sắc của mình.  
Thứ hai, tạo nên tính chủ động trong việc phân tích, đánh giá và tiếp nhận  
thông tin.  
Trong xã hội mà công nghệ ngày càng phát triển thì việc tìm kiếm, tiếp cận  
thông tin là điều vô cùng dễ dàng. Mọi thông tin có thể có được ở mọi lúc, mọi  
nơi thông qua nhiều phương tiện như: báo chí, truyền hình, internet hay các trang  
mạng xã hội như Facebook, Instagram…Tuy nhiên, không phải mọi thông tin đều  
chính xác và có giá trị để tạo ra nhiều hơn giá trị, đặc biệt là sự bùng nổ của mạng  
xã hội mang lại nhiều nguồn thông tin không chính thống và không có cơ sở đáng  
tin cậy. Vì thế, có thể nói rằng, sự phát triển của công nghệ thông tin tạo ra cơ hội  
được tiếp cận nguồn tri thức vô tận của nhân loại, nhưng lại mang đến nhiều thách  
thức, trong đó, khả năng tìm kiếm và tiếp thu tri thức một cách có chọn lọc là một  
trong những thách thức lớn có ảnh hưởng đáng kể đến kết quả và hiệu quả hoạt  
động của mỗi người.  
Đặc biệt, ở môi trường đại học, việc tìm kiếm thông tin phục vụ mục đích  
học tập, nghiên cứu diễn ra rất thường xuyên. Việc rèn luyện kỹ năng tư duy phản  
biện giúp cho chúng ta hiểu rõ bản thân mình hơn, nâng cao khả năng phân tích  
vấn đề nhanh chóng, so sánh và đối chiếu các thông tin để xác thực chúng, tránh  
việc tiếp thu những “thông tin độc hại”, đảm bảo hiệu quả cho việc học tập, nghiên  
cứu tại trường.  
Thứ ba, khả năng tổng hợp và sử dụng những thông tin đã thu thập vào  
thực tiễn một cách sáng tạo và có hiệu quả.  
Như đã phân tích ở trên, kỹ năng tư duy phản biện rèn luyện cho mỗi người  
bằng những kiến thức và kỹ năng có được thông qua quá trình thu thập và chọn  
lọc để giải quyết vấn đề một cách sáng tạo, mang lại kết quả tốt nhất có thể. Một  
vài thông tin thiếu chọn lọc có thể dẫn đến quan niệm lệch lạc, sai lầm, không  
đúng bản chất vấn đề và đương nhiên làm cho chất lượng của hành động không  
những bằng không mà còn có thể gây ra hậu quả nhất định.  
Trong những năm vừa qua, các vụ lừa đảo bán hàng đa cấp diễn ra phổ biến,  
đặc biệt bị hại phần lớn là tầng lớp học sinh, sinh viên. “Kinh doanh đa cấp” có  
loại tốt và loại xấu. Một doanh nghiệp bán hàng đa cấp đáng tin cậy phải là doanh  
nghiệp thực hiện việc bán hàng một cách thực chất. Tức là hoạt động cơ bản của  
11  
doanh nghiệp đó phải là hoạt động bán hàng, tiêu thụ hàng hóa chứ không phải  
các hoạt động tuyển dụng, thu hút đầu tư... Một doanh nghiệp được coi là bán  
hàng đa cấp chân chính, thực hiện đúng chức năng bán hàng, cần phải đáp ứng  
các tiêu chí cơ bản sau:  
- Có sản phẩm tốt: Nguồn gốc ra đời của hoạt động bán hàng đa cấp xuất  
phát từ việc một người có một sản phẩm tốt, người đó tìm cách chia sẻ về sản  
phẩm tốt của mình và qua đó bán sản phẩm đó cho mọi người trong xã hội để mọi  
người cùng được sử dụng sản phẩm tốt đó.  
- Đào tạo nhà phân phối tốt: Nhà phân phối là những người giúp doanh  
nghiệp giới thiệu và bán hàng cho người tiêu dùng.  
- Chủ yếu tập trung bán hàng, không tập trung tuyển dụng: Hoạt động bán  
hàng đa cấp được thực hiện qua hệ thống nhà phân phối. Do đó song song với  
việc bán hàng, doanh nghiệp cũng phải tuyển dụng và xây dựng hệ thống nhà phân  
phối. Tuy nhiên, việc bán hàng phải được chú trọng hàng đầu. Khi hàng hóa được  
tiêu thụ, doanh nghiệp có doanh thu để duy trì hoạt động đồng thời có tiền để chi  
trả hoa hồng cho nhà phân phối.  
Ngược lại, kinh doanh đa cấp không đáng tin cậy và có những biểu hiện như:  
- Khi tuyển dụng, doanh nghiệp bằng các cách khác nhau khiến người tham  
gia mua hàng hoặc đóng tiền  
- Hứa hẹn những khoản lợi nhuận hấp dẫn: bán hàng đa cấp chỉ là một hình  
thức bán hàng, phân phối hàng hóa, không phải là một hình thức đầu tư, do đó cần  
cân nhắc khi nghe những lời hứa hẹn hấp dẫn về lợi nhuận.  
- Sản phẩm không tốt:Bản chất của hoạt động bán hàng đa cấp là giới thiệu,  
chia sẻ về các sản phẩm chất lượng tốt để bán các sản phẩm đó cho người tiêu dùng.  
- Không chú trọng bán hàng, tiêu thụ sản phẩm: Bán hàng đa cấp là một  
hình thức bán hàng. Do đó, một doanh nghiệp được gọi là doanh nghiệp bán hàng  
đa cấp nhưng không chú trọng bán hàng, tiêu thụ sản phẩm thì bạn cần suy nghĩ  
doanh nghiệp đó có tồn tại được lâu dài hay không? và tồn tại dựa trên nguồn  
doanh thu nào?  
Có thể thấy rằng hoạt động kinh doanh đa cấp bất hợp pháp là nhắm vào  
nhu cầu kiếm tiền, đặc biệt là trong tầng lớp học sinh, sinh viên. Khi rèn luyện  
được kỹ năng tư duy phản biện và vận dụng vào thực tiễn cuộc sống, trường hợp  
bị tiếp cận đề chào mời gia nhập vào hệ thống đa cấp bất hợp pháp, có thể nhận  
thức được thực - hư của vấn đề, tự đặt nhiều câu hỏi phản biện trong chính vấn đề  
12  
đó để phân biệt được đâu là đúng, đâu là sai, từ đó rút ra được kết luận đúng đắn  
và không mắc phải sai lầm.  
Ngoài ra, có thể kể đến nhiều trường hợp khác mà kỹ năng tư duy phản biện  
thể hiện được tầm quan trọng của nó như: giúp học sinh, sinh viên năm bài một  
cách chắn chắn và nhanh chóng bằng việc vận dụng kỹ năng phản biện, lật lại vấn  
đề. Giúp cho những người làm việc trong các cơ quan, đơn vị có thể giải quyết  
công việc một cách tốt nhất, có hệ thống, có tư duy, thể hiện và khẳng định được  
quan điểm của mình với môi trường xung quanh. Đặc biệt, tư duy phản biện là  
một kỹ năng cần thiết trong đời sống thường ngày.  
1.2.2. Vai trò đối với hoạt động xây dựng bản cáo trạng của Viện kiểm sát  
Kỹ năng tư duy phản biện đóng vai trò quan trọng đối với bất cứ đối tượng  
nào, đang học tập hay công tác tại bất cứ đơn vị nào. Đặc biệt, với một ngành đặc  
thù như ngành Kiểm sát thì kỹ năng tư duy phản biện càng cần thiết hơn nữa nhằm  
đảm bảo thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của ngành kiểm sát được quy định tại  
Điều 2 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014: “1. Viện kiểm sát nhân  
dân là cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của nước  
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.  
2. Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo  
vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi  
ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo  
đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.”  
Trong đó, chức năng thực hành quyền công tố được thể hiện một phần ở  
hoạt động thực hiện việc buộc tội trước tòa bằng bản cáo trạng. Bản cáo trạng là  
văn bản pháp lý do Viện kiểm sát lập ra khẳng định việc truy tố bị can ra trước  
tòa án để xét xử. Bản cáo trạng phải dựa vào bản kết luận điều tra để nêu rõ: ngày,  
giờ, tháng, năm, địa điểm xảy ra tội phạm; ai là người đã thực hiện hành vi phạm  
tội, thủ đoạn, mục đích, hậu quả của tội phạm và những tình tiết quan trọng khác;  
những chứng cứ xác định tội trạng của bị can, những tình tiết tăng nặng và tình  
tiết giảm nhẹ; nhân thân của bị can và mọi tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án.  
Hoạt động xây dựng cáo trạng có ý nghĩa vô cùng quan trọng bởi nó ảnh  
hưởng trực tiếp đến quyền con người, cụ thể là quyền của bị can, bị cáo. Quá trình  
xây dựng bản cáo trạng phải dựa trên việc xác thực, đánh giá các tình tiết góp  
phần làm sáng tỏ vụ án, đảm bảo cho vụ án được giải quyết đúng người, đúng tội, đảm  
bảo quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của nhà nước, cá nhân, tổ chức.  
13  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 79 trang myanh 22121 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Báo cáo đề tài Kỹ năng tư duy phản biện thông qua nghiên cứu hoạt động xây dựng bản cáo trạng của Viện Kiểm sát Nhân dân ở tỉnh Thừa Thiên Huế", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbao_cao_de_tai_ky_nang_tu_duy_phan_bien_thong_qua_nghien_cuu.pdf