Tài liệu hướng dẫn giải quyết tình huống học phần Luật hôn nhân và gia đình

Chƣơng 1  
ĐỊNH HƢỚNG SỬ DỤNG TÀI LIỆU HƢỚNG DẪN  
GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG HỌC PHẦN  
LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH  
1.1. Tài liệu Hướng dẫn giải quyết tình huống học phầnLuật Hôn nhân và gia  
đình –Tài liệubổ trợchogiáotrình họcphần LuậtHôn nhân vàgiađình  
1.1.1. Mục tiêu của việc sử dụng Tài liệu Hướng dẫn giải quyết tình  
Luật Hôn nhân và gia đình  
Mục tiêu của việc sử dụng Tài liệu Hướng dẫn giải quyết tình  
huống học phần Luật HN&GĐ làm tài liệu bổ trợ cho giáo trình học phần  
Luật HN&GĐ nhằm gắn kết khối kiến thức pháp luật nội dung với  
phương pháp áp dụng pháp luật và kỹ năng hành nghề luật trong lĩnh vực  
pháp luật HN&GĐ; đáp ứng kiến thức và chuẩn đầu ra cho sinh viên  
ngành Luật đã được công bố.  
1.1.1.1. Mục tiêu về kiến thức  
- Thông hiểu vị trí của Luật HN&GĐ cũng như mối quan hệ giữa  
pháp luật HN&GĐ với các quan hệ pháp luật khác trong hệ thống pháp  
luật Việt Nam;  
- Thông hiểu và có khả năng vận dụng các kiến thức pháp luật  
chuyên sâu về HN&GĐ như kết hôn; quan hệ nhân thân và tài sản giữa  
vợ và chồng; quan hệ pháp luật giữa cha mẹ và con và giữa các thành  
viên trong gia đình; cấp dưỡng; chấm dứt hôn nhân. Học phần giúp người  
học nhận biết, phân tích, tổng hợp và độc lập đưa ra quan điểm cá nhân  
về vấn đề pháp lý phát sinh trong lĩnh vực HN&GĐ; đưa ra được cách thức  
giải quyết tình huống phát sinh dựa trên tư duy pháp lý có tính hệ thống.  
1.1.1.2. Mục tiêu về kỹ năng  
* Kỹ năng cứng  
- Biết cập nhật các văn bản pháp luật HN&GĐ.  
1
- Nhận thức, phân tích, đánh giá đúng các vấn đề pháp lý về  
HN&GĐ.  
- Biết phân tích, đánh giá mối liên hệ giữa quy định pháp luật  
HN&GĐ với tình huống pháp lý phát sinh trong lĩnh vực này để nhận  
diện vấn đề pháp lý cần giải quyết. Từ đó, áp dụng đúng các quy định của  
pháp luật HN&GĐ để giải quyết những vấn đề phát sinh trong thực tiễn;  
- Có khả năng phân tích, bình luận bản án, quyết định của cơ quan  
tài phán, cơ quan tư pháp.  
- Có kỹ năng tư vấn các vấn đề pháp lý trong lĩnh vực HN&GĐ.  
* Kỹ năng bổ trợ  
- Có kỹ năng làm việc nhóm.  
- Có kỹ năng thuyết trình, rèn luyện sự tự tin khi đứng trước đám đông.  
1.1.1.3. Mục tiêu về thái độ  
- Có ý thức vận dụng các kiến thức và pháp luật đã học trong cuộc  
sống và công tác.  
- Tuân thủ pháp luật khi tham gia vào các hoạt động được pháp luật  
HN&GĐ điều chỉnh.  
- Có tinh thần làm việc nghiêm túc, khoa học.  
1.1.1.4. Mục tiêu cụ thể  
Do các tình huống điển hình được xây dựng trên cơ sở các bản án  
có thật, nên khi đưa vào giảng dạy cùng giáo trình học phần Luật  
HN&GĐ, các tình huống điển hình này nhằm đến các mục tiêu cụ thể sau:  
- Các tình huống được xây dựng nhằm minh họa cho một nội dung  
(vấn đề) trong khối kiến thức pháp luật nội dung. Cách minh họa này làm  
cho nội dung (vấn đề) pháp lý được truyền tải trở nên trực quan sinh  
động, đồng thời chuyển tải thực tiễn áp dụng pháp luật cho người học.  
Việc minh họa từ tình huống điển hình được xây dựng từ các bản án có  
thật tránh tình trạng người dạy xây dựng tình huống hư cấu giả định phi  
thực tế.  
- Các tình huống điển hình sẽ là cơ sở để xây dựng các bài tập tình  
huống giải quyết vấn đề, nhằm đặt ra vấn đề để người học tự giải quyết,  
2
nhằm kích thích và phát huy tính năng động và sáng tạo của người học,  
rất thích hợp để sử dụng cho giờ thảo luận (có thể dùng làm bài tập cá  
nhân hoặc bài tập nhóm).  
- Các tình huống điển hình sẽ là cơ sở để xây dựng các bài tập tình  
huống tư vấn, yêu cầu người học vận dụng kiến thức đưa ra ý kiến tư vấn  
giúp đương sự tránh được các bất lợi xảy ra trong tình huống, nhằm kích  
thích người học khả năng tư duy ở cấp độ cao hơn so với dạng bài tập tình  
huống giải quyết vấn đề, rất thích hợp để sử dụng làm bài tập cá nhân.  
- Các tình huống điển hình được xây dựng trên cơ sở các bản án có  
thật, do đó có khả năng sẽ là tình huống thực tế xảy ra tương tự mà người  
học luật sẽ gặp và đối mặt sau khi ra trường. Việc đưa các tình huống này  
vào giảng dạy nhằm trang bị cho sinh viên kiến thức thực tiễn và khả  
năng tiếp cận thực tế nhanh chóng sau khi ra trường.  
1.1.2. Đối tượng sử dụng Tài liệu Hướng dẫn giải quyết tình huống  
học phần học phần Luật Hôn nhân và gia đình  
Tài liệu Hướng dẫn giải quyết tình huống học phần Luật HN&GĐ  
hướng tới đối tượng sử dụng bao gồm người dạy và người học.  
- Người dạy sử dụng thống nhất Tài liệu Hướng dẫn giải quyết tình  
huống học phần Luật HN&GĐ để hướng dẫn hoạt động học tập của  
người học. Việc sử dụng thống nhất giữa nhiều người cùng dạy học phần  
này sẽ tránh được tình trạng người dạy cùng vấn đề nội dung lại có quan  
điểm trái ngược nhau, không có cơ sở luật giải phù hợp. Ngoài ra, người  
dạy có thể linh hoạt sử dụng các tình huống điển hình, tránh trường hợp  
một tình huống minh họa/bài tập lại được giới thiệu lặp đi, lặp lại ở  
nhiều lớp khác nhau, lớp học sau có thể hỏi lớp học trước và năm bắt  
được nội dung. Đồng thời, tài liệu này đã được biên soạn, qua quá trình  
dạy, người dạy sẽ có nhu cầu và động lực để bổ sung, điều chỉnh, hoàn  
thiện mỗi năm.  
- Người học được sử dụng Tài liệu Hướng dẫn giải quyết tình  
huống Luật HN&GĐ dưới sự hướng dẫn của người dạy. Việc sử dụng  
Tài liệu đòi hỏi người học phải có sự nghiên cứu, chuẩn bị trước giờ lên  
lớp, kích thích người học khả năng tìm tòi, nghiên cứu.  
3
1.2. Tiêu chí đánh giá kết quả đạt đƣợc của ngƣời học  
1.2.1. Đối với cá nhân người học  
1.2.1.1. Về kỹ năng  
- Kỹ năng viết đối với dạng bài tập tự luận: viết ngắn gọn; diễn đạt  
chặt chẽ, mạch lạc; không có lỗi soạn thảo (không có khoảng cách trước  
dấu chấm, dấu phẩy hay sau dấu chấm phải viết hoa...).  
- Kỹ năng thuyết trình đối với dạng bài tập thuyết trình: trình bày  
rõ ràng, mạch lạc, lập luận logic, tự tin chủ động.  
- Kỹ năng làm việc độc lập, tự nghiên cứu tài liệu, văn bản (tìm, đọc,  
phân tích…): phải tìm đọc và khai thác tài liệu mà đề cương yêu cầu.  
1.2.1.2. Về nội dung kiến thức  
- Nắm được kiến thức liên quan nội dung pháp lý của bài học (lý  
luận pháp lý và pháp luật thực định) để phân tích/đánh giá/giải quyết/tư  
vấn tình huống/vấn đề.  
1.2.1.3. Về thái độ  
- Người nghiên cứu có thái độ tự giác, tập trung, chủ động, tích  
cực, cầu thị ham học hỏi.  
1.2.2. Đối với nhóm sinh viên  
1.2.2.1. Về kỹ năng  
- Kỹ năng của cá nhân trong nhóm: lắng nghe, chất vấn, tư duy  
phản biện, thuyết phục, tôn trọng, trợ giúp, chia sẻ, phối hợp.  
- Kỹ năng của nhóm: cần chia sẻ thông tin và nguồn lực; thống  
nhất về phương thức thực hiện; tôn trọng và khích lệ nhau; các thành  
viên nhóm có thể rèn luyện được kỹ năng phản biện vấn đề; nhận diện  
xem nhóm hoặc cá nhân mình đang ở đâu, nhanh chóng chuyển sang sự  
thay đổi.  
4
1.2.2.2. Về nội dung kiến thức  
Nắm được kiến thức liên quan nội dung pháp lý của bài học (lý  
luận pháp lý và pháp luật thực định) để phân tích/đánh giá/giải quyết/tư  
vấn tình huống/vấn đề.  
1.2.2.3. Về thái độ  
Ý thức tôn trọng pháp luật HN&GĐ, bảo vệ các quyền của chủ thể  
được pháp luật HN&GĐ quy định khi bị xâm phạm; đoàn kết, giúp đỡ, sẻ  
chia, trách nhiệm với cộng đồng.  
1.3. Phƣơng pháp sử dụng Tài liệu Hƣớng dẫn giải quyết tình huống  
học phần Luật Hôn nhân và gia đình  
1.3.1. Phân bổ thời gian và hình thức học tương ứng  
1.3.1.1. Phân bổ thời gian  
Để sử dụng hiệu quả Tài liệu Hướng dẫn giải quyết tình huống học  
phần Luật HN&GĐ cần sử dụng kết hợp đối chiếu đề cương chi tiết học  
phần Luật HN&GĐ cho ngành Luật học hay Luật Kinh tế đã được Nhà  
trường phản biện và thông qua (Đề cương chi tiết học phần Luật  
HN&GĐ được giới thiệu trong quá trình nghiên cứu). Theo đó, thời  
lượng phân bổ chi tiết cho từng chủ đề của mỗi vấn đề tiếp cận có thể có  
sự khác nhau, tùy thuộc vào đặc trưng của mỗi ngành học. Chẳng hạn,  
đối với ngành Luật học, các tình huống điển hình trong mỗi nội dung ở  
mỗi chương được phân bổ thời gian tương đối có sự đồng đều. Trong đó,  
nhấn mạnh ở một số chương về kết hôn; xác định quan hệ cha mẹ con;  
cấp dưỡng và ly hôn. Trong khi đó, đối với ngành Luật kinh tế có thể đặt  
yêu cầu người học tiếp cận nhiều ở góc độ giải quyết các tranh chấp về  
quan hệ tài sản giữa vợ và chồng trong trường hợp vợ, chồng sử dụng tài  
sản đem kinh doanh hoặc tham gia vào các giao dịch dân sự; kinh doanh  
thương mại khác... Tuy nhiên, cũng cần nhấn mạnh rằng, quan hệ pháp  
luật HN&GĐ điều chỉnh hầu hết các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh  
vực HN&GĐ. Song trên thực tế, việc giải quyết các tranh chấp hoặc yêu  
cầu về HN&GĐ lại chủ yếu phát sinh trên một số quan hệ chủ đạo như  
kết hôn; giải quyết hậu quả pháp lý của việc kết hôn trái pháp luật hay  
5
không công nhận là vợ chồng; giải quyết tranh chấp hoặc yêu cầu về xác  
định quan hệ cha mẹ con; tranh chấp hoặc yêu cầu về tài sản giữa vợ và  
chồng có thể phát sinh cả trong thời kỳ hôn nhân, khi ly hôn hoặc sau khi  
ly hôn; tranh chấp về cấp dưỡng... Do đó, sự phân bổ thời lượng sử dụng  
cho tài liệu cũng tính đến các yếu tố này để có sự cân đối hài hòa hợp lý;  
đảm bảo tính logic và đáp ứng yêu cầu cần thiết cho cả người học và  
người nghiên cứu.  
1.3.1.2. Hình thức sử dụng  
Tài liệu Hướng dẫn giải quyết tình huống học phần Luật HN&GĐ  
được sử dụng trong quá trình nghiên cứu các quy phạm pháp luật tại lớp  
học. Tài liệu này mang tính chất bổ trợ cho quá trình dạy và học cũng  
như nghiên cứu chuyên sâu về lĩnh vực HN&GĐ. Do đó, phần lớn các  
tình huống trong tài liệu này được giảng viên định hướng và gợi mở cho  
sinh viên tiếp cận kết hợp với việc sử dụng các tài liệu học tập khác để  
qua đó có thể làm sáng tỏ vấn đề theo chủ điểm nghiên cứu.  
Mặt khác, Tài liệu được sử dụng kết hợp trong quá trình giảng dạy  
lý thuyết song song với thực hành. Thông qua các tình huống được tóm  
tắt lại từ các bản án, tranh chấp hoặc yêu cầu trên thực tế, người học có  
thể vận dụng các kiến thức đã nắm bắt được để giải quyết các vấn đề  
thực tiễn phát sinh.  
1.3.2. Phương pháp học đối với cá nhân người học  
Việc sử dụng Tài liệu Hướng dẫn giải quyết tình huống học phần  
Luật HN&GĐ yêu cầu người học phải nâng cao kỹ năng phân tích lập  
luận và vận dụng quy định của pháp luật để giải quyết vấn đề. Quá trình  
sử dụng, người học có thể tiếp cận nội dung bằng các phương pháp sau:  
- Phương pháp tự nghiên cứu: Đối với cá nhân người học, để sử  
dụng có hiệu quả tài liệu này thì việc tự nghiên cứu vẫn là phương pháp  
chủ đạo và mang tính quyết định nhất. Để làm tốt việc này, cá nhân  
người học cần phải nắm các kiến thức căn bản và có thái độ nghiên cứu  
khoa học nghiêm túc. Mặt khác, tài liệu này có thể bao gồm các bản án  
hoặc tranh chấp cụ thể, do đó khi nghiên cứu sinh viên cần đọc kỹ các dữ  
kiện tình huống, nghiên cứu cách thức giải quyết vụ việc của cơ quan có  
6
thẩm quyền. Từ đó, có thể hình dung được bản chất của vấn đề và đưa ra  
hướng giải quyết cho riêng mình.  
1.3.3. Phương pháp học đối với nhóm sinh viên  
Quá trình học tập, giảng viên có thể yêu cầu nhóm sinh viên cùng  
hoạt động nghiên cứu. Phương pháp này có thể phát huy được sức mạnh  
tổng hợp của cả tập thể về tư duy, lập luận, phân tích để từ đó có thể  
thống nhất ý kiến của cả nhóm. Tuy nhiên, để có thể sử dụng có hiệu quả  
phương pháp làm việc nhóm khi giải quyết các bài tập tình huống được  
đưa ra trong Tài liệu Hướng dẫn giải quyết tình huống học phần Luật  
HN&GĐ thì nhóm sinh viên cần lưu ý các vấn đề sau:  
- Lập nhóm cộng tác: nhóm cộng tác có thể do giáo viên ấn định  
hoặc theo sự lựa chọn của sinh viên tùy thuộc với đặc điểm tình hình và  
yêu cầu khi sử dụng. Tuy nhiên, nhóm cộng tác thường nên chỉ gồm  
khoảng 4 - 5 sinh viên, vì nếu số lượng nhóm lớn sẽ không phát huy được  
các yếu tố tư duy của tất cả các thành viên.  
- Phương pháp tranh luận: bài tập tình huống được đưa ra sẽ xác  
định các chủ đề hoặc nội dung có định hướng. Do đó, dựa vào các vấn đề  
đã được gợi mở tất cả người học đều phải đưa ra quan điểm và chính kiến  
của mình. Người học trong nhóm có thể chia sẻ với nhau những gì mình  
nghĩ và lên ý tưởng cho việc giải quyết tình huống. Tuy nhiên, cũng cần  
chú ý rằng, nếu phương pháp làm việc nhóm được áp dụng tại lớp học thì  
cần chú ý về mặt thời gian. Để động viên khích lệ thái độ làm việc giảng  
viên có thể đánh giá kết quả làm việc vào thang điểm quá trình.  
- Phương pháp thuyết trình: kết quả làm việc nhóm sẽ được báo cáo  
viên của nhóm thuyết trình trước lớp. Tuy nhiên, báo cáo viên thông  
thường sẽ được chỉ định bằng một sinh viên tích cực và được tin tưởng  
nhất. Điều này dễ dẫn đến tình trạng không phát huy được yếu tố tập thể.  
Do đó, quá trình thảo luận nhóm sinh viên cần yêu cầu tất cả các thành  
viên nhóm đều tham gia và sẵn sàng báo cáo khi giáo viên yêu cầu. Mặt  
khác, việc báo cáo kết quả thảo luận nhóm cần nêu chủ điểm của vấn đề rõ  
ràng, căn cứ pháp lý mạch lạc từ đó chứng minh cho luận điểm của mình.  
7
1.4. Hƣớng dẫn một số kỹ năng thiết yếu cần có để sử dụng Tài liệu  
Hướng dẫn giải quyết tình huống học phần Luật Hôn nhân và gia đình  
1.4.1. Kỹ năng đọc giáo trình, sách chuyên khảo, bài viết trên các tạp  
chí chuyên ngành luật  
Hiện tại, phần lớn các cơ sở đào tạo luật trên cả nước đều có giáo  
trình hoặc sách chuyên khảo. Tuy nhiên, khi nghiên cứu về giáo trình  
hoặc sách chuyên khảo cũng như bài viết trên tạp chí, người học cần xác  
định rõ chủ đề nghiên cứu và tập trung cho chủ đề đó. Người học cần có  
dàn ý, đề cương cho từng vấn đề cụ thể; nghiên cứu kỹ nội dung mà tác  
giả lập luận về vấn đề từ đó đối chiếu so sánh bình luận dựa trên quan  
điểm của cá nhân. Giáo trình, sách chuyên khảo, bài viết trên tạp chí thực  
chất là cách nhìn nhận đánh giá về quy định của pháp luật về một lĩnh  
vực nhất định nào đó, do đó khi tiếp cận nghiên cứu các quan điểm của  
các tác giả, bản thân mỗi chúng ta đều có thể đánh giá để đưa ra quan  
điểm chính kiến hoặc ngay cả sự phản biện của riêng mình. Tuy nhiên,  
cũng cần phải thừa nhận rằng, các nguồn tài liệu nói trên thực sự rất cần  
thiết và là nguồn tài liệu quý giá để chúng ta có thể nhìn nhận đánh giá  
vấn đề đa chiều và toàn diện hơn.  
1.4.2. Kỹ năng phân tích và bình luận bản án/quyết định của cơ quan  
có thẩm quyền  
Kỹ năng phân tích và bình luận bản án/quyết định của cơ quan có  
thẩm quyền là một trong những kỹ năng khó nhưng hết sức cần thiết đối  
với người nghiên cứu luật nói chung. Để rèn luyện tốt kỹ năng này đòi  
hỏi người nghiên cứu phải có kiến thức chuyên sâu về luật chuyên ngành;  
am hiểu những vấn đề pháp lý, những quy phạm pháp luật được văn bản  
quy phạm pháp luật điều chỉnh. Trên cơ sở đó, người nghiên cứu tự mình  
đặt ra các vấn đề mà nội dung bản án/quyết định đề cập và từ đó đưa ra  
các nhận định về hướng giải quyết của vụ việc. Để làm được các vấn đề  
nêu trên, người phân tích và bình luận bản án/quyết định của cơ quan nhà  
nước có thẩm quyền cần trang bị cho mình hệ thống kiến thức pháp lý cơ  
bản, chuẩn bị chu đáo các văn bản pháp luật có liên quan đến vấn đề  
được đề cập.  
8
1.5. Định hƣớng kỹ năng giải quyết tình huống  
Đối với việc sử dụng tài liệu học tập Tài liệu Hướng dẫn giải quyết  
tình huống học phần Luật HN&GĐ thì việc vận dụng các kỹ năng xác  
định vấn đề và giải quyết tình huống là điều vô cùng quan trọng. Đặc  
biệt, mỗi một vụ việc phát sinh trong thực tế là một tình huống với những  
tình tiết khác nhau. Do đó, việc vận dụng các kỹ năng mềm trong việc  
phát hiện vấn đề, áp dụng quy phạm pháp luật để giải quyết các trường  
hợp cụ thể là rất cần thiết. Để giải quyết tốt các tình huống điển hình  
trong Tài liệu Hướng dẫn giải quyết tình huống học phần Luật HN&GĐ,  
người học cần thực hiện tốt các bước theo các định hướng sau:  
Bước 1: Đọc và nhận định nội dung tình huống.  
Bước 2: Phát hiện vấn đề pháp lý cần giải quyết.  
Bước 3: Tra cứu văn bản pháp luật và nội dung điều luật điều chỉnh  
quan hệ pháp luật cần giải quyết.  
Bước 4: Vận dụng quy phạm pháp luật để giải quyết tình huống.  
Bước 5. Đưa ra quyết định về việc giải quyết vấn đề.  
1.5.1. Đọc và nhận định nội dung tình huống  
Việc đọc kỹ nội dung tình huống giữ vai trò then chốt trong việc  
định hướng giải quyết tình huống điển hình. Trên cơ sở đọc kỹ nội dung  
người đọc mới có thể tiếp cận nội dung trọng tâm của vấn đề cần phải  
giải quyết. Điều đó có nghĩa là, đọc là bước đầu tiên để định hình tình  
huống pháp lý, khoanh vùng quan hệ pháp luật mà tình huống đặt ra, xác  
định chủ thể, khách thể, nội dung quan hệ pháp luật. Do đó, việc đọc nội  
dung tình huống là hết sức quan trọng. Bởi lẽ, nếu người học làm không  
tốt bước này, đọc qua loa, bỏ sót dữ kiện thì hệ quả có thể dẫn đến là toàn  
bộ vụ việc có thể bị nhận định sai, thiếu khách quan và việc giải quyết  
không phù hợp với quy định của pháp luật là điều khó tránh khỏi. Như  
vậy, đọc và phân tích tình huống được xem là bước tạo tiền đề cho việc  
tư duy định huống nhằm giải quyết các bước tiếp theo.  
1.5.2. Phát hiện vấn đề pháp lý cần giải quyết  
Phát hiện vấn đề và xác định vấn đề cần giải quyết là bước đòi hỏi  
9
người học trên cơ sở đã đọc kỹ nội dung ở bước 1 sẽ chỉ ra các chi tiết  
mang tính chất xác định “từ khoá” trong toàn bộ nội dung của vụ việc.  
Với công việc này người học sẽ phải tư duy để xác định rõ tình huống  
yêu cầu giải quyết vấn đề pháp lý nào? Những tình tiết nào liên quan đến  
vấn đề cần giải quyết cần phải chú ý? Ví dụ, cùng là một vụ án về  
HN&GĐ nhưng có thể đương sự chỉ yêu cầu giải quyết quan hệ nhân  
thân, không tranh chấp về quan hệ tài sản và con cái hoặc cũng có thể chỉ  
tranh chấp về nhân thân và quyền nuôi con chứ không tranh chấp về tài  
sản. Do vậy, quá trình nghiên cứu đòi hỏi người học phải xác định rõ cần  
phải giải quyết vấn đề gì trong tình huống pháp lý đó. Khi xác định được  
quan hệ pháp luật cần giải quyết, người học cần tiếp tục tư duy các vấn  
đề khác có liên quan. Ví dụ, nếu đương sự tranh chấp về tài sản thì cần  
xem xét tài sản tranh chấp bao gồm những cái gì, nguồn gốc của tài sản  
được hình thành như thế nào,… để từ đó có những định hướng phù hợp.  
1.5.3. Tra cứu văn bản pháp luật và nội dung điều luật điều chỉnh  
quan hệ pháp luật cần giải quyết  
Một trong những yếu tố làm nên giá trị thuyết phục cho bản  
án/quyết định của Tòa án hoặc cơ quan pháp luật khác là việc áp dụng  
các căn cứ pháp lý trong quá trình giải quyết vụ việc. Do đó, việc vận  
dụng các căn cứ pháp lý một cách chính xác góp phần quyết định đến sự  
thành công trong việc giải quyết một tình huống về HN&GĐ nói riêng  
cũng như các vụ việc pháp lý nói chung. Một quan hệ pháp luật cần giải  
quyết trong tình huống có thể được điều chỉnh bởi nhiều văn bản quy  
phạm pháp luật khác nhau như Luật, Nghị định, Nghị quyết, Thông tư,  
Thông tư liên tịch… Do vậy, trước hết người học cần phải xác định rõ  
vấn đề cần giải quyết được văn bản nào điều chỉnh? Ví dụ, đối với việc  
giải quyết quan hệ nhân thân trong vụ án HN&GĐ có thể áp dụng Luật  
HN&GĐ2014; Nghị quyết 35/2000 – QH10 ngày 9/6/2000 của Quốc hội  
khoá X hay Thông tư liên tịch 01/2016/BTP – TANDTC – VKSNDTC  
ngày 6/1/2016. Sau khi tra cứu văn bản điều chỉnh, người học cần xác  
định Điều, Khoản của văn bản quy phạm pháp luật về quan hệ pháp luật  
cần giải quyết. Việc viện dẫn Điều, Khoản của văn bản quy phạm pháp  
luật cần chú ý viện dẫn nội dung điều chỉnh trực tiếp vấn đề cần làm sáng  
10  
tỏ, tránh các trường hợp chỉ nêu Điều Luật mà không phân tích nội dung.  
Điều này sẽ làm giảm giá trị chứng minh bởi một điều luật có thể đề cập  
đến nhiều nội dung khác nhau cho nhiều quan hệ pháp luật khác nhau.  
Mặt khác, khi tra cứu nội dung quy phạm pháp luật mà quy phạm pháp  
luật đó dẫn chiếu đến một quy phạm pháp luật khác thì người nghiên cứu  
cũng cần chú ý viện dẫn để giải quyết. Ví dụ, Khoản 2 Điều 34 Luật  
HN&GĐ 2014 quy định về việc đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng  
đối với tài sản chung có nội dung như sau: “Trong trường hợp giấy  
chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng tài sản chỉ ghi  
tên một bên vợ hoặc chồng thì giao dịch liên quan đến tài sản này được  
thực hiện theo quy định tại Điều 26 của Luật này; nếu có tranh chấp về  
tài sản đó thì được giải quyết theo quy định tại khoản 3 Điều 33 của Luật  
này”. Với nội dung này, khi giải quyết quan hệ tài sản người học cần phải  
xác định tài sản được đề cập thuộc trường hợp được điều chỉnh tại Điều  
26 hay Điều 33 của Luật HN&GĐ 2014 để quyết định lựa chọn hướng  
giải quyết.  
1.5.4. Vận dụng quy phạm pháp luật để giải quyết tình huống  
Sau khi nghiên cứu và phát hiện vấn đề cần giải quyết trong tình  
huống và tra cứu văn bản pháp luật điều chỉnh có liên quan, người học  
cần tiếp tục thực hiện việc vận dụng quy phạm pháp luật để giải quyết  
tình huống. Điều quan trọng nhất trong công đoạn này là người học cần  
sử dụng thuần thục kỹ năng lập luận – một trong những kỹ năng tối cần  
thiết của một người hoạt động trong lĩnh vực pháp lý. Khi vận dụng quy  
phạm pháp luật để giải quyết tình huống, người học cần giải quyết các  
câu hỏi: (i) sự kiện pháp lý nào gắn liền với quy định pháp luật vừa được  
tra cứu (ii) vì sao dùng quy phạm pháp luật này mà không phải quy phạm  
pháp luật khác tương tự để giải quyết vấn đề (iii) cùng một quy phạm  
pháp luật này nhưng có thể có nhiều hướng giải quyết khác nhau không  
(iv) có phản biện nào khác cho hướng giải quyết vấn đề không... Quá  
trình tư duy này sẽ tạo tiền đề cho người học đưa ra được quyết định cuối  
cùng của mình trong việc giải quyết tình huống. Ví dụ, trong một vụ án  
về HN&GĐ mà các đương sự có tranh chấp về quyền nuôi con có nội  
dung như sau: “Chị An và anh Bắc có đơn yêu cầu ly hôn và cả hai người  
11  
đều có nguyện vọng nuôi cháu Quân (30 tháng tuổi). Anh Bắc làm công  
nhân nhà máy dệt thu nhập hàng tháng khoảng 6 triệu đồng. Chị An là  
tiếp viên hàng không có thu nhập hàng tháng khoảng 25 triệu đồng”. Với  
những dữ kiện trên, thông thường chúng ta hay dựa vào độ tuổi của con  
và điều kiện kinh tế của các bên để quyết định giao con cho mẹ nuôi theo  
quy định tại Điều 81 Luật HN&GĐ 2014: “Con dưới 36 tháng tuổi được  
giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện  
để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ  
có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con”. Tuy nhiên, với tình  
huống này, chúng ta cũng có thể quan tâm đến các dữ kiện pháp lý khác,  
ví dụ như với điều kiện công việc của chị An có thể thường xuyên di  
chuyển, thời gian ở nhà chăm sóc con không nhiều, việc giao con cho chị  
An nuôi có thể không đảm bảo sự phát triển tốt nhất cho trẻ,... để chúng  
ta thay đổi quyết định cuối cùng trong việc giải quyết vụ án. Như vậy,  
vận dụng quy phạm pháp luật để giải quyết là việc người học cần tư duy  
và đưa ra những lập luận logic về tình huống. Quá trình này, đòi hỏi  
chúng ta cần có các kiến thức lý luận chuyên sâu về pháp luật chuyên  
ngành; am hiểu những vấn đề pháp lý, những quy phạm pháp luật được  
văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh. Trên cơ sở đó, người nghiên cứu  
tự mình đặt ra các vấn đề mà nội dung bản án/quyết định đề cập và từ đó  
đưa ra các nhận định về hướng giải quyết của vụ việc.  
1.5.5. Đưa ra quyết định về việc giải quyết vấn đề  
Đưa ra quyết định về việc giải quyết vấn đề là bước cuối cùng  
trong việc giải quyết tình huống. Trên cơ sở của việc phân tích nội dung,  
áp dụng căn cứ pháp lý, người học phải đưa ra nhận định cuối cùng để  
chốt lại vấn đề. Quyết định về việc giải quyết vấn đề là sự thể hiện quan  
điểm của cá nhân người nghiên cứu. Do đó, quyết định của người nghiên  
cứu cần phải có sức thuyết phục. Để làm được điều này, người học cần  
chú ý hai vấn đề sau: thứ nhất, người học không đưa ra kết luận nóng vội  
khi chưa đảm bảo thực hiện tốt các bước trên, chưa có cơ sở pháp lý  
vững chắc; thứ hai, người học cần giải quyết triệt để, lần lượt các quan hệ  
pháp luật đặt ra đã được xác định ở bước 2, tránh các trường hợp bỏ sót  
yêu cầu của tình huống.  
12  
Chƣơng 2  
QUAN HỆ PHÁP LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH  
2.1. Xác định quan hệ tranh chấp, yêu cầu  
2.1.1. Mục tiêu đánh giá  
2.1.1.1. Về kiến thức  
- Nắm được các quy định của pháp luật để xác định được lĩnh vực  
cần giải quyết; quan hệ pháp luật mà đương sự có tranh chấp hoặc yêu  
cầu; xác định chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật HN&GĐ; xác định  
điều kiện tham gia quan hệ pháp luật HN&GĐ của chủ thể.  
- Định hướng giải quyết các quan hệ pháp luật về HN&GĐ.  
2.1.1.2. Về kỹ năng  
- Kỹ năng đọc và nhận định nội dung tình huống.  
- Kỹ năng tìm tài liệu phục vụ cho mục đích nghiên cứu.  
2.1.2. Lý thuyết  
Quan hệ pháp luật HN&GĐ là các quan hệ xã hội được các quy  
phạm pháp luật HN&GĐ điều chỉnh. Như vậy, các quan hệ pháp luật  
phát sinh trong lĩnh vực HN&GĐ là các mối quan hệ giữa các chủ thể có  
quan hệ hôn nhân, huyết thống và nuôi dưỡng. Các mối quan hệ này gắn  
liền với các đặc trưng như được xây dựng mang tính lâu dài bền vững;  
dựa trên nền tảng của yếu tố tình cảm là yếu tố chủ đạo; quan hệ nhân  
thân giữa các chủ thể không gắn liền với tài sản; quan hệ tài sản không  
mang tính đền bù ngang giá. Đồng thời, đối với các quan hệ HN&GĐ  
nếu có pháp sinh tranh chấp hoặc yêu cầu thì không áp dụng thời hiệu.  
Căn cứ làm phát sinh, thay đổi và chấm dứt quan hệ pháp luật  
HN&GĐ bao gồm các sự kiện pháp lý phát sinh trong lĩnh vực HN&GĐ.  
Các sự kiện pháp lý này là các hành vi của chủ thể hoặc các sự biến mà  
trên cơ sở đó quan hệ pháp luật HN&GĐ được hình thành, thay đổi hoặc  
là căn cứ để chấm dứt các quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể tham gia.  
13  
2.1.3. Tình huống và hướng dẫn giải quyết tình huống  
Tình huống 11  
a. Nội dung tình huống  
Năm 1999, chị Nông Thị Nọong và anh Toàn Văn Inh chung sống  
với nhau như vợ chồng, có tổ chức đám cưới nhưng không đăng ký kết  
hôn. Trước khi chung sống, chị Nọong và anh Inh đều đã lập gia đình và  
mỗi người đều đã có một con riêng. Quá trình chung sống, anh chị sinh  
được hai con chung là cháu Thụ (2004) và cháu Vui (2006). Do mâu  
thuẫn giữa con chung và con riêng của vợ chồng, anh Inh thường xuyên  
chửi bới và đuổi chị Nọong ra khỏi nhà. Ngày 26/5/2006, chị Nọong và  
anh Inh đã lập văn bản tự phân chia tài sản. Chị Nọong được hưởng 3,7  
triệu đồng. Chị đã sử dụng số tiền này để vào Sài Gòn làm ăn. Tháng  
12/2016, chị Nọong trở về và cho rằng việc phân chia tài sản vào ngày  
26/5/2006 là không khách quan, vì khi đó chị bị ép buộc ký vào biên bản  
phân chia tài sản. Tháng 2/2017, chị Nọong yêu cầu Tòa án giải quyết  
quan hệ nhân thân giữa anh chị và yêu cầu chia đôi toàn bộ số tài sản  
hiện có bao gồm 40 triệu đồng; 03 con bò và 01 ngôi nhà anh chị tạo lập  
được trong quá trình chung sống. Về con chung, chị yêu cầu được nuôi  
một con chung và không yêu cầu anh Inh cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiên,  
anh Inh không đồng ý với yêu cầu chia tài sản của chị Noọng vì anh cho  
rằng mọi tài sản giữa anh và chị Nọong đã được chia xong vào ngày  
26/5/2006, việc chia tài sản này là khách quan. Sau khi chia tài sản, chị  
Noọng không có trách nhiệm với con cái, bỏ vào Nam, tiền chị đã tiêu  
hết. Về con chung, anh yêu cầu được nuôi hai con chung là cháu Thụ và  
cháu Vui, anh không yêu cầu chị Nọong phải cấp dưỡng nuôi con chung.  
Dựa vào tình huống trên hãy:  
Xác định quan hệ pháp luật mà các bên tranh chấp/yêu cầu.  
b. Hướng dẫn giải quyết  
Bước 1: Đọc và nhận định nội dung tình huống  
- Năm 1999, Anh Inh và Chị Nọong tổ chức đám cưới sau đó về  
chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn.  
1
Quyết định Giám đốc thẩm Số: 79/2010/DS-GĐT Ngày: 26/02/2010 của Tòa  
Dân sự Tòa án nhân dân tối cao.  
14  
- Quá trình chung sống, anh chị có hai người con là cháu Thụ  
(2004) và cháu Vui (2006). Thời điểm các bên có đơn yêu cầu Tòa án  
giải quyết, cả hai cháu đều chưa thành niên.  
- Tại thời điểm khởi kiện, tài sản hiện có của anh chị bao gồm 40  
triệu đồng; một ngôi nhà và ba con bò. Trước khi khởi kiện tại Tòa án,  
anh chị đã tự lập văn bản thỏa thuận chia số tài sản vào năm 2006. Trong  
đó, chị Nọong đã được hưởng 3,7 triệu đồng.  
Bước 2: Phát hiện vấn đề pháp lý cần giải quyết  
- Về quan hệ hôn nhân: Năm 1992, Anh Inh và chị Nọong chung  
sống với nhau như vợ chồng, có tổ chức đám cưới mà không đăng ký kết  
hôn. Nay anh chị mâu thuẫn nên yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết.  
- Về quan hệ con cái: Anh chị có hai con chung là cháu Thụ và  
cháu Vui, cả hai cháu đều chưa thành niên. Anh Inh có nguyện vọng nuôi  
cả hai cháu, không đề nghị cấp dưỡng. Tuy nhiên, chị Nọong đề nghị mỗi  
người nuôi một con chung.  
- Về quan hệ tài sản: Ngày 26/5/2006, chị và anh Inh đã tự phân  
chia tài sản. Tuy nhiên, chị Nọong cho rằng việc phân chia tài sản này là  
không khách quan do chị bị ép ký vào biên bản. Do đó, chị yêu cầu Tòa  
án chia lại toàn bộ tài sản chung của anh chị bao gồm 40 triệu đồng; một  
ngôi nhà và ba con bò. Anh Inh không đồng ý vì cho rằng tài sản giữa  
anh chị đã được chia xong.  
Bước 3. Tra cứu văn bản pháp luật và nội dung điều luật điều  
chỉnh quan hệ pháp luật cần giải quyết  
- Điều 8 Luật HN&GĐ 1986 quy định: “Việc kết hôn do Ủy ban  
nhân dân xã, phường, thị trấn nơi thường trú của một trong hai người kết  
hôn công nhận và ghi vào sổ kết hôn theo nghi thức do Nhà nước quy  
định.... Mọi nghi thức kết hôn khác đều không có giá trị pháp lý”.  
- Điểm b Nghị quyết 35/2000 – QH10 quy định: “Nam và nữ  
chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03 tháng 1 năm 1987 đến  
ngày 01 tháng 1 năm 2001, mà có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của  
Luật này thì có nghĩa vụ đăng ký kết hôn trong thời hạn hai năm, kể từ  
ngày Luật này có hiệu lực cho đến ngày 01 tháng 1 năm 2003; trong thời  
hạn này mà họ không đăng ký kết hôn, nhưng có yêu cầu ly hôn thì Tòa  
15  
án áp dụng các quy định về ly hôn của Luật HN&GĐ năm 2000 để  
giải quyết.  
Từ sau ngày 01 tháng 1 năm 2003 mà họ không đăng ký kết hôn thì  
pháp luật không công nhận họ là vợ chồng”.  
- Điều 15 Luật HN&GĐ 2014 quy định: “Quyền, nghĩa vụ giữa  
nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng và con được giải quyết theo  
quy định của Luật này về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con”.  
- Điều 16 Luật HN&GĐ 2104 quy định: “Giải quyết quan hệ tài  
sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ  
chồng mà không đăng ký kết hôn,... được giải quyết theo thỏa thuận giữa  
các bên; trong trường hợp không có thỏa thuận thì giải quyết theo quy  
định của Bộ Luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên  
quan. Việc giải quyết quan hệ tài sản phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp  
pháp của phụ nữ và con; công việc nội trợ và công việc khác có liên  
quan để duy trì đời sống chung được coi như lao động có thu nhập”.  
Bước 4. Vận dụng quy phạm pháp luật để giải quyết tình huống  
Năm 1992, Anh Inh và chị Nọong chung sống với nhau như vợ  
chồng, chỉ tổ chức cưới hỏi mà không đăng ký kết hôn. Do đó, căn cứ  
vào Điều 8 Luật HN&GĐ 1986 xác định việc xác lập quan hệ hôn nhân  
của anh chị không có giá trị pháp lý.  
Căn cứ điểm b Nghị quyết 35/2000 – QH10, anh Inh và chị Nọong  
chung sống với nhau như vợ chồng năm 1992 (tức trong khoảng thời gian  
từ ngày 3/1/1987 đến ngày 1/1/2001) do đó anh chị có nghĩa vụ đăng ký  
kết hôn trước ngày 1/1/2003 nhưng anh chị cũng không thực hiện. Vì  
vậy, về mặt pháp lý, anh chị không phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa  
vợ chồng.  
Quá trình chung sống, anh chị có con chung và tài sản chung. Các  
quan hệ này được pháp luật bảo vệ. Căn cứ Điều 15 Luật HN&GĐ 2014:  
“Quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con trong trường hợp nam, nữ chung  
sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn,... được giải  
quyết theo quy định của Luật này về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và  
con”, và Điều 16 Luật HN&GĐ 2014:“Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp  
đồng... được giải quyết theo thỏa thuận giữa các bên; trong trường hợp  
16  
không có thỏa thuận thì giải quyết theo quy định của Bộ luật dân sự và các  
quy định khác của pháp luật có liên quan”. Như vậy, Tòa án có thẩm quyền  
áp dụng các quy định của pháp luật dân sự và HN&GĐ để giải quyết.  
Bước 5. Đưa ra quyết định về việc giải quyết vấn đề  
Như vậy, trong tình huống trên các quan hệ pháp luật mà đương sự  
có tranh chấp, yêu cầu bao gồm:  
- Yêu cầu không công nhận quan hệ hôn nhân.  
- Tranh chấp về quyền nuôi con.  
- Tranh chấp về quan hệ tài sản.  
Tình huống 22  
a. Nội dung tình huống  
Năm 1999, anh An có hộ khẩu thường trú tại quận HB, thành phố  
HP đăng ký kết hôn với chị Phương có hộ khẩu thường trú tại thành phố  
MT, tỉnh TG. Năm 2000, anh An và chị Phương mua một căn nhà tại  
quận 1, thành phố H và sống chung tại đây cho tới tháng 12/2005 nhưng  
chưa chuyển hộ khẩu. Năm 2006, anh An hùn vốn mua chung với anh  
Cường một lô đất tại quận BT, thành phố H trị giá 2 tỷ đồng. Để hùn vốn  
mua đất, anh An vay 500 triệu đồng của anh Kiên nhưng không cho chị  
Phương biết. Do mâu thuẫn vợ chồng từ tháng 1/2006 chị Phương bỏ về  
sinh sống tại thành phố MT thuộc tỉnh TG (có đăng ký tạm trú). Ngày  
11/7/2016, anh An gửi đơn đến Tòa án có thẩm quyền yêu cầu ly hôn với  
chị Phương và yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng. Anh An vẫn  
chưa trả được nợ vay nên anh Kiên có đơn yêu cầu vợ chồng anh An khi  
ly hôn phải trả nợ cho anh.  
Dựa vào tình huống trên, hãy:  
Xác định quan hệ pháp luật có tranh chấp hoặc yêu cầu trong  
trường hợp trên.  
b. Hướng dẫn giải quyết tình huống  
- Đọc và nhận định nội dung tình huống: Anh An và chị Phương  
đăng ký kết hôn năm 1999 tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Quá  
2Bản án số: 254/2016/DSPT Ngày: 07/9/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.  
17  
trình chung sống, anh chị mua được một căn nhà tại quận 1, thành phố H.  
Đồng thời, anh Anh hùn vốn mua chung với anh Cường một lô đất tại  
quận BT, thành phố H trị giá 2 tỷ đồng. Để xác lập giao dịch dân sự này,  
anh An vay của anh Kiên 500 triệu đồng (năm 2006) nhưng chị Phương  
không biết. Do mâu thuẫn, nên ngày 11/7/2016, anh An gửi đơn đến Tòa  
án có thẩm quyền yêu cầu ly hôn với chị Phương và yêu cầu chia tài sản  
chung của vợ chồng. Do anh An vẫn chưa trả được nợ vay nên khi anh  
An yêu cầu ly hôn, anh Kiên có đơn yêu cầu vợ chồng anh An phải trả nợ  
cho anh Kiên.  
- Phát hiện vấn đề pháp lý cần giải quyết:  
+ Về quan hệ nhân thân: Anh An nộp đơn yêu cầu ly hôn với  
chị Phương.  
+ Về quan hệ tài sản:  
Anh An yêu cầu chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân  
của anh An và chị Phương bao gồm một ngôi nhà tại quận 1, thành phố H  
và một lô đất tại quận BT, thành phố H.  
Anh Kiên yêu cầu vợ chồng anh An, chị Phương trả nợ số  
tiền 500 triệu cho anh Kiên.  
- Tra cứu văn bản pháp luật và nội dung điều luật điều chỉnh quan  
hệ pháp luật cần giải quyết:  
Điều 5, 6, 7, 8 Luật HN&GĐ 1986 về điều kiện kết hôn và  
đăng ký kết hôn.  
Điều 25 Luật HN&GĐ 2000 về trách nhiệm liên đới của vợ  
chồng trong trường hợp một bên thực hiện giao dịch dân sự.  
Điều 27 Luật HN&GĐ 2000 về tài sản chung của vợ chồng.  
Điều 28 BLTTDS 2015 về những tranh chấp về HN&GĐ  
thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND.  
Điều 56 Luật HN&GĐ 2014 về ly hôn theo yêu cầu của một bên.  
- Vận dụng quy phạm pháp luật để giải quyết tình huống:  
Anh An và chị Phương đăng ký kết hôn năm 1999 không vi  
phạm các điều kiện kết hôn và thẩm quyền đăng ký kết hôn theo quy định  
tại Điều 5, 6, 7, 8 Luật HN&GĐ 1986 về điều kiện kết hôn và đăng ký  
kết hôn do đó quan hệ hôn nhân của anh chị được công nhận là hợp pháp.  
18  
Năm 2016, anh An có đơn yêu cầu ly hôn. Do đó, căn cứ vào  
Điều 56 Luật HN&GĐ 2014 về ly hôn theo yêu cầu của một bên và Điều  
28 BLTTDS 2015 về những tranh chấp về HN&GĐ thuộc thẩm quyền  
giải quyết của TAND, Tòa án thụ lý đơn yêu cầu ly hôn của anh An để  
giải quyết theo thủ tục chung.  
Anh An có yêu cầu chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân  
bao gồm ngôi nhà tại quận 1, thành phố H (mua năm 2000) và một lô đất  
tại quận BT, thành phố H (mua năm 2006). Đồng thời, anh Kiên có đơn  
yêu cầu thanh toán nghĩa vụ trả nợ do anh An có xác lập hợp đồng vay tài  
sản với anh Kiên khi mua đất (năm 2006). Do đó, Tòa án áp dụng các  
quy định tại Điều 27 Luật HN&GĐ 2000 về tài sản chung của vợ chồng  
và Điều 25 Luật HN&GĐ 2000 về trách nhiệm liên đới của vợ chồng  
trong trường hợp một bên thực hiện giao dịch dân sự để giải quyết.  
- Đưa ra quyết định về việc giải quyết vấn đề: Từ những lập luận  
trên, kết luận quan hệ pháp luật mà các bên có tranh chấp bao gồm:  
Tranh chấp về ly hôn.  
Tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn.  
2.2. Xác định các yếu tố cấu thành của quan hệ pháp luật  
2.2.1. Mục tiêu đánh giá  
2.2.1.1. Về kiến thức  
- Xác định được các yếu tố cấu thành của quan hệ pháp luật, bao  
gồm: chủ thể, khách thể và nội dung.  
- Thông hiểu quy định về điều kiện về chủ thể tham gia vào quan  
hệ pháp luật HN&GĐ; nhận thức các vấn đề về lợi ích mà các bên hướng  
tới khi tham gia quan hệ pháp luật HN&GĐ cũng như xác định các quyền  
và nghĩa vụ giữa các chủ thể.  
- Phân biệt các yếu tố cấu thành của quan hệ pháp luật HN&GĐ và  
các yếu tố cấu thành quan hệ pháp luật dân sự.  
2.2.1.2. Về kỹ năng  
- Rèn luyện được kỹ năng phân tích, đánh giá, nhận định vấn đề.  
- Rèn luyện kỹ năng lập luận.  
19  
2.2.2. Lý thuyết  
Cũng như bất kỳ quan hệ pháp luật nào khác, cấu thành của quan  
hệ pháp luật HN&GĐ bao gồm ba yếu tố: chủ thể, khách thể và nội dung.  
Chủ thể tham gia vào quan hệ pháp Luật HN&GĐ cần đảm bảo năng lực  
chủ thể bao gồm năng lực pháp luật và năng lực hành vi. Theo đó, khi  
xem xét yếu tố về điều kiện chủ thể đáng chú ý là hai vấn đề: (i) chủ thể  
trong quan hệ pháp luật HN&GĐ chỉ có thể là cá nhân, (ii) yếu tố về độ  
tuổi và khả năng nhận thức của cá nhân khi tham gia vào quan hệ pháp  
luật; khách thể của quan hệ pháp Luật HN&GĐ là các lợi ích vật chất  
hoặc tinh thần mà các chủ thể tham gia hướng tới hoặc đạt được như tình  
nghĩa vợ chồng; tình cảm giữa cha, mẹ và con hoặc giữa các thành viên  
khác trong gia đình; các hành vi của cha mẹ thể hiện việc chăm sóc, giáo  
dục con; lợi ích về tài sản như tài sản chung của vợ chồng... Nội dung  
của pháp Luật HN&GĐ bao gồm các quyền và nghĩa vụ nhân thân và  
quyền và nghĩa vụ tài sản giữa các chủ thể.  
2.2.3. Tình huống và hướng dẫn giải quyết tình huống  
Tình huống 33  
a. Nội dung tình huống  
Chị Thương và anh Tú kết hôn hợp pháp vào năm 2007 tại UBND  
phường Cẩm Sơn, thị xã CP, tỉnh QN. Thời gian đầu, anh chị sống hạnh  
phúc, có một người con chung là cháu Trâm Anh (sinh ngày 20/7/2014).  
Năm 2015, anh chị phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân dẫn đến mâu  
thuẫn do anh Tú đi làm thường xuyên về nhà muộn, chơi bời rồi về nhà  
gây sự, đánh đập chị Thương. Do đó, tháng 4/2015, anh chị có đơn yêu  
cầu Tòa án thị xã CP giải quyết ly hôn. Anh chị có tranh chấp về 01 ngôi  
nhà 03 tầng, diện tích sử dụng 240m2 tại số nhà 36, phố Tân Bình, tổ 7,  
khu Minh Tiến A, phường CB, thành phố CP, QN. Nguồn gốc ngôi nhà là  
do ông Ngân – bố anh Tú chuyển tiền cho anh chị để mua vào năm 2010 (có  
giấy tờ do ông Ngân chuyển vào tài khoản chị Thương 1 tỷ 700 triệu tại  
Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh thị xã CP). Ngoài  
ra, năm 2013, vợ chồng anh chị có vay của anh Ngô Trung Kiên số tiền 40  
3 Quyết định Giám đốc thẩm số 05/DS – GĐT ngày 17/1/2014 về việc Hôn nhân và gia  
đình của Tòa án nhân dân tối cao.  
20  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 97 trang myanh 24701 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tài liệu hướng dẫn giải quyết tình huống học phần Luật hôn nhân và gia đình", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftai_lieu_huong_dan_giai_quyet_tinh_huong_hoc_phan_luat_hon_n.pdf