Bài giảng Phân tích và thiết kế giải thuật - Chương 7: Vấn đề NP - Đầy đủ - Dương Tuấn Anh

Chương 7  
Vấn đề NP-đầy đủ  
1. Giải thuật thời gian đa thức tất định và không tất  
định  
2. Vấn đề NP-đầy đủ  
3. Định lý Cook  
4. Một số bài toán NP-đầy đủ  
5. Một số kỹ thuật để đối phó với những bài toán  
NP-đầy đủ  
1
Tồn tại hay không tồn tại giải thuật hữu hiệu  
•
Đối với nhiều bài toán chúng ta có những giải thuật  
hữu hiệu để giải.  
•
Tuy nhiên, có rất nhiều bài toán khác không có giải  
thuật hữu hiệu để giải.  
•
Và đối với một lớp khá lớn của những bài toán như  
vậy, chúng ta không thể nói có tồn tại giải thuật hữu  
hiệu để giải nó hay không.  
2
Những bài toán khó và những bài toán dễ  
•
Nhiều nghiên cứu đã được thực hiện và có những cơ chế để  
phân loại những bài toán mới là “khó bằng” một số bài toán  
cũ đã biết.  
•
Tuy nhiên, đôi khi ranh giới giữa những bài toán “khó” và  
những bài toán “dễ” là khá tế nhị..  
Thí dụ:  
Dễ: Có tồn tại một lối đi từ x đến y mà trong số nhỏ hơn M?  
KHó: Có tồn tại một lối đi từ x đến y mà trọng số ≥M?  
Bài toán 1 - BFS – thời gian tuyến tính  
Bài toán 2 – thời gian hàm mũ  
3
1. Giải thuật thời gian đa thức tất định và không  
tất định  
P: Tập hợp tất cả những bài toán có thể giải được bằng  
những giải thuật tất định trong thời gian đa thức.  
“Tất định” (Deterministic) : khi giải thuật đang làm gì,  
cũng chỉ có một việc duy nhất có thể được thực hiện kế  
tiếp. (whatever the algorithm is doing, there is only one  
thing it could do next).  
Thí dụ: Xếp thứ tự bằng phương pháp chèn thuộc lớp P vì có  
độ phức tạp đa thức O(N2 )  
4
Tính không tất định  
Một cách để mở rộng quyền năng của máy tính là cho nó có  
năng lực làm việc không tất định (non-determinism).  
Không tất định: khi một giải thuật gặp một sự lựa chọn  
giữa nhiều khả năng, nó có quyền năng “tiên đóan” để biết  
chọn một khả năng thích đáng.  
Giải thuật không tất định (nondeterministic algorithm)  
Thí dụ: Cho A là một mảng số nguyên. Một giải thuật không  
tất định NSORT(A, n) sắp thứ tự các số theo thứ tự tăng  
và xuất chúng ra theo thứ tự này.  
5
Thí dụ về một giải thuật không tất định  
// An array B is used as temporary array.  
procedure NSORT(A,n)  
// sort n positive integers //  
begin  
for i:= 1 to n do B[i]:= 0;  
// guessing stage  
for i:= 1 to n do  
begin  
j := choice(1:n);  
if B[j] <> 0 then failure  
else B[j]:= A[i]  
end  
Hàm choice(1:n) có khả  
năng xác định một vị trí  
đúng trong tầm trị từ 1 đến  
n.  
// verification stage  
for i:= 1 to n-1 do  
if B[i] > B[i-1] then failure;  
print(B);  
success  
end;  
6
Thí dụ về một giải thuật không tất định (tt.)  
Sự phân giải một giải thuật không tất định có thể được  
thực hiện bằng một sự song song hóa không hạn chế  
(unbounded parallelism).  
Mỗi lần có bước lựa chọn phải thực hiện, giải thuật tạo ra  
nhiều bản sao của chính nó (copies of itself). Mỗi bản sao  
được thực hiện cho khả năng lựa chọn. Như vậy nhiều  
khả năng được thực hiện cùng một lúc.  
- Bản sao đầu tiên kết thúc thành công thì làm kết thúc  
tất cả các quá trình tính tóan khác.  
- Nếu một bản sao kết thúc thất bại thì chỉ bản sao ấy  
kết thúc mà thôi.  
7
Giải thuật không tất định (tt.)  
Thật ra, một máy tính không tất định không tạo ra những  
bản sao của giải thuật một khi phải thực hiện một lựa  
chọn.  
Mà, nó có quyền năng chọn một yếu tố “đúng” từ một tập  
những khả năng lựa chọn mỗi phải thực hiện một lựa  
chọn.  
Một yếu tố “đúng” được định nghĩa như là một chuỗi ngắn  
nhất của những lựa chọn (shortest sequence of choices) mà  
dẫn đến sự kết thúc thành công.  
Trong trường hợp không tồn tại một chuỗi những lựa chọn  
mà dẫn đến sự kết thúc thành công ta giả định rằng giải  
thuật dừng và in ra thông báo “tính toán không thành  
công”.  
8
Giải thuật không tất định (tt.)  
Ghi chú:  
Các thông báo success và failure là tương đương với  
phát biểu stop trong một giải thuật tất định.  
Độ phức tạp tính toán của NSORT là O(n).  
NP: tập hợp tất cả những bài toán mà có thể được giải  
bằng giải thuật không tất định trong thời gian đa  
thức.  
Thí dụ : Bài toán có tồn tại lối đi dài nhất từ đỉnh x đến  
đỉnh y là thuộc lớp NP.  
9
Bài toán thỏa mãn mạch logic (circuit  
satisfiability problem)  
Cho một công thức logic có dạng  
(x1 + x3 + x5)*(x1+ ~x2 + x4)*(~x3 + x4 +x5)*  
(x2 + ~x3 + x5)  
với các biến xi là các biến logic (true or false), “+” diễn tả  
OR, “*” diễn tả AND, và ~ diễn tả NOT.  
Bài toán CSP là xác định xem có tồn tại một phép gán các  
trị logic vào các biến logic sao cho toàn công thức trở  
thành true.  
CSP cũng là một bài toán NP.  
Ghi chú: Lớp P là một tập con của lớp NP.  
10  
2. Vấn đề NP-đầy đủ  
Có một danh sách những bài toán mà đã biết là thuộc về  
lớp NP nhưng không rõ có thể thuộc về lớp P hay không.  
(Tức là, ta giải chúng dễ dàng trên một máy không tất định  
nhưng chưa ai có thể tìm thấy một giải thuật hữu hiệu chạy  
trên máy tính thông thường để giải bất kỳ một bài toán nào  
của chúng).  
Những bài toán NP này lại có thêm một tính chất nữa là:  
“Nếu bất kỳ một trong những bài toán này có thể giải  
được trong thời gian đa thức thì tất cả những bài toán  
thuộc lớp NP cũng sẽ được giải trong thời gian đa thức  
trên một máy tất định.”  
11  
Những bài toán như vậy được gọi là những bài toán  
NP-đầy đủ (NP-complete)  
Hình 6.1  
NP-complete  
NP  
P
12  
Tính khả thu giảm đa thức (Polynomial  
reducibility)  
•
Lớp NP-đầy đủ là lớp con của những bài toán khó nhất  
trong lớp NP.  
•
Công cụ chính để chứng minh một bài toán thuộc loại NP-  
đầy đủ là ý tưởng về tính khả thu giảm đa thức (polynomial  
reducibility).  
•
Bất cứ giải thuật nào giải được bài toán mới thuộc loại NP  
có thể được dùng để giải một bài toán NP-đầy đủ nào đó  
đã biết bằng cách sau:  
biến thể một thể hiện bất kỳ của bài toán NP-đầy đủ đã biết  
thành một thể hiện của bài toán mới, giải bài toán này bằng  
giải thuật đã có để tìm ra một lời giải, rồi biến thể lời giải  
này trở về thành một lời giải của bài toán NP-đầy đủ đã biết.  
13  
Tính khả thu giảm đa thức (tt.)  
Để chứng minh một bài toán thuộc loại NP là NP-đầy đủ, ta  
chỉ cần chứng tỏ rằng một bài toán NP-đầy đủ đã biết nào  
đó thì khả thu giảm đa thức về bài toán mới ấy.  
Định nghĩa: (Thu giảm về). Ta bảo bài toán L1 thu giảm về  
(reduces to) bài toán L2, ký hiệu là L1 α L2 nếu bất kỳ giải  
thuật nào giải được L2 thì cũng có thể được dùng để giải  
L1.  
14  
Tính khả thu giảm đa thức (tt.)  
Để chứng minh một bài toán mới L là NP-đầy đủ,  
chúng ta cần chứng minh:  
1. Bài toán L thuộc lớp NP  
2. Một bài toán NP-đầy đủ đã biết thu giảm về L.  
Thí dụ: Cho hai bài toán  
Bài toán người thương gia du hành (TSP): cho một tập các  
thành phố và khoảng cách giữa mỗi cặp thành phố, tìm  
một lộ trình đi qua tất cả mọi thành phố sao cho tổng  
khoảng cách của lộ trình nhỏ hơn M.  
Bài toán chu trình Hamilton (HCP): Cho một đồ thị, tìm  
một chu trình đơn mà đi qua tất cả mọi đỉnh.  
15  
Tính khả thu giảm đa thức (tt.)  
Giả sử ta biết HCP là NP-đầy đủ và muốn xác định xem  
TSP cũng là NP-đầy đủ hay không. Bất kỳ giải thuật nào  
có thể được dùng để giải bài toán TSP cũng có thể được  
dùng để giải bài toán HCP, thông qua sự thu giảm sau:  
Cho một thể hiện của bài toán HCP (một đồ thị), hãy tạo ra  
một thể hiện của bài toán TSP tương ứng như sau:  
• tạo ra các thành phố của bài toán TSP bằng cách dùng  
tập đỉnh trong đồ thị;  
• về khoảng cách giữa hai cặp thành phố ta gán giá trị 1  
nếu có tồn tại một cạnh giữa hai đỉnh tương ứng trong đồ  
thị và giá trị 2 nếu không có cạnh.  
Rồi thì dùng giải thuật giải TSP để tìm một lộ trình ≤ N (N  
là số đỉnh trong đồ thị).  
16  
Tính khả thu giảm đa thức (tt.)  
Nghĩa là HCP thu giảm về TSP, như vậy tính chất NP-đầy  
đủ của HCP hàm ý tính chất tính chất NP-đầy đủ của TSP.  
Sự thu giảm HCP về TSP là đơn giản vì hai bài toán có  
những nét tương tự nhau.  
Sự thu giảm thời gian đa thức có thể sẽ rất phức tạp khi  
chúng ta liên kết những bài toán mà tương đối khác nhau.  
Thí dụ: Có thể thu giảm bài toán thoả mãn mạch logic  
(CSP) về bài toán HCP.  
17  
3. Định lý Cook  
Nhưng: Bài toán nào là bài toán NP-đầy đủ đầu tiên?  
S.A. Cook (1971) đã đề xuất được một chứng minh trực tiếp  
đầu tiên rằng bài toán thỏa mãn mạch logic (CSP) là bài  
toán NP-đầy đủ.  
“Nếu tồn tại một giải thuật thời gian đa thức để giải bài toán  
thỏa mãn mạch logic thì tất cả mọi bài toán trong lớp NP có  
thể được giải trong thời gian đa thức.”  
Chứng minh của Cook rất phức tạp nhưng chủ yếu dựa vào  
máy Turing (Turing machine) tổng quát.  
18  
4. Một số bài toán NP-đầy đủ  
Hàng nghìn bài toán khác nhau được biết là NP-đầy đủ.  
Danh sách này bắt đầu bằng bài toán thoả mãn mạch logic,  
bài toán người thương gia du hành (TSP) và bài toán chu  
trình Hamilton.  
Một vài bài toán khác như sau:  
- Bài toán phân hoạch số: Cho một tập những số nguyên,  
có thể phân hoạch chúng thành hai tập con mà có tổng  
trị số bằng nhau?  
- Bài toán qui hoạch nguyên: Cho một bài toán qui hoạch  
tuyến tính, liệu có tồn tại một lời giải toàn số nguyên?  
19  
- Xếp lịch công việc trên đa bộ xử lý ( multiprocessor  
scheduling): Cho một kỳ hạn (deadline) và một tập các  
công tác có chiều dài thời gian khác nhau phải được  
thực thi trên hai bộ xử lý. Vấn đề là có thể sắp xếp để  
thực thi tất cả những công tác đó sao cho thỏa mãn kỳ  
hạn không?  
- Bài toán phủ đỉnh (VERTEX COVER): Cho một đồ thị  
và một số nguyên N, có thể kiếm được một tập nhỏ hơn  
N đỉnh mà chạm hết mọi cạnh trong đồ thị ?  
- Bài toán xếp thùng (BIN PACKING): cho n món đồ mà  
phải đặt vào trong các thùng có sức chứa bằng nhau L.  
Món đồ i đòi hỏi li đơn vị sức chứa của thùng. Mục đích  
là xác định số thùng ít nhất cần để chứa tất cả n món đồ  
đó.  
20  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 25 trang myanh 20360 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Bài giảng Phân tích và thiết kế giải thuật - Chương 7: Vấn đề NP - Đầy đủ - Dương Tuấn Anh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbai_giang_phan_tich_va_thiet_ke_giai_thuat_chuong_7_van_de_n.pdf